1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ sở lý thuyết và thực tiễn phân cấp ngân sách nhà nước ở việt nam

34 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý thuyết và thực tiễn phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản lý tài chính công
Thể loại Bài tiểu luận giữa kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 4,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách củađơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân”, do vậy, ngânsách nhà nước là một thể thống nhất được tạo thành bởi các bộ ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

-  

-BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ

MÔ HỌC: QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG

ĐỀ TÀI: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN PHÂN CẤP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước (NSNN) nói chung có vai trò quan trọng trong việc đảm bảocác nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh và các hoạtđộng của bộ máy Nhà nước trên phạm vi cả nước Cùng với quá trình quản lý thuNSNN thì việc quản lý chi NSNN cũng có vị trí rất quan trọng trong quản lý điều hànhNSNN góp phần ổn định phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong điều kiệnđất nước hội nhập kinh tế thế giới Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, khinguồn thu ngân sách còn hạn chế thì việc quản lý các khoản chi NSNN là rất cần thiết.Quản lý chi NSNN nhằm đảm bảo tính hiệu quả của các khoản chi từ nguồn vốn NSNN

và cân đối với nguồn thu của NSNN

Ngân sách nhà nước không thể nào chỉ là một cấp ngân sách đơn lẻ bởi theo nhưĐiều 6 Luật Ngân Sách Nhà Nước năm 2015: “Ngân sách nhà nước gồm ngân sáchTrung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách củađơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân”, do vậy, ngânsách nhà nước là một thể thống nhất được tạo thành bởi các bộ phận cấu thành là cáckhâu ngân sách độc lập nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong quátrình thực hiện các nhiệm vụ thu chi của mình Hiện nay, Việt Nam ta tổ chức hệ thốngngân sách dựa vào hệ thống các đơn vị hành chính

 Từ sau Cách mạng tháng 8 đến trước năm 1967: nước ta chỉ có một cấp ngânsách duy nhất (đó là ngân sách nhà nước), không có sự phân chia thẩm quyền giữa cáccấp chính quyền nhà nước trong quản lí ngân sách nhà nước

 Đến 1967: trong Nghị Định số 118/CP ngày 01/08/1967 Chính phủ mới cho ra

đời chế độ phân cấp quản lí ngân sách Vậy tại sao cần phải có chế độ phân cấp trong quản lí ngân sách ?

Thực tiễn đã khẳng định vai trò của luật ngân sách trong mọi lĩnh vực của đờisống kinh tế- xã hội Hoạt động ngân sách nhà nước dần được quan tâm không chỉ từphía các cơ quan quản lí Nhà nước mà còn từ phía người dân và các doanh nghiệp Bêncạnh đó cũng qua thực tiễn và một số phản hồi của người dân và các doanh nghiệp, luật

đã bộc lộ nhiều bất cập không chỉ giữa văn bản luật với thực tế mà còn có những bấtcập trong công tác chỉ đạo điều hành Và một trong những nguyên nhân dẫn đến bất cập

đó là việc quyết định phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách và phângiao nhiệm vụ quyền hạn giữa các cơ quan trong bộ máy quản lí nhà nước vẫn còn tồntại nhiều nhược điểm cần phải xem lại Chính vì thế trong hệ thống ngân sách nhà nướccần phải có sự phân cấp để quản lí

Trang 3

Phân cấp Ngân sách Nhà nước được đặt ra trong bối cảnh nguồn lực tài chính củaQuốc gia có giới hạn nhất định nhưng phải làm thế nào để thỏa mãn tốt các nhu cầu cầnthiết nhằm đạt được các mục tiêu quản lý kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

Xuất phát từ thực tế đó, nhóm em chọn đề tài “Cơ sở lý thuyết và thực tiễn phân cấp Ngân sách nhà nước ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận giữa kỳ Từ đó, đưa ra các

giải pháp mang tính chất định hướng góp phần hoàn thiện chế độ phân cấp quản lýNSNN đảm bảo sử dụng đúng, hiệu quả nguồn thu NSNN

Công tác quản lý chi ngân sách nhà nước là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiềungành, nhiều cấp và đơn vị sử dụng ngân sách, đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứucông phu và toàn diện Các giải pháp phải có tính hệ thống, xuyên suốt, cần phải có sựsửa đổi, bổ sung từ các cơ chế chính sách phù hợp từ Luật đến văn bản hướng dẫn Mặc

dù đã rất cố gắng trong nghiên cứu, song những kết quả nghiên cứu không thể tránhkhỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, bổsung của cô giáo để đề tài hoàn thiện hơn

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Hệ thống hóa có bổ sung và hoàn thiện những cơ sở khoa học của phân cấp quản

lý ngân sách nhà nước đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo

xu thế hội nhập ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Namhiện nay, có tham chiếu với kinh nghiệm ở các nước, đề xuất phương hướng và hệthống giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đáp ứng yêu cầu đổimới đất nước trong giai đoạn sắp tới

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước từ Trung ươngxuống các địa phương

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi cả nước, chủ yếutập trung về cơ chế, quan hệ giữa các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, không

đi vào quy định cụ thể, chi tiết

CHƯƠNG I:

Trang 4

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài.

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu vềNSNN và quản lý chi NSNN Mỗi công trình nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng,phạm vi nghiên cứu và phương pháp tiếp cận khác nhau, có thể nêu một số công trìnhnghiên cứu được công bố trong nước như sau:

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

 ThS Lê Thị Mai Liên (2020), nghiên cứu về đề tài Hiệu quả chi ngân sách nhànước của Việt Nam và giải pháp tái cấu trúc chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn

2020 – 2025

Kết quả nghiên cứu:

(1) Đề tài đã khái quát được một số vấn đề chung cơ sở lý luận về hiệu quả chiNSNN trong mối quan hệ với tái cấu trúc chi NSNN gồm: (i) Một số vấn đề về chiNSNN; (ii) Hiệu quả chi NSNN; (iii) Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả chi NSNN vàtái cấu trúc chi NSNN; (iv) Nguyên tắc, yêu cầu đối với tiêu chí đánh giá hiệu quả chiNSNN Theo đó hiệu quả chi NSNN chính là việc phân bổ, sử dụng nguồn lực NSNNsao cho đạt được các mục tiêu của các khoản chi NSNN đề ra Các tiêu chí để đánh giáhiệu quả chi NSNN bao gồm: Đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xãhội; tiết kiệm; tính bền vững của chính sách chi tiêu NSNN; chi tiêu NSNN có ảnhhưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế; tính kịp thời, tính đầy đủ trong chi NSNN.(2) Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về hiệu quả chi ngân sách vàthực hiện tái cấu trúc chi NSNN gắn với hiệu quả chi NSNN từ đó rút ra một số bài họckinh nghiệm cho Việt Nam: Từng bước cơ cấu lại chi NSNN theo hướng tăng tu trọngchi đầu tư ở mức hợp lý, giảm dần tu trọng chi thường xuyên gắn với đổi mới mạnh mẽkhu vực sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ và tinh giản bộ máy, biên chế, thực hiệncải cách tiền lương Đổi mới quản lý chi NSNN phù hợp với kinh tế thị trường địnhhướng XHCN; Phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường; Rà soát cácchính sách xã hội, an sinh xã hô yi để bảo đảm sử dụng NSNN tập trung và có hiệu quảcao; Đẩy mạnh thực hiện khoán chi và tiền tệ hóa, đưa vào thu nhập một số chính sách,chế độ theo tiêu chuẩn, định mức chi Nâng cao hiệu quả chi NSNN, từng bước triểnkhai quản lý chi NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ gắn với thực hiện các mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội của đất nước

(3) Đề tài đã đánh giá thực trạng và hiệu quả chi NSNN ở Việt Nam giai đoạn

2011 - 2020 trên các khía cạnh: (i) Thực trạng thể chế, chính sách phân bổ và quản lýchi ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 - 2019; (ii) Đánh giá hiệu quả chi ngân sách nhà

Trang 5

nước Qua đó cho thấy, những vấn đề đặt ra đối với chi NSNN trong thời gian tới cụthể: (i) Cơ cấu chi đầu tư - chi thường xuyên còn bất cập Xét theo nội dung, thì chilương, các khoản có tính chất lương và chi thực hiện chính sách an sinh xã hội chiếmtrên 60% tổng chi thường xuyên, bình quân khoảng 35 - 37% tổng chi ngân sách giaiđoạn 2011 - 2015; (ii) Tình trạng phân bổ, giao vốn chậm, giải ngân không đạt dự toán,dẫn tới chuyển nguồn lớn; đầu tư phân tán, kéo dài, không dứt điểm vẫn diễn ra; số vốn

bố trí đầu tư cho các công trình trọng điểm quốc gia, chương trình mục tiêu (là đốitượng ưu tiên) vẫn còn thấp; (iii) Việc tách bạch chi đầu tư - chi thường xuyên khó bảođảm các định mức kinh tế - kỹ thuật, giảm hiệu quả, tuổi thọ của công trình, dự án đầu

tư Hiệu quả đầu tư công còn thấp, tái cấu trúc chi đầu tư công chậm, phân bổ dàn trải,giải ngân không đạt kế hoạch, số chuyển nguồn lớn và kéo dài làm tăng chi phí; (iv)

Cơ cấu chi theo phân cấp ngân sách còn bất cập Tu trọng các khoản chi trực tiếp củangân sách trung ương có xu hướng giảm, đặc biệt chi đầu tư phát triển ngân sách trungương (sau khi bổ sung cho địa phương) giai đoạn 2011 - 2015 bình quân chỉ còn khoảng26,8% tổng chi đầu tư nguồn NSNN (so với mức bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là34,5%) Đây là nguyên nhân dẫn đến đầu tư phân tán, hiệu quả chưa cao; hạn chế khảnăng đầu tư dứt điểm các công trình trọng yếu

(4) Đề tài đã làm rõ ảnh hưởng từ bối cảnh trong và ngoài nước giai đoạn 2021

-2025 đến tái cấu trúc chi NSNN và thực trạng, hiệu quả chi NSNN ở Việt Nam giaiđoạn 2011 - 2020, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp tái cấu trúc NSNN nhằm nângcao hiệu quả chi NSNN

 Nghiên cứu trong nước Nguyễn Quang Hưng (2015), nghiên cứu đổi mới kiểmsoát chi ngân sách thường xuyên của chính quyền địa phương các cấp qua Kho bạc Nhànước

Tác giả đã hệ thống hoá và phân tích rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chi thườngxuyên NSNN, kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Tác giả cũng tập hợpkinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên của Cộng hoà Pháp, Canada, Singapore,Malaysia, Cộng hoà liên bang Đức và kinh nghiệm tổ chức thực hiện các sáng kiến cảicách NS ở các quốc gia thuộc OECD, rút ra 5 bài học kinh nghiệm có thể áp dụng choViệt Nam Trong luận án cũng trình bày thực trạng chi và kiểm soát chi thường xuyênNSNN qua KBNN của chính quyền địa phương các cấp tại Việt Nam giai đoạn 2010-

2015 Trên cơ sở đó tác giả đề xuất các quan điểm, định hướng và sáu nhóm giải phápnhằm đổi mới kiểm soát chi thường xuyên NSNN của chính quyền địa phương các cấpqua KBNN tại Việt Nam gồm: đổi mới tổ chức chi NS thường xuyên; đổi mới quy trìnhthực hiện chi NS thường xuyên của chính quyền địa phương các cấp qua KBNN; hoànthiện hệ thống công cụ sử dụng trong chi NS thường xuyên; Đổi mới công tác tổ chứcthực hiện cơ chế, chính sách kiểm soát chi NS thường xuyên; Nâng cao năng lực, trình

Trang 6

độ của công chức kiểm soát chi; kiểm soát chi NS thường xuyên theo phương thức quản

lý chương trình, dự án trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn

 Tô Thiện Hiền (2012), Nghiên cứu về nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh AnGiang giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến 2020

Tác giả góp phần lý giải về khoa học những lý luận cơ bản về hiệu quả quản lýNSNN và các hình thức quản lý NS tại Tỉnh An Giang, làm sáng tỏ bản chất, chứcnăng, vai trò của NSNN và phân tích các quan điểm về hiệu quả quản lý NSNN, xácđịnh rõ cơ chế phân cấp quản lý NSNN trong giai đoạn hiện nay Tác giả dùng phươngpháp thống kê, so sánh, tổng hợp và phân tích số liệu thu, chi NSNN để minh họa về kếtquả đạt được cùng hạn chế của thu - chi NSNN Tỉnh An Giang Trên cơ sở phân tíchthực trạng hiệu quả quản lý NS của Tỉnh cùng kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới

và một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian qua, trên cơ sở mục tiêu vàquan điểm quản lý thu, chi NS ở An Giang, tác giả đề ra các giải pháp hữu hiệu gópphần nâng cao hiệu quả quản lý NSNN của Tỉnh trong thời gian tới

 Tào Hữu Phùng và Nguyễn Công Nghiệp (1992) Tác phẩm “Đổi mới ngânsách nhà nước” do NXB Thống kê Hà Nội, xuất bản năm 1992 đã khái quát những nhậnthức chung về NSNN, đánh giá những chính sách NSNN hiện hành và đề xuất giải phápđổi mới NSNN để sử dụng có hiệu quả trong tiến trình đổi mới nền kinh tế đất nước

 Phát huy vai trò của ngân sách nhà nước – góp phần phát triển kinh tế Việt Nam

- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Thao – Hà Nội 2007 Luận án đã làm rõ vaitrò của ngân sách nhà nước; đề xuất những đổi mới trong việc gắn vai trò ngân sách vớiđổi mới cơ chế kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá

 Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách nhà nước cho các cấp chính quyền địaphương – Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Đào Xuân Liên – TP HCM 2007 Luậnvăn đã đề cập sâu về vấn đề phân cấp ngân sách nhà nước, những mặt hiệu quả, chủđộng, tích cực cũng như hạn chế, tồn tại của các chính quyền cấp dưới sau phân cấptheo Luật ngân sách nhà nước ra đời năm 2002

 Đổi mới quản lý ngân sách địa phương ở các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Quốc Vinh – 2009 Luận án đã tập trung vào các giảipháp đổi mới quản lý ngân sách, như đổi mới nhận thức từ các địa phương, đổi mới tổchức bộ máy, phương tiện quản lý Đặc biệt, Luận án đã thu thập số liệu và đưa ra cácgiải pháp cho các địa phương trong cả vùng, khu vực có tương đồng về vị trí địa lý vàđiều kiện tự nhiên

- Hoàn thiện phân cấp quản lý thu chi ngân sách nhà nước đối với chính quyềnđịa phương qua thực tiễn khảo sát tại tỉnh Quảng Trị – Luận văn thạc sĩ quản lý hànhchính công của tác giả Trần Hồng Hạnh – Hà Nội 2007 Luận văn đã đề cập sâu về vấn

Trang 7

đề phân cấp đối với lĩnh vực thu chi ngân sách nhà nước tại địa phương (Quảng Trị) từkhi áp dụng Luật ngân sách nhà nước năm 2002.

 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam – Luận văn thạc sĩ quản lýhành chính công của tác giả Lê Toàn Thắng – Hà Nội 2006 Luận văn đã hệ thống hóangân sách nhà nước qua từng giai đoạn, gắn hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính với

mô hình quản lý ngân sách, đồng thời đưa ra các giải pháp vận hành phân cấp giữatrung ương và các địa phương

 Quản lý Tài chính công ở Việt Nam - Đề tài khoa học của tác giả Nguyễn NgọcHiến – Hà Nội 2003 Đề tài đã đưa ra nhận thức, lý luận chung về quản lý tài chínhcông, kinh nghiệm quản lý tài chính công ở một số nước trên thế giới Thực trạng thu,chi ngân sách ở Việt Nam qua các thời kỳ Từ đó tập tập trung vào các giải phảp đổimới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách; Hoàn thiện quy trình quản lý ngân sách nhànước

 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam – Bài viết của PGS.TS LêChi Mai trên Tạp chí quản lý nhà nước đã tập trung vào thực trạng phân cấp quản lý vàđưa ra những định hướng tăng cường phân cấp quản lý ngân sách cho chính quyền địaphương

1.1.2 Những lý thuyết có tính kế thừa và khoảng trống trong nghiên cứu.

a) Những lý thuyết có tính kế thừa

Cần rút ra những lý thuyết có tính kế thừa từ các nghiên cứu nói trên để sử dụng cho bàinghiên cứu

Những vấn đề lý luận cơ bản về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Cụ thể là:

- Tổng quan và vai trò của ngân sách nhà nước

- Khái niệm và nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

- Mục đích, nguyên tắc, vai trò của phân cấp quản lý NSNN.

Mặt khác, những phần lý thuyết có tính kế thừa này cũng đã trình bày khái quát

về kinh nghiệm thực hiện sự phân cấp về quản lý thu chi ngân sách, kể cả vấn đề vay nợ

và trợ cấp cân đối ngân sách của ngân sách Trung ương đối với ngân sách địa phương.Đây là cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện ởcác phần sau

b) Khoảng trống trong nghiên cứu.

Cần rút ra những hạn chế từ các nghiên cứu nói trên

1.2 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Trình bày rõ nguồn gốc lý thuyết liên quan, nhất là tên tác giả, năm công bố, và luận điểmcủa lý thuyết;

Trang 8

Trên cơ sở kế thừa các lý thuyết và kết quả của các công trình nghiên cứu nói trên, tác giảđưa ra khung lý thuyết/phân tích phục vụ cho nghiên cứu của mình

1.2.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước

Khái niệm Ngân sách Nhà nước

Ngân sách nhà nước là dự toán hằng năm về toàn bộ các nguồn tài chính đượchuy động cho nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó, nhằm bảo đảm thực hiệnchức năng của Nhà nước do Hiến pháp quy định Đó là nguồn tài chính tập trung quantrọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia Ngân sách nhà nước là tiềm lực tài chính,

là sức mạnh về mặt tài chính của nhà nước Quản lý và điều hành ngân sách nhà nước

có tác động chi phối trực tiếp đến các hoạt động khác trong nền kinh tế

Tại Việt Nam, theo Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 thì "Ngân sách Nhà nước làtoàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnquyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của Nhà nước"

Ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính cơ bản để hình thành, phân phối, sửdụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, để mở rộng sản xuất và thỏa mãncác nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Ngân sách nhà nước là một công cụ tài chính đểnhà nước phân phối thu nhập quốc dân, thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội,

sử dụng hợp lý các tài nguyên trong các ngành sản xuất xã hội

Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từhoạt động kinh tế của nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, cáckhoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, các khoản do nhà nướcvay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đối ngân sách và bao gồm các khoản chi: chiphát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động bộ máynhà nước; chi trả của nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định củapháp luật

Vai trò của Ngân sách Nhà nước

Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất trong nền kinh tế, có mốiquan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân và có mối quan hệkhăng khít với tất cả các khâu của cả hệ thống tài chính, đặc biệt là tài chính doanhnghiệp và tín dụng

Ngân sách nhà nước không thể tách rời với vai trò của nhà nước Nhà nước quản lý

và sử dụng ngân sách để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình

Vai trò của NSNN được thể hiện qua các điểm sau:

Thứ nhất: Vai trò NSNN trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thể hiện ở các mặtchủ yếu: Xác định một cách có khoa học, đặt ra một tỉ lệ huy động tổng sản phẩm xã

Trang 9

hội vào NSNN, lấy đó làm căn cứ điều chỉnh quan hệ nhà nước với doanh nghiệp, dân

cư trong phân phối tổng sản phẩm xã hội Thực hiện việc điều chỉnh này, vừa bảo đảmnhu cầu của nhà nước, vừa phải bảo đảm nhu cầu của doanh nghiệp và dân cư, đáp ứngnhu cầu tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư phát triển

Xác định quan hệ thuế trong tổng sản phẩm, bảo đảm nhà nước có nguồn thu thườngxuyên, ổn định, thực hiện điều tiết hợp lý lợi ích trong nền kinh tế quốc dân

Xác định các hình thức huy động ngoài thuế trên thị trường tài chính, dưới các hìnhthức công trái quốc gia, trái phiếu kho bạc nhằm trang trải bội chi NSNN

Xác định vai trò quyền sở hữu tài sản công và tài nguyên quốc gia để giải quyêtnguồn huy động

Thứ hai: Vai trò của ngân sách nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế thểhiện:

+ Trong thu NSNN: Nhà nước thực hiện chính sách thuế như là công cụ hữu hiệutrong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, có tác dụng phục vụ và có hiệu quả tronggiải phóng các tiềm năng của các thành phần kinh tế, góp phần đổi mới cơ chế quản lý

và cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sắp xếp lại sản xuất, thúc đẩy hạch toán kinh tế, thựchiện sự bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế để phát triển cólợi cho nền kinh tế

+ Trong chi NSNN: Ngân sách thực hiện việc đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế

-xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư khai thác tài nguyên, sức lao động, thịtrường; đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, các công trình trọng điểm, các cơ sởkinh tế then chốt có khả năng tạo ra sự chuyển biến tốt trong phát triển kinh tế mà khuvực tư nhân không có khả năng hoặc không muốn đầu tư

Thông qua quá trình chi ngân sách, Nhà nước kiềm chế đẩy lùi lạm phát và bình ổn giá

cả, ổn định tiền tệ, ổn định đời sống nhân dân Ngân sách nhà nước đóng một vai trò quantrọng trong quan hệ cung cầu tiền tệ để ổn định và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; qua thu chingân sách tác động quan hệ cung cầu về tiền tệ

Thứ ba: Vai trò của ngân sách trong ổn định chính trị, bảo vệ thành quả cáchmạng, cụ thể:

Vai trò của ngân sách trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, trong ổn định và pháttriển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho ổn định chính trị Thôngqua thu chi ngân sách, không ngừng hoàn thiện bộ máy nhà nước, phát huy vai trò của

bộ máy nhà nước trong việc quản lý mọi lĩnh vực của đất nước, bảo đảm an ninh quốcphòng, bảo vệ và phát triển những thành tựu đạt được của sự nghiệp cách mạng.Thứ tư là vai trò kiểm tra của ngân sách, thể hiện:

Thông qua ngân sách nhà nước kiểm tra quá trình phát triển kinh tế quốc dân,cũng như các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm thúc đẩy, phát hiện và khai

Trang 10

thác tiềm năng kinh tế, kiểm tra bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản nhà nước, chống thấtthoát lãng phí, kiểm tra việc chấp hành luật pháp về NSNN, ku luật tài chính, bảo đảmtrật tự ku cương trong hoạt động tài chính.

Thứ năm: Vai trò của ngân sách nhà nước là tiền đề vật chất quan trọng đối vớihoạt động của nền hành chính quốc gia nói chung và đối với hoạt động của chính quyềnmỗi cấp địa phương, thể hiện:

Ngân sách nhà nước trước tiên có thể thấy rõ là một công cụ tài chính bất kỳ củamột nhà nước nào, thực hiện sự tác động trực tiếp đến hoạt động của bộ máy nhà nướcvừa tác động gián tiếp đến nền kinh tế xã hội thông qua những chủ trương, chính sáchcủa Nhà nước Nền hành chính quốc gia với tư cách là một nhánh quyền lực nhà nướcthực hiện chức năng hành pháp Với chức năng ấy, nền hành chính có liên quan tới tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và tới mọi công dân Để thực hiện sự tác động trựctiếp hay gián tiếp ấy, công cụ được sử dụng đó là luật pháp và nguồn lực tài chính quốcgia được sử dụng chủ yếu để thực hiện đó là ngân sách nhà nước Không có ngân sáchnhà nước, nền hành chính khó có thể thực hiện chức năng “phục vụ và hướng dẫn” cáccông dân của đất nước mình Thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước đó làhai công cụ để các nhà quản lý hành chính thực hiện sứ mạng: Thu NSNN là quá trìnhđộng viên nguồn lực trong xã hội vào tay nhà nước và chi NSNN là quá trình phân bổnguồn lực đã tập trung từ xã hội ra xã hội để thực hiện các chức năng của nhà nước.Không có ngân sách nhà nước, nền hành chính không có công cụ để tác động đến

xã hội để thực hiện các mục tiêu quản lý cũng như không có nguồn lực để thực hiện cácmục tiêu đó

Các mô hình quản lý ngân sách Nhà nước

Hệ thống Ngân sách Nhà nước là tổng thể các cấp Ngân sách, giữa chúng có mốiquan hệ hữu cơ với nhau đã được xác định bởi sự thống nhất về cơ sở kinh tế - chính trị,bởi pháp chế và các nguyên tắc tổ chức của bộ máy hành chính Nhà nước

Hệ thống Ngân sách Nhà nước được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính

Có hai mô hình tổ chức hệ thống hành chính đó là: mô hình Nhà nước thống nhất (hayphi liên bang) hoặc mô hình Nhà nước liên bang

Nhà nước thống nhất là Nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quanquyền lực, cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn vịhành chính gồm tỉnh (thành phố) trực thuộc trung ương, huyện (quận), xã (phường, thịtrấn), Mô hình Nhà nước này có tính tập trung quyền lực cao ở cấp trung ương vàthường tổ chức bộ máy thành hai cấp lớn là cấp trung ương và cấp địa phương Nhà nước liên bang là Nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại.Nhà nước liên bang có chủ quyền chung của Nhà nước liên bang và đồng thời mỗi nướcthành viên cũng có chủ quyền riêng Nhà nước liên bang không có tính tập trung bằng

Trang 11

Nhà nước phi liên bang nhưng quyền lực cho các bang được mở rộng ra nhiều Xuất phát từ đó, cũng tồn tại hai mô hình tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước.

Hệ thống Ngân sách Nhà nước ở các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chếNhà nước thống nhất hay phi liên bang như Anh, Pháp, Ý, Nhật; hệ thống Ngân sáchNhà nước bao gồm 2 cấp Ngân sách đó là:

- Ngân sách trung ương

- Ngân sách địa phương

Theo mô hình này, dựa trên quan điểm coi ngân sách nhà nước là duy nhất vàthống nhất Nhà nước chỉ có một ngân sách Ngân sách này do chính phủ trung ươngquản lý và quyết định sử dụng Tuy nhiên, để phục vụ cho mục đích và yêu cầu quản lýngân sách nhà nước, chính phủ trung ương có thể ủy quyền cho các cấp chính quyền địaphương thực hiện một số nghiệp vụ cần thiết Tuy nhiên, việc phê duyệt dự toán, quyếttoán hoặc cân đối thu chi ngân sách nhà nước trên địa bàn vẫn do nhà nước trung ươngđảm nhận Mô hình này không thừa nhận sự tồn tại độc lập của ngân sách địa phương

Mô hình này có ưu điểm là:

- Tập trung được toàn bộ các nguồn thu vào tay nhà nước trung ương để bố trí

chi tiêu hợp lý cho các nhu cầu cần thiết cảu đất nước

- Khắc phục được các biểu hiện cục bộ địa phương và tình trạng bất hợp lý về

các nguồn thu và nhiệm vụ chi của địa phương

Hạn chế của mô hình này là:

- Không phát huy được tính chủ động của địa phương trong việc khai thác nguồn thu

và bố trí kinh phí phù hợp để giải quyết các nhu cầu chi trên địa bàn

- Tạo ra tư tưởng u lại, thụ động, trông chờ của các địa phương vào sự phân bổ

ngân sách của trung ương

- Khi bộ máy quản lý nhà nước trung ương yếu kém, bảo thủ, trì trệ, tệ quan liêu

nặng nề thì việc thực thi mô hình này sẽ kém hiệu quả

Ở các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế Nhà nước liên bang như

Mỹ, Đức, Canađa, Thụy Sĩ, Malaysia; hệ thống Ngân sách Nhà nước được tổ chức theo

3 cấp đó là:

- Ngân sách liên bang

- Ngân sách bang

- Ngân sách của các cấp phụ thuộc liên bang

Mô hình này dựa trên quan điểm ngược lại, cho rằng mỗi cấp chính quyền nhànước phải có ngân sách riêng, độc lập trong hệ thống ngân sách nhà nước thống nhất.Tuy nhiên, sự thống nhất này là sự thống nhất của các khâu độc lập trong một hệ thống,chứ không phải là sự thống nhất trong một cá thể duy nhất (nhà nước trung ương) Theo

mô hình này, ngoài ngân sách trung ương do chính quyền Nhà nước trung ương quản lý

Trang 12

và quyết định sử dụng, còn tồn tại các ngân sách địa phương do chính quyền địaphương các cấp quản lý và sử dụng.

Ưu điểm của mô hình này là:

- Chính quyền địa phương có thể thực hiện những khoản thu và chi có khối

lương nhỏ, phân tán tại các địa phương

- Phân cấp cho địa phương sẽ tạo điều kiện cho chính quyền trung ương tập

trung sức vào những nhiệm vụ quản lý tài chính vĩ mô và thực hiện những nhiệm vụ thuchi quan trọng

- Tăng cường quyền hạn, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc

chủ động khai thác các nguồn thu và đảm nhận những nhiệm vụ chi được giao

- Xóa bỏ tình trạng địa phương thụ động, u lại hoặc trông chờ và trung ương.

Hạn chế của mô hình này là:

- Bản thân việc xác định giao cho địa phương nguồn thu và nhiệm vụ chi nào

Nội dung Ngân sách Nhà nước

Thu Ngân sách Nhà nước

Về mặt pháp lý, thu ngân sách nhà nước bao gồm những khoản tiền nhà nướchuy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước

Theo cách phân loại phổ biến thì thu Ngân sách Nhà nước bao gồm thuế, lệ phí,phí và các khoản thu khác

- Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cá nhân, doanhnghiệp cho Nhà nước đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Các cá nhân, doanhnghiệp là người được hưởng các lợi ích từ chi tiêu Ngân sách Nhà nước và họ có thunhập nên có nghĩa vụ trích một phần thu nhập nộp cho Ngân sách Nhà nước, có thểbằng hình thức trực tiếp (thuế đánh vào thu nhập) hoặc gián tiếp (thuế VAT, thuế xuấtnhập khẩu, ) Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc; không hoàn trả trực tiếp màhoàn trả gián tiếp dưới hình thức người chịu thuế được hưởng các hàng hoá, dịch vụNhà nước cung cấp không mất tiền hoặc với giá trị thấp và không phân biệt giữa ngườinộp thuế nhiều hay ít

- Lệ phí là khoản thu do Nhà nước quy định để Nhà nước phục vụ công việcquản lý theo yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật Thu lệ phí nhằm đảm bảo thựchiện nguyên tắc thu theo khả năng đóng góp trong chính sách động viên vào Ngân sách

Trang 13

Nhà nước và công bằng trong việc hưởng thụ các lợi ích từ chi tiêu của Ngân sách.

- Phí là khoản thu do Nhà nước quy định nhằm bù đắp một phần chi phí củaNgân sách Nhà nước mà Nhà nước dùng để đầu tư xây dựng, mua sắm, bảo dưỡng vàquản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ quyền quốc gia; tài sản cho các tổ chức, cá nhânhoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng hoặc lợi ích công cộng theo yêu cầu, khôngmang tính kinh doanh

- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước bao gồm thu lợi tức từ hoạtđộng góp vốn liên doanh, cổ phần của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, thu hối vốn củaNhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hối tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi)

- Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản không dùng thuộc sở hữu Nhà nước tại cácđơn vị hành chính, sự nghiệp

- Thu từ tiền thu sử dụng đất

- Thu từ tiền cho thuê đất, thuê mặt nước

- Thu từ các khoản vay trong nước, vay nước ngoài

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Về mặt bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ kinh tếgiữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động các nguồn tàichính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầuchi tiêu của nhà nước

Chi Ngân sách Nhà nước

Chi ngân sách nhà nước (hay chi tiêu công) là những khoản chi tiêu do Chínhphủ hoặc các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích, chẳnghạn như : bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thấtnghiệp

Về mặt bản chất, chi ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ phân phốilại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch qũy tiền tệ tậptrung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sựnghiệp văn hóa – xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và bảo đảm anninh quốc phòng

Chi ngân sách nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách nhà nước Thu ngân sáchnhà nước là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách, ngược lại sử dụng vốn ngânsách để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện để tăng nhanh thu nhập củangân sách Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu ngân sách một cách có hiệu quả, tiết kiệmluôn được nhà nước quan tâm

Chi ngân sách nhà nước gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế,chính trị, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ Điều này chứng tỏ các khoản chi của

Trang 14

ngân sách nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của mộtquốc gia

Chi ngân sách nhà nước có thể là chi thường xuyên hoặc chi đầu tư:

- Chi thường xuyên: Là những khoản chi có tính chất thường xuyên duy trì hoạtđộng của các cơ quan Nhà nước Các khoản chi này phải được tài trợ bằng khoản thutrong cân đối của Ngân sách Nhà nước như: Chi liên quan đến hoạt động điều hành vàduy trì hoạt động của cơ quan Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ được giao như: Cáchoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, văn học nghệthuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; chi cho lĩnhvực an ninh, quốc phòng; chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia,

dự án Nhà nước và các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật

- Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi bao gồm: chi đầu tư xây dựng cáccông trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư và hỗtrợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước, gópvốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham giacủa Nhà nước và các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật

Cân đối Ngân sách Nhà nước

Cân đối Ngân sách Nhà nước là so sánh tổng thu vào của Ngân sách Nhà nướcvới tổng chi Ngân sách Nhà nước Nếu thu bằng tổng chi thì ngân sách cân bằng Nếu

có chênh lệch giữa số thu lớn hơn số chi thì gọi là bội thu, ngược lại gọi là bội chi haythâm hụt ngân sách

Thâm hụt Ngân sách Nhà nước đã và đang trở thành hiện tượng phổ biến ở cácnước đang phát triển và những những nước có nền kinh tế chậm phát triển Có hai nhómnguyên nhân chủ yếu dẫn đến thâm hụt Ngân sách Nhà nước là nhóm nguyên nhânkhách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan do diễn biến củachu kỳ kinh doanh, tác động của điều kiện tự nhiên, của các yếu tố bất khả kháng;nguyên nhân mang tính chủ quan thuộc về quá trình quản lý điều hành Ngân sách Nhànước

Để khắc phục tình trạng thâm hụt Ngân sách Nhà nước, Chính phủ các nước đãnghiên cứu và sử dụng nhiều giải pháp như phát hành tiền, sử dụng dự trữ ngoại tệ, vaytrong nước và ngoài nước Việc phát hành thêm tiền đã từng được nhiều nước sử dụng đểtài trợ cho thâm hụt Ngân sách Nhà nước nhưng do hậu quả là dẫn đến lạm phát nên ngàynay hầu như các nước không sử dụng Việc thực hiện tốt công tác quản lý và điều hànhNgân sách Nhà nước là biện pháp tốt nhất cho các quốc gia để hạn chế, khắc phục tìnhtrạng thâm hụt Ngân sách Nhà nước

Trang 15

Sơ đồ 1.1: Cơ cấu ngân sách nhà nước 1.2.2 Cơ sở lý luận về phân cấp quản lý NSNN

Khái niệm phân cấp quản lý NSNN

Phân cấp là một sự chuyển giao quyền lực về chính trị và luật pháp đối vớicông tác xây dựng chính sách, lập kế hoạch, quản lý và phân bổ các nguồn lực tàichính từ chính quyền trung ương và các cơ quan của chính quyền trung ương cho cácchính quyền địa phương

và tài trợ của nước ngoài

Đón

g góp khác của dân (tổ chức

và cá nhân)

Nguồn thu khác

Chi thườn

g xuyên

Chi đầu tư phát triển

Chi trả

nợ Chín

h phủ cho vay tài trợ

Chi

bổ sung quỹ

dự trữ

Chi khác

Trang 16

Các lĩnh vực phân cấp nhà nước ở nước ta đã được tiến hành mạnh mẽ theo tinhthần Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/06/2004 của Chính phủ về tiếp tục đẩymạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương, có thể thấy quyết tâm cao của chính phủ về vấn đề trao quyền tựchủ, sáng tạo của chính quyền địa phương về các vấn đề:

- Phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển.

- Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.

- Phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên và tài sản nhà nước.

- Phân cấp quản lý doanh nghiệp nhà nước.

- Phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công.

- Phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức

Trong số các lĩnh vực phân cấp quản lý nhà nước, phân cấp quản lý ngân sáchnhà nước là một nội dung quan trọng và phức tạp bởi đó là sự phân cấp có liên quanđến nhiều các lĩnh vực phân cấp khác nhau Trong quá trình thực hiện phân cấp quản

lý ngân sách nhà nước đếu có liên quan đến vấn đề tổ chức bộ máy, con người, cáclĩnh vực quản lý khác của nhà nước

Tại các quốc gia trên thế giới, hệ thống ngân sách Nhà nước đều được tổ chứcphù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nhà nước Các quốc gia có

hệ thống chính quyền Nhà nước được tổ chức theo thể chế Liên bang như Mỹ, Đức,Malaixia, hệ thống NSNN bao gồm ngân sách liên bang, ngân sách tiểu bang và ngânsách địa phương Còn các quốc gia đơn nhất như Việt Nam, Trung quốc, hệ thống ngânsách nhà nước bao gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Tổ chức bộmáy của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ trung ương đến địa phương Nguồn lựctài chính quốc gia được tạo ra từ trong một cơ cấu kinh tế thống nhất, được phân bổtrên các vùng, lãnh thổ của quốc gia, do đó, ngân sách nhà nước là thống nhất Do vậy,ngân sách nhà nước được quản lý tập trung thống nhất theo nguyên tắc quản lý: tậptrung – dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý gắn với quyềnhạn và trách nhiệm Theo Luật NSNN năm 2002, nguyên tắc đó thể hiện: NSNN đượcquản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phâncông, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm

Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trungương, phê chuẩn quyết toán NSNN (Điều 3)

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là sự phân định phạm vi trách nhiệm,quyền hạn của các cấp chính quyền Nhà nước từ trung ương tới các địa phương trongquá trình tổ chức tạo lập và sử dụng NSNN phục vụ cho việc thực thi các chức năngnhiệm vụ của Nhà nước

Phân cấp quản lý NSNN là việc xác định có bao nhiêu cấp ngân sách và mối

Trang 17

quan hệ lẫn nhau giữa các cấp đó như thế nào Điều quan tâm tiếp theo là từng cấpđược quyền huy động những khoản thu nào cho riêng cấp mình, những khoản thu đódùng để đáp ứng những nhiệm vụ chi nào mà cấp đó phải đảm nhiệm, ai là người cótoàn quyền quyết định đối với một cấp ngân sách Phân cấp quản lý NSNN thực chất

là việc xử lý các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đếncác địa phương trong hoạt động của NSNN, từ đó hình thành một cơ chế phân chiaranh giới về quản lý NSNN giữa các cấp chính quyền

Nội dung phân cấp quản lý NSNN

Phân cấp về thẩm quyền Ngân sách

Là sự phân định về quyền hạn, trách nhiệm của các cấp chính quyền trong các vấnban hành chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức về Ngân sách

Đây là nội dung quan trọng của cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước.Việc quy định cấp nào được ban hành chính sách, chế độ về Ngân sách rất quan trọng, giúp

hệ thống Ngân sách hoạt động theo đúng định hướng, mục tiêu của từng quốc gia Phân cấp về thẩm quyền Ngân sách sẽ phân định rõ ba quyền gồm quyền quyếtđịnh, quyền quản lý, quyền sử dụng Ngân sách giúp cho các cơ quan, đơn vị, cá nhân chủđộng hơn, tránh sự trùng lắp, tăng cường trách nhiệm giữa các cấp chính quyền Cơ sởpháp lý của nội dung này chủ yếu được xây dựng trên Luật cơ bản là Hiến pháp hoặc cácđạo luật tổ chức hành chính, từ đó định ra hành lang pháp lý cho việc chuyển giao các thẩmquyền gắn với trách nhiệm tương ứng với quyền lực đã được phân cấp đó

Phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi

Phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi là sự phân định từng nguồn thu, từngnhiệm vụ chi cho chính quyền các cấp Đây là vấn đề trọng tâm và cũng là vấn đề cựcnan giải, là hạt nhân của cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước Việc phân cấpnguồn thu, nhiệm vụ chi căn cứ vào những đặc điểm phân cấp quản lý hành chính kinh

tế xã hội do Hiến pháp và pháp luật của mỗi quốc gia, căn cứ vào những yếu tố có tínhtruyền thống của nền hành chính, những yếu tố chính trị Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụchi nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, xác định những nhiệm vụ chi mà chính quyền trung ương phải đảm

nhiệm, những khoản thu mà trung ương được quyền thu và sử dụng cho các hoạt độngcủa mình Xác định những nhiệm vụ chi mà chính quyền địa phương phải lo, nhữngkhoản thu mà địa phương được quyền thu và sử dụng cho các mục tiêu của mình

Có hai cách để phân định nguồn thu cho các cấp ngân sách là phương pháp loạitrừ và phương pháp không loại trừ Các phương pháp này thường được luật hoá trongcác văn bản pháp quy của Nhà nước Theo phương pháp loại trừ thì toàn bộ các nguồn thu

đã giao một cấp nào đó hưởng thì các cấp khác không được hưởng nữa (chính là nguồn thu100%) Theo phương pháp không loại trừ thì toàn bộ nguồn thu phát sinh được phân chia

Ngày đăng: 24/08/2023, 10:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4] ThS. Lê Thị Mai Liên (2020). Hiệu quả chi ngân sách nhà nước của Việt Nam và giải pháp tái cấu trúc chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2020 – 2025 .Truy cập ngày 11/10/2022, từ:https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM187137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả chi ngân sách nhà nước của Việt Nam và giải pháp tái cấu trúc chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2020 – 2025
Tác giả: ThS. Lê Thị Mai Liên
Năm: 2020
[5] Nguyễn Quang Hưng (2015), Đổi mới kiểm soát chi ngân sách thường xuyên của chính quyền địa phương các cấp qua Kho bạc Nhà nước, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới kiểm soát chi ngân sách thườngxuyên của chính quyền địa phương các cấp qua Kho bạc Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Quang Hưng
Năm: 2015
[6] Nguyễn Thị Minh (2008), Đổi mới chi ngân sách nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chi ngân sách nhà nước trong điều kiệnkinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh
Năm: 2008
[7] Tô Thiện Hiền (2012), Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnhAn Giang giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020
Tác giả: Tô Thiện Hiền
Năm: 2012
[2] Luật Ngân sách Nhà nước (Luật số 83/2015/QH13) ngày 25/6/2015 [3] Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chitiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước.Tài liệu tiếng Việt Khác
[8] John M. Kim, 2004. From Line – item to Program Budgeting Global Lessons and the Korean Case. Korea Institute of Public Finance Khác
[9] Kurt M.Thurmaier & Katherine G.Willoughby, 2001. Policy and Politics in State Budgeting. M.E.Sharpe Armonk, New York London, England Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w