TIỂU LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG ĐỀ TÀI: Bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980.
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
0O0
TIỂU LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980.
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Hùng
Lớp học phần: QH-2021-E TCNH CLC 3 – THL1057
Nhóm thực hiện: 02
1 21050363 Cung Phương Anh
2 21050387 Nguyễn Thị Minh Châu
3 21050390 Nguyễn Hồ Vân Chi
4 21050394 Nguyễn Mạnh Chiến
5 21050410 Lê Nguyễn Minh Đức
6 21050426 Phạm Thị Hồng Hạnh
7 21050447 Bùi Mai Hương
8 21050462 Nguyễn Diệu Linh
9 21050478 Nguyễn Thị Quỳnh Mai
10 21050511 Đoàn Thị Hồng Nhung
11 21050523 Phạm Lê Anh Quân
12 21050539 Trịnh Thanh Thảo
13 21050547 Hoàng Anh Thư
Trang 2Hà Nội - 2021
LỜI MỞ ĐẦU
Lời đầu tiên cho chúng em xin được giới thiệu, chúng em đến từ nhóm 02 Thông qua bài tập này, nhóm chúng em xin được trình bày về bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam qua các bản Hiến pháp 1946, 1959 và 1980 Trong quá trình làm bài, chúng em không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân mình vẫn chưa nhìn ra được Mong thầy có những góp ý, nhận xét để giúp những bài tập sau của chúng em làm được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khắc vào dòng chảy lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, biểu tượng của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do Trải qua 75 năm hình thành và phát triển, đến nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước
ta đã và đang vượt qua rất nhiều thử thách, khó khăn, không ngừng phát triển và hoàn thiện vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Cũng như các nhà nước khác, bộ máy của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tạo nên bởi hệ thống các cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn khác nhau từ trung ương đến cơ sở, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Việt Nam Do đó, nghiên cứu tổ chức bộ máy nhà nước thông qua các bản Hiến pháp để thấy sự vận động của bộ máy nhà nước qua lịch sử sẽ có vai trò, ý nghĩa to lớn trong phục vụ xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước và cải cách bộ máy hành chính nhà nước
Page 2
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIẾN PHÁP 1946 3
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI 3
II HỆ THỐNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 3
1 Các cấp hành chính của bộ máy nhà nước 3
2 Hệ thống các cơ quan thành lập của bộ máy nhà nước 3
2.2 Hệ thống các cơ quan chấp hành: 3
2.3. Hệ thống các cơ quan tư pháp : 4
III ĐẶC ĐIỂM BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI KÌ NÀY: 4
CHƯƠNG II:BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIẾN PHÁP 1959 7
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI 7
II HỆ THỐNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 7
1 Các cấp hành chính của bộ máy nhà nước 7
2 Hệ thống các cơ quan thành lập của bộ máy nhà nước 7
2.1 Các cơ quan đại diện: 8
2.2 Các cơ quan chấp hành: 8
2.3 Các cơ quan xét xử: 8
2.4 Hệ thống các cơ quan kiểm sát: 8
III ĐẶC ĐIỂM BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI KÌ NÀY: 8
CHƯƠNG III:BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIẾN PHÁP 1980.11 I HOÀN CẢNH RA ĐỜI 11
II HỆ THỐNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 11
1 Các cấp hành chính của bộ máy nhà nước 11
2 Hệ thống các cơ quan thành lập của bộ máy nhà nước 11
2.1 Các cơ quan đại diện 12
2.2 Các cơ quan chấp hành 12
2.3 Các cơ quan xét xử 13
2.4 Hệ thống các cơ quan kiểm sát 13
III ĐẶC ĐIỂM BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI KÌ NÀY 13
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Page 2
Trang 4CHƯƠNG I: BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
HIẾN PHÁP 1946
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI: [1]
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bác Hồ đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình
Ngày 1 tháng 01 năm 1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập
Ngày 09 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa 1 thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, gọi là Hiến pháp năm 1946
II HỆ THỐNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC: [2]
1 Các cấp hành chính của bộ máy nhà nước:
Theo Hiến pháp 1946, bộ máy Nhà nước được phân thành 5 cấp quản lý hành chính: cấp Trung ương, cấp Bộ (Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ), cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, cấp huyện, cấp xã và cấp tương đương
2 Hệ thống các cơ quan thành lập của bộ máy nhà nước:
Bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp năm 1946 có ba hệ thống: Hệ thống các
cơ quan đại diện, hệ thống các cơ quan chấp hành và hệ thống các cơ quan tư pháp (chưa có viện kiểm sát)
2.1 Hệ thống các cơ quan đại diện:
Nghị viện nhân dân (tức Quốc hội khóa I): là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất ở trung ương được thành lập bằng con đường bầu cử theo nguyên tắc tự do, dân chủ, bỏ phiếu kín có nhiệm kì 3 năm
Hội đồng nhân dân: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
(không có ở cấp huyện và bộ) có nhiệm kì 3 năm
2.2 Hệ thống các cơ quan chấp hành:
[1] “Phân tích bộ máy nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn Hiến Pháp – Lê Trường Minh”
https://luatminhkhue.vn/phan-tich-bo-may-nha-nuoc-viet-nam-qua-cac-giai-doan-hien-phap.aspx
[2] “Bộ máy nhà nước qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 – Wiki Luật”
Trang 5
Chính phủ: Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất, trong đó có Chủ
tịch nước là người đứng đầu Chính phủ, Phó chủ tịch nước và nội các, ủy ban hành chính các cấp Chính phủ do nghị viện bầu ra chịu trách nhiệm trước nghị
viện
Các ủy ban hành chính ở địa phương: do hội đồng nhân dân cùng cấp
bầu ra Ủy ban hành chính bộ do hội đồng nhân dân các tỉnh trong bộ bầu ra Ủy ban hành chính huyện do hội đồng nhân dân các xã trong huyện đó bầu ra Ủy ban hành chính phải chịu trách nhiệm trước hội đồng nhân dân cùng cấp và ủy ban hành chính cấp trên Ủy ban hành chính huyện chịu trách nhiệm trước ủy ban hành chính tỉnh
2.3 Hệ thống các cơ quan tư pháp :
Tòa án nhân dân tối cao
Toà phúc thẩm
Toà đệ nhị cấp (xét xử hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm)
Toà sơ cấp
Thẩm phán của các tòa án (kể cả thẩm phán buộc tội và thẩm phán xét xử) đều do chính phủ bổ nhiệm và hoạt động độc lập với các cơ quan nhà nước khác
III ĐẶC ĐIỂM BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI KÌ NÀY: [3]
Thứ nhất bộ máy nhà nước Việt Nam thời kì Hiến pháp năm 1946 là bộ máy nhà nước dân chủ cộng hòa và mang tính chất Hiến pháp tư sản Giai đoạn này tồn tại nhiều đảng phái chính trị tham gia công việc của nhà nước như Quốc hội khoá I được bầu ngày 6 tháng 1 năm 1946 có 57% đại diện của các đảng phái chính trị khác nhau : Việt Minh, Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội và khá nhiều
[3] “Phân tích bộ máy nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn Hiến Pháp – Lê Trường Minh”
https://luatminhkhue.vn/phan-tich-bo-may-nha-nuoc-viet-nam-qua-cac-giai-doan-hien-phap.aspx
Page 4
Trang 6đại biểu không đảng phái Cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước đã phản ánh khá rõ thuyết phân quyền, tương tự bộ máy nhà nước tư sản: Chủ tịch nước do Nghị viện bầu ra và đứng đầu Chính phủ song có địa vị khá độc lập với cơ quan bầu
ra mình, thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm song hoạt động theo nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật Các quy định của Hiến pháp năm 1946 cho thấy cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước giai đoạn này chưa mang những đặc điểm của
bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Hiến pháp năm 1946 ra đời là sự khẳng định mạnh mẽ về mặt pháp lý chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh nên bản Hiến pháp 1946 không được chính thức công bố. Chỉ 40 ngày sau khi hiến pháp được thông qua, đảng chính phủ ta đã tiến lên vùng núi tây bắc để tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ với thực dân pháp, đêm 19/12/1946, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, cả nước đứng lên kháng chiến Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu Do đó Nghị viện theo Hiến pháp năm 1946 cũng chưa được bầu và theo đó các cơ quan khác như Chủ tịch nước, Chính phủ cũng chưa được thành lập theo Hiến pháp năm 1946 Thực tế các quyết định của nhà nước bấy giờ đều dựa vào sắc lệnh của bác Hồ chủ tịch chính phủ được thành lập từ trước 1946
Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 có vị trí và quyền hạn hết sức đặc biệt trong bộ máy nhà nước Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ thay vì như hiện tại người đứng đầu chính phủ lại là thủ tướng chính phủ Chủ tịch nước do Nghị viện bầu với tỉ lệ phiếu 2/3, nhưng trong khi Nghị viện có nhiệm kì 3 năm thì Chủ tịch nước lại có nhiệm kì 5 năm và có thể được tái cử (Điều thứ 45 hiến pháp 1946: “Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viện bỏ phiếu thuận Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa số tương đối Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại Trong vòng một tháng trước khi hết nhiệm kỳ của Chủ tịch, Ban thường vụ phải triệu
Page 5
Trang 7tập Nghị viện để bầu Chủ tịch mới.”) Theo hiến pháp 1946 Nghị Viện có thể bất tín nhiệm với các nội các, bộ trưởng, thủ tướng (Điều thứ 54: “Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì phải từ chức Toàn thể Nội các không phải chịu liên đới trách nhiệm về hành vi một Bộ trưởng Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các Nhưng Nghị viện chỉ có thể biểu quyết về vấn đề tín nhiệm khi Thủ tướng, Ban thường vụ hoặc một phần tư tổng số Nghị viện nêu vấn đề ấy ra Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn
đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần thứ nhất là 48 giờ Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải từ chức.”), tuy nhiên đối với chủ tịch nước thì vẫn chưa có quy định cụ thể nào về việc nếu Nghị Viện bất tín nhiệm với thủ tưởng Và đặc biệt hơn nữa chủ tịch nước sẽ không phải chịu trách nhiệm nào trừ tội phản quốc (Điều thứ 50, Hiến pháp 1946), còn nếu phạm phải tội này, Nghị viện sẽ lập một Toà án đặc biệt để xét xử Việc bắt bớ và truy tố trước Toà án một nhân viên Nội các về thường tội phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ Đây là một điểm rất đặc biệt của chủ tịch nước theo bản hiến pháp 1946 mà ở các bản hiến pháp sau không có Hiến pháp năm 1946 đã sang tạo một chế định chủ tịch nước được cho là khá độc đáo mang hình ảnh cả một vị tổng thống của nước tư sản để phù hợp hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam đáng chú ý là chủ tịch nước có quyền phủ quyết tương đối các dự luật của Quốc hội, thảo luận và biểu quyết lại về sự bất tín nhiệm với Nội các
Page 6
Trang 8CHƯƠNG II: BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
HIẾN PHÁP 1959
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI:
[4] Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh
để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Hiến pháp năm 1946
đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhưng so với tình hình và nhiệm
vụ cách mạng mới cần được bổ sung, thay đổi Ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp sửa đổi
và ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh công bố Hiến pháp Hiến pháp năm 1959, là sự khẳng định nước Việt Nam là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau, tổ chức theo chính thể Nhà nước dân chủ cộng hòa, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân, các quyền tự do dân chủ được bảo đảm
II HỆ THỐNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC: [5]
1 Các cấp hành chính của bộ máy nhà nước:
Bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức theo Hiến pháp năm 1959 gồm có 4 cấp hành chính: Trung ương, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và khu tự trị
2 Hệ thống các cơ quan thành lập của bộ máy nhà nước:
Đến bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1959, bộ máy Nhà nước
ta gồm có 4 hệ thống, vẫn bao gồm: Hệ thống các cơ quan đại diện, hệ thống các cơ quan chấp hành, hệ thống các cơ quan xét xử và có thêm hệ
[4] “Sự ra đời và phát triển của nền lập hiến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nguyễn Bảo
Ngọc”, http://www.bocongan.gov.vn/vanban/Pages/van-ban-moi.aspx?ItemID=211
[5] “Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 - Huỳnh Thu Hương”,
https://phaptri.vn/bo-may-nha-nuoc-theo-hien-phap-1946-1959-1980-1992/ Page 7
Trang 9thống cơ quan kiểm sát Hệ thống cơ quan kiểm sát là một hệ thống mới trong Bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp 1959
[4] “Sự ra đời và phát triển của nền lập hiến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nguyễn Bảo
Ngọc”, http://www.bocongan.gov.vn/vanban/Pages/van-ban-moi.aspx?ItemID=211
[5] “Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 - Huỳnh Thu Hương”,
https://phaptri.vn/bo-may-nha-nuoc-theo-hien-phap-1946-1959-1980-1992/ Page 8
Trang 102.1 Các cơ quan đại diện:
Quốc hội: là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam
dân chủ Cộng hòa, có nhiệm kỳ 4 năm
Hội đồng nhân dân: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do
Nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương
2.2 Các cơ quan chấp hành:
Hội đồng chính phủ: do Quốc hội bầu ra, là cơ quan chấp hành của
Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Trong Hội đồng Chính phủ bao gồm các thành viên là Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, các chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Tổng giám đốc ngân hàng nhà nước
Ủy ban hành chính các cấp: do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra là
cơ quan chấp hành tại địa phương được thành lập ở ba cấp tỉnh, huyện, xã
2.3 Các cơ quan xét xử:
Toà án được đổi thành Toà án nhân dân và được thành lập theo ba cấp:
Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Tòa án nhân dân cấp huyện
2.4 Hệ thống các cơ quan kiểm sát:
Các cơ quan kiểm sát là một hệ thống mới được thành lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức thành ba cấp:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử…
[6] “Phân tích bộ máy nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn Hiến Pháp – Lê Trường Minh”
https://luatminhkhue.vn/phan-tich-bo-may-nha-nuoc-viet-nam-qua-cac-giai-doan-hien-phap.aspx
Page 9
Trang 11III ĐẶC ĐIỂM BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI KÌ NÀY: [6]
[6] “Phân tích bộ máy nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn Hiến Pháp – Lê Trường Minh” https://luatminhkhue.vn/phan-tich-bo-may-nha-nuoc-viet-nam-qua-cac-giai-doan-hien-phap.aspx
Page 10
Trang 12 Thứ nhất, trong hiến pháp bắt đầu có sự ghi về vai trò lãnh đạo của Đảng
Lao động Việt Nam Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1959 có viết: “Từ năm
1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Lao
động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới Dưới sự
lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà.” Mặc dù mới được ghi nhận như một thực tế lịch sử mà chưa được quy
định ưong một điều riêng như trong các bản hiến pháp sau này, có thể nói, vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bắt đầu có cơ sở hiến định
Thứ hai, bộ máy nhà nước Việt Nam đã bắt đầu được xây dựng theo mô
hình Xã hội Chủ nghĩa Điều 2 của Hiến pháp 1959 có viết: “Nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà, thành lập và củng cố do thắng lợi mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong Cách mạng tháng Tám vẻ vang và Kháng chiến anh dũng, là một nước dân chủ nhân dân.”.
Điều này chứng tỏ rằng nước ta tiếp tục được quy định theo chính thể dân chủ cộng hòa giống với Hiến pháp năm 1946 Tuy nhiên song song với đó, bộ máy nhà nước đã bắt đầu mang những dấu hiệu của bộ máy nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Như đã đề cập, vai trò của Đảng Lao động Việt Nam đã được ghi nhận
khẳng định Bên cạnh đó, Hiến pháp 1959 cũng quy định rõ tại điều 43 rằng:
“Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ”
và điều 44: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp của nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà.” Tất cả những quyền hạn của Quốc hội đều được nêu tại điều 50 như
bầu, giám sát hoạt động và bãi miễn các chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà
nước Ngoài ra tại điều 71 có khẳng định rằng: “ Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.” Điều này cho thấy cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước đã bắt đầu áp dụng nguyên tắc quyền lực thống nhất theo mô hình
Page 11