1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Luật hành chính liên bang nga

34 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật Hành Chính Liên Bang Nga
Tác giả GS.TS. Phạm Hồng Thái
Trường học Trường Đại Học Luật
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại giáo trình
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 318,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính Theo quan niệm của các nhà khoa học Luật hành chính Liên bang Nga,Luật hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp l

Trang 1

Luật hành chính Liên bang Nga

GS.TS Phạm Hồng Thái

I Khái quát chung về Luật hành chính Liên bang Nga

Cũng giống như giáo trình Luật hành chính Xô viết trước đây, giáo trìnhLuật hành chính Liên bang Nga ngày nay đều xem xét “Luật hành chính” dưới 3phương diện khác nhau: Luật hành chính là một ngành luật; Luật hành chính làmột khoa học; Luật hành chính là môn học thuộc chương trình đào tạo các cửnhân luật

1. Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính

Theo quan niệm của các nhà khoa học Luật hành chính Liên bang Nga,Luật hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Liên bangNga, có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt độngchấp hành (các quan hệ pháp luật hành chính hay các quan hệ hành chính “cácquan hệ công”) Như vậy, ở đây các thuật ngữ “ quan hệ pháp luật hành chính”

“ quan hệ hành chính” “ quan hệ công” được sử dụng là những đồng nghĩa

Sự xuất hiện, thay đổi hay đình chỉ các quan hệ hành chính do hoạt độngmang tính chất chấp hành và điều hành của cơ quan chấp hành quyết định

Hoạt động của các cơ quan chấp hành là một dạng đặc thù của cưỡng chếnhà nước - cưỡng chế hành chính: cơ quan chấp hành - một bên tham gia quan hệhành chính thực hiện các nghĩa vụ của mình không phụ thuộc vào sự đồng ý củabên khác trong quan hệ Khi tham gia quan hệ công, cơ quan chấp hành đại diệncho quyền lực hành chính nhà nước thực hiện các nghĩa vụ của mình, còn bênkhác chỉ thuần tuý tham gia quan hệ hành chính

Theo quan niệm của các nhà khoa học Nga, cưỡng chế hành chính cónhững đặc điểm sau:

- Được thực hiện ngoài tòa án

Trang 2

Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính do các cơ quan quản lý,những người có thẩm quyền trong cơ quan đó thực hiện một cách độc lập, không

có sự tham gia của cơ quan tư pháp Các biện pháp cưỡng chế hành chính khôngchỉ được áp dụng đối với người vi phạm, mà còn đối với cả người không viphạm trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật

- Hệ quả của áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính là việc hạn chế tạmthời quyền, tự do của công dân, hoặc những pháp nhân hợp pháp (đình chỉ kinhdoanh có thời hạn…); trong một số trường hợp có thể là đình chỉ không thời hạn( tịch thu tài sản, tước quyền sử dụng giấy phép không thời hạn…)

- Các biện pháp cưỡng chế hành chính do cơ quan nhà nước, người cóthẩm quyền áp dụng theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền cấp trêntheo thẩm quyên của họ đã được pháp luật đã quy định

Hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan quản lý nhà nước thể hiện

ở việc hiện thực hóa các luật, văn bản dưới luật, đảm bảo cho hoạt động kiểm traviệc thực hiện luật pháp và các văn bản dưới luật và là một dạng hoạt độngquyền lực nhà nước, Như vậy, hoạt động chấp hành và điều hành bao gồm: hoạtđộng thực hiện pháp luật và kiểm tra việc thực hiện pháp luật

Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh quyền lực phục tùng, ngoài ra có thể sử dụng phương pháp thoả thuận thông quahình thức hợp đồng hành chính

-2 Khoa học Luật hành chính

Khoa học Luật hành chính là lĩnh vực lý luận nhận thức thuộc khoa học cơ

sở Đối tượng nghiên cúu của khoa học Luật hành chính là “quản lý nhà nước”(quản lý công) - các hình thức tổ chức - pháp lý được áp dụng trong hoạt độngcủa các bộ, cơ quan ngang bộ

Quản lý công có những đặc thù sau:

Trang 3

1) Tính dưới luật của quản lý công Tính dưới luật của quản lý công đượcthể hiện ở chỗ: mục đích và nhiệm vụ của quản lý công do các luật của Liênbang, các đạo luật của các chủ thể liên bang, các văn bản quy phạm pháp luật củacác cơ quan thị chính quy định.

2) Các chức năng quản lý do các cơ quan quản lý chuyên trách có thẩmquyền thực hiện nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội (nhu cầu công cộng) (cácnhiệm vụ trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, kinh tế hay thông tin an ninh…)hay bảo vệ các quyền và lợi ích công dân và các pháp nhân ( ví dụ quyền thựchiện các hoạt động kinh tế) Ngoài ra, đối với quản lý công còn thực hiện các đạoluật, các văn bản dưới luật, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các văn bản đó;thực hiện các quyền hạn mang tính quyền lực (thực hiện cưỡng chế hành chính)đối với những người vi phạm, những người bị tình nghi phạm tội

Các cơ quan quản lý công bao gồm:

- Các cơ quan quyền lực chấp hành ( hành pháp) của Liên bang Nga (các

bộ, cơ quan ngang bộ, các hãng ( đại diện) liên bang, các cơ quan quyền lực chấphành của các chủ thể thuộc Liên bang Nga;

- Các cơ quan thực hiện các chức năng kiểm tra chuyên trách, hay các chức năng công khác ( cơ quan kiểm toán và Ngân hàng );

- Các cơ quan thị chính ( hành chính địa phương, các cơ quan kiểm tra chuyên trách ví dụ các cơ quan thanh tra)

- Các cơ quan quản lý công không chỉ chấp hành các luật và văn bản dưới luật, mà còn bảo đảm việc thực hiện các văn bản đó

Quản lý quản lý công gồm hai dạng: quản lý trực tiếp và quản lý giántiếp

Quản lý trực tiếp được thực hiện bởi hoạt động của những người có chức

vụ thực hiện sự tác động quyền lực trong quan hệ đối với các công dân, tổ chức,trong đó gồm cả việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính đối với họ

Trang 4

Quản lý trực tiếp được áp dụng bởi các nhân viên của cơ quan quyền lực công ví

dụ như: nhân viên hải quan, thuế vụ, các cơ quan bảo vệ pháp luật, nhân viên cơquan kiểm tra

Quản lý gián tiếp được thực hiện thông qua phương thức ban hành các vănbản pháp luật, buộc công dân hay tổ chức phải thực hiện theo yêu cầu các vănbản đó Nhưng các văn bản quy phạm pháp luật không xác định quyền và nghĩa

vụ của các thể nhân, pháp nhân cụ thể, các văn bản quy phạm pháp luật luôn tácđộng tới các chủ thể không trực thuộc cơ quan quyền lực công

Chủ thể của quản lý xã hội luôn là các thể nhân Hoạt động của các chủthể quản lý xã hội không chỉ được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm phápluật mà còn được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội

6 Sự hình thành và phát triển của khoa học Luật hành chính Nga

Luật hành chính Nga trải qua quá trình hình thành và phát triển rất lâu dài,giai đoạn trước cách mạng – giai đoạn hình thành Đây là giai đoạn trong khoahọc và hoạt động giảng dạy chịu ảnh hưởng của trường phái Luật cảnh sát Đức.Đối tượng nghiên cứu của khoa học cảnh sát là các quan hệ xã hội trong lĩnh vựcquản lý nhà nước Thuật ngữ “cảnh sát” được hiểu là nhà nước, không đồngnghĩa với “cảnh sát” là cơ quan bảo vệ pháp luật Thuật ngữ “ cảnh sát” có nghĩa

là hoạt động của chính quyền nhà nước, trước hết là hoạt động của các cơ quanquyền lực chấp hành Tuy nhiên, trong đế chế Xa hoàng chưa có sự phân biệt rõràng giữa các nhánh quyền lực, không có cơ quan đại diện quyền lực nhà nước,các cơ quan tòa án độc lập chỉ được thiết lập sau cải cách tư pháp năm 1864 củaAlêchxanđra II Cơ quan đại diện quyền lực nhà nước - viện Đuma quốc gia chỉđược thành lập vào năm (1905 – 1917), nhưng quyền lực của cơ quan này rất hạnchế, vì thế nó chỉ tương tự như cơ quan lập pháp, còn quyền lực chấp hành cũngchưa tồn tại theo đúng nghĩa của nó Mọi hoạt động đất nước đều do Xa hoàngđiều hành Như vậy, ở nước Nga khi đó chưa có tiền đề về chính trị - pháp lý rõ

Trang 5

ràng, đầy đủ cho sự hình thành khoa học luật hành chính (khoa học luật cảnhsát) Còn ở nhiều quốc gia khác khoa học Luật hành chính thế kỷ XIX – XXđộng chạm tới cả những ngành luật khác như Luật nhà nước, luật hình sự và Luậttập trung cải tạo Trong khoa học Luật hành chính (cảnh sát) không phân biệt rõ

vi phạm pháp luật hành chính và vi phạm pháp luật hinh sự - tội phạm và viphạm hành chính, cả hai loại vi phạm này đều coi là tội phạm, chỉ khác nhau ởmức độ nguy hại cho xã hộị

Một trong những người sáng lập ra ngành khoa học Luật hành chính - Luậtcảnh sát là Robert Phôn Mol ( 1799 -1875, người Đức) cho rằng đối tượng củaluật cảnh sát là toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước trừ lĩnh vực điềuchỉnh tài chính và xây dựng xây dựng quân đội Nửa cuối thế kỷ thứ XIX nhữngnhà cảnh sát học như: N Kh Bunge, M.M Spilepxky, I.E Anđreepxky.v.v.Ivannốpxky, I T Taraxốp và một số người khác vẫn tiếp tục các quan điểm củatrong tác phẩm “ Khoa học cảnh sát” của Rôbert Phôn Mol Nhà cảnh sát học lỗilạc người Đức Loren Stain ( 1815- 1890) cho rằng nhiệm vụ cơ bản của hoạtđộng cảnh sát là bảo đảm anh toàn cho xã hội Trong công trình có tính nền tảng

“ Học thuyết quản lý” của ông ( xuất bản năm 1865- 1868 từ tập 1 đến tập 7) đãphân tích so sánh pháp luật về quản lý nhà nước của Đức, Áo, Pháp và Anh.Loren Stain và Pobert Phôn Mol coi hoạt động cảnh sát là chức năng của cơ quanchấp hành Quan điểm luật cảnh sát của các nhà cảnh sát học này nghiêng về lợiích của nhà nước trong tất cả các quan hệ xã hội

Một trong những nhà khoa học người Nga nghiên cứu lịch sử các trườngphái chính trị- pháp lý của khoa học luật cảnh sát cần kể đến M.M Spilepxky ( mất năm 1883) Trong công trình “ Luật cảnh sát - một lĩnh vực độc lập củanhận thức pháp luật” (1875) - một trong những công trình đầu tiên của nước Nga

về môn học này, trong đó ông đặc biệt quan tâm tới các vấn đề nền tảng của khoa

Trang 6

học, trước hết là Luật cảnh sát Đức và chia sự hình thành Luật cảnh sát Đứcthành 3 giai đoạn.

Giai đoạn đều tiên của sự hình thành khoa học cảnh sát ( từ thế kỹ XVIđến nửa cuối thế kỷ XIX) được đánh dấu bởi sự xuất hiện “ các tổ chức cảnh sát”đầu tiên ở Đức thế kỷ XV-XVI Đây là giai đoạn mà các nhà nước đức có chínhsách trừng phạt tàn khốc nhất, Spilepxky gọi các nhà nước đức là “ các nhà nướccảnh sát”

Một trong những người sáng lập ra khoa học Luật cảnh sát ở Đức làIokhan Henrích Hótlốp Iuxti ( 1720- 1771) Ông là người đặt nền tảng đầu tiêncho trường phải “ luận thuyết về cảnh sát”, trong tác phẩm “ Cơ sở của khoa họccảnh sát” lần đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ “ khoa học cảnh sát” Các tác phẩmcủa Iokhan Henrích Hótlốp Iuxti rất được quan tâm ở nước Nga, I.Bogaepxky đãdịch tác phẩm “ Cơ sở của sức mạnh và sự thịnh vượng của chân trời, hay Sựphác họa tất cả các tri thức liên quan tới trước nhà nước phúc lợi chung” sangtiếng Nga và được xuât bản ở Xanh Pêtéch bua Thuật ngữ “ cảnh sát” trong thờiđại của Iuxti, phần lớn được sử dụng với nghĩa là tổng thể các biện pháp củachính sách đối nội được sử dụng để đảm bảo sự thịnh vượng xã hội

Sự huy hoàng của giai đoạn hình thành Luật cảnh sát Đức gắn liền với cáccông trình nghiên cứu của Henrich Berg, Rôber Phôn Mol và Lorenxa Stain.Henrich Berg, là một trong những người đầu tiên phân biệt Luật cảnh sát vớikhoa học cảnh sát Ông coi khoa học cảnh sát là cơ sở chính trị - pháp lý đểnghiên cứu các quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động cảnh sát Các

cơ sở nền tảng của khoa học cảnh sát còn được thể hiện trong tác phẩm “ Khoahọc cảnh sát theo các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền” xuất bản năm 1866của Rôber pôn Mol Công trình này đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triểncủa khoa học cảnh sát Nga: bẩy năm sau lần xuất bản đầu tiên cuốn “ Khoa họccảnh sát”, tại Đại học tổng hợp Xanh pê tech bua, N.Ph Rôzđenxtvenxky (1802-

Trang 7

1872) đã cho ra đời cuốn “ Cơ sở thiết lập nhà nước thịnh vượng với việc ápdụng các đạo luật Nga”, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vựcLuật cảnh sát ở Nga Nhưng, M.M Spilepxky đã kịch liệt phê phán tác phẩm nàycủa N.Ph Rôzđenxtvenxky và tác phẩm “ Những khái niệm dẫn luận về họcthuyết thiết lập nhà nước thịnh vượng và nhà nước cung ứng các thịnh vượng”của I.V Palatonốp ( 1803-1890), theo ông những tác phẩm này chỉ là những bảnsao chép lại tác phẩm “ Khoa học cảnh sát” của Phon Mol, một số phần chỉ là táitạo lại và mô tả dài ra.

Giai đoạn đầu là giai đoạn đặt nền tảng cho sự phát triển của trưòng pháikhoa học cảnh sát Spilepxky đã tách một phần quan trọng của trường phái này

“ hoạt động cảnh sát mang tính chất của hoạt động chính trị, có nghĩa được thốngtrị bởi nguyên tắc hợp lý, có ích chứ không phải nguyên tắc pháp lý hay dựa trên

cơ sở của các nguyên lý pháp luật và cân lý… khoa học cảnh sát là một lĩnh vựccủa chính trị chứ không phải pháp luật”

- Giai đoạn thứ hai của sự phát triển luật cảnh sát, theo Spilepxky gắn vớicuộc bút chiến khoa học của những người đại diện của trường phái Luật hànhchính và Luật cảnh sát Lần đầu tiên khái niệm khoa học pháp luật- hành chínhđược sử dụng trong các công trình khoa học của các luật gia Pháp thế kỷ XVIII-XIX và sau đó được tiếp tục phát triển ở Đức nửa cuối thế kỷ XIX Tính điểnhình của giai đoạn này là cơ sở của nền tảng pháp lý của khung hướng “ Lýthuyết quản lý” và “ luật cảnh sát”

Spillépxky đã chỉ ra rằng tình trạng chuyển đổi của khoa học cảnh sát ởnước Nga được quyết định bởi sự khác nhau của luật xã hội, luật hành chính vàluật cảnh sát: “ Sự cố gắng mở rộng phạm vi các chủ thể hoạt động hành chínhhay hoạt động cảnh sát có thể dẫn tới…sự thừa nhận hoạt động cảnh sát theonghĩa rộng của hoạt động xã hội của nhân dân”

Trang 8

Giai đoạn thứ ba của sự phát triển khoa học cảnh sát thể hiện ở sự hìnhthành các cơ sở lý luận nhận thức khoa học M.M Spilepxky đã chỉ ra điểmchung của trường phái pháp luật xã hội và Luật cảnh sát, được quyết định bởi sựthống nhất của các phương pháp giáo điều, chính trị và ấu trĩ “ Việc áp dụng cácphương pháp này trong xây dựng khoa học luật xã hội và Luật hành chính – cóthể thông báo về đặc điểm khoa học của nó” Như vậy, những mâu thuẫn kháchquan của trường pháp luật xã hội và luật cảnh sát có thể dẫn đến nhưng vượt quaphương pháp luận: trên cơ sở này Spilepxky đồng nhất luật xã hội và luật cảnhsát.

Một trong những người truyền bá chủ nghĩa cảnh sát Đức vào nước Nga làgiáo sư luật cảnh sát Đại học Tổng hợp Kiép N Kh Bunge ( 1823- 1895) Giáotrình luật cảnh sát của ông xuất bản không đầy một năm sau khi ra đời cuốn “Học thuyết quản lý” của Stain Theo N.Kh Bunge nguồn của luật cảnh sát khôngchỉ là các luật, mà còn gồm cả các văn bản dưới luật, trước hết là các văn bảncủa các cơ quan chấp hành Ông là một trong những người đầu tiên đặt nền tảngcho khái niệm chủ thể luật cảnh sát gồm: các cơ quan chấp hành, các cơ quan thịchính (địa phương – không phải là cơ quan nhà nước), các liên hợp xã, các tổchức của công dân…Ông đưa vào đối tượng môn học cả những học thuyết chínhtrị và học thuyết pháp lý, tạo nên cơ sở lý luận của phần “ Xây dựng nhà nướctiện lợi” Nhiều vấn đề của môn học “ Luật cảnh sát” đề cập tới cả những vấn đềriêng của các môn học Luật thương mại và Luật dân sự

Vai trò to lớn trong nghiên cứu và xây dựng lý luận Luật hành chính thuộc

về giáo sư bộ môn Luật nhà nước và hành chính trường pháp lý Đemiưôpxkythành phố Iarôxláp, tiếp sau đó là giáo sư I.T Taraxốp( 1849-1929) trường đạihọc Tổng hợp Moxkơva Những công trình đầu tiên của ông đề cập đến các vấn

đề của khoa học cảnh sát đức trong pháp luật Nga: “ Những nguyên lý cơ bảncủa Loren Stain về luật cảnh sát và mối liên hệ của nó với học thuyết về quản lý”

Trang 9

( Kiép năm 1874), “ Tạm giữ hành chính – biện pháp cảnh sát bảo đảm an ninh”( Kiép năm 1875), “ Bắt hành chính ở Nga” ( Kiép năm 1877), “ Kinh nghiệmxây dựng chương trình và tóm tắt phần chung khoa học cảnh sát” (Iarôxláp năm1879) Những công trình nghiên cứu của Taraxốp về các chế định cổ phần, sựđiều chỉnh của Luật ngân sách và Luật tài chính vẫn còn nguyên giá trị của nótrong thời đại ngày nay Trước hết phải kể đến các công trình như “ Lý thuyết vềcác tập đoàn cổ phần” “ Tín dụng và tiền giấy” “ Khái luận về Luật tài chính”.

Từ năm 1889 hoạt động sáng tạo của ông gắn với trường Đại học Quốc giaMoxkova Tại đây ông đã công bố giáo trình 4 tập “ Giáo trình khoa học luậtcảnh sát”: tập thứ nhất “Dẫn luận, phần chung và cảnh sát trật tự” (1891), tập thứhai “Cảnh sát trật tự” ( 1893); tập thứ ba “ Giáo dục quốc dân và các phương tiệnthông tin” ( 1895); tập thứ tư – “Trao đổi, sản xuất, phân phối và nhu cầu”(1896) Trong các công trình của mình, ông đặc biệt chú ý tới các vấn đề chungcủa Luật cảnh sát: Phần chung chiếm đến bốn phần năm khối lượng của từngquyển sách

Đỉnh cao sáng tạo khoa học của Taraxốp đối với sự phát triển khoa họcNga là những công trình của ông về Luật cảnh sát và Luật hành chính: “ Kháiluận khoa học Luật hành chính” (Iarôxláp năm 1888), “ Bài giảng về luật cảnhsát ( hành chính) ( M 1908.M 1910)

Taraxốp đồng nhất quyền lực chấp hành và quyền lực hành chính, khi chorằng ý nghĩa quan trọng của quyền lực chính trị thể hiện ở việc thực hiện các đạoluật; điều kiện để thực hiện thẩm quyền quyền lực là sự “phân chia quyền lực”.Hình thức cơ bản để thực hiện quyền lực chấp hành là ban hành văn bản phápluật Trong đó, luật có hiệu lực pháp lý tối cao: “ Luật … là sự thống nhất giữa tự

do và quyền lực trên nền tảng đạo đức và lợi ích chung; thực chất - luật là sự thểhiện ý chí của nhân dân”; luật là hình thức đưa các quy phạm công lý “…vàothực hiện trong đời sống nhà nước, luật chỉ là quy phạm xác định việc thực hiện

Trang 10

công lý” Ông cho rằng, một trong các văn bản quản lý nhà nước là quyết địnhhành chính do các cơ quan của quyền lực chấp hành ban hành, thực chất đây làcác văn bản dưới luật, được ban hành khi chưa có điều kiện để ban hành luật, cácquyết định hành chính chỉ có tính tạm thời.

Taraxốp còn là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về cưỡng chế hànhchính, theo ông pháp luật cưỡng chế hành chính dựa trên cơ sở của các nguyêntắc sau đây:

- Các biện pháp tác động về thể chất hay tác động về đạo đức cần phảitương ứng với các phương pháp hành động chống đối pháp luật của người viphạm, mức độ thiệt hại do nó gây nên;

- Việc áp dụng các chế tài trừng phạt phải đi trước hành vi chống đối củangười vi phạm; ngăn chặn các hành vi chống đối pháp luật có nghĩa là ngăn chặn

cả các biện pháp cưỡng chế

- Pháp chế trong áp dụng các biện pháp tác động về thể chất hay tác động

về đạo đức Người bị tình nghi vi phạm có thể khiếu nại, khiếu kiện về việc ápdụng các biện pháp cưỡng chế

Triết lý về tư pháp hành chính của Taraxốp dựa trên cơ sở những nghiêncứu của phương Tây, chủ yếu là những nghiên cứu của các nhà cảnh sát họcĐức

Ngoài ra ông còn có nhiều công trình nghiên cứu về cưỡng chế hànhchính, về tổ chức bộ máy hành chính, cơ quan bảo vệ pháp luật, về tư pháp hànhchính

Một trong những nhà khoa học có tên tuổi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

là GS V.V Ivanốpky ( 1854- 1926) trường Đại học tổng hợp Kazan, dựa trênnguyên tắc nhị nguyên của các trường phái Luật hành chính và Luật cảnh sát, đãđồng nhất pháp Luật quản lý nội bộ và luật cảnh sát Theo ông, đó là ngành khoahọc có đối tượng nghiên cứu là các luật, văn bản dưới luật và các văn bản hưóng

Trang 11

dẫn “ nội dung các biện pháp được áp dụng nhằm tổ chức các điều kiện an ninh

và thịnh vượng”

Trong giáo trình “ Luật hành chính” ông đã xem xét tất cả các Phần (phầnchung và phần riêng của Luật hành chính), đặc trưng cho các công trình khoahọc và giảng dạy sau này Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông đặcbiệt chú ý sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật Phương pháp nàycủa ông về sau được áp dụng rất rộng rãi trong nghiên cứu khoa học, giải thíchpháp luật Mục tiêu sử dụng phương pháp này là để tổng hợp, phân tích, làm rõ,giải thích các quy phạm pháp luật đang tồn tại và để áp dụng Các phương phápkhoa học của Ivanôpxky dựa trên cơ sở kết hợp Phần chung và Phần riêng củamôn học, chúng không mâu thuẫn nhau, mà tạo thành một thể thống nhất

Trong các công trình nghiên cứu của mình, Ivanôpxky đặt nền tảng chomột ngành luật mới - Luật hành chính Trong cuốn “ Giáo trình Luật hành chính:Luật cảnh sát Luật quản lý nội bộ” ông là người đầu tiên chú ý tới phương phápluận của khoa học luật hành chính và phân nhóm các phương pháp nghiên cứu.Theo ông phương pháp pháp lý bao gồm: tư duy trừu tượng, lô gích vàdedũcia…, khác với phương pháp luận xã hội dựa trên cơ sở …và quan sát các

sự kiện Ivanốpxky là người đặt nền tảng cho bản chất nhị nguyên của khoa họcLuật hành chính, chia khoa học này thành hai phần: Phần chung gồm các chếđịnh về: cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương; các hình thứchoạt động hành chính; tư pháp hành chính và v.v Phần riêng gồm những nghiêncứu về các quy phạm pháp luật hành chính hiện hành Đặc trưng của phần chungthể hiện ở việc nghiên cứu các phương pháp của hoạt động chính trị trong lĩnhvực an ninh, giao thông, in ấn, xuất bản, thông tin…

Một trong những người theo trường phái Luật hành chính Pháp là: E N.Berenđte ( 1860 -1925) – GS Giám đốc trường Đại học Luật Iarôxláp Ông làmột trong những nhà lý luận giáo điều của khoa học Luật hành chính thế kỷ XX

Trang 12

Theo ông, chủ thể của luật hành chính gồm: Công xã, huyện, tỉnh và nhữngngười tham gia quan hệ pháp luật hành chính: các tổ chức hợp tác và các thểnhân, ngoài ra ông còn coi cả những tổ chức cổ phần Berenđte cho rằng sự tácđộng của nhà nước nhằm:

- Bảo vệ các lợi ích công - sự toàn vẹn và độc lập chính trị của nhà nước;tham gia thực hiện các chức năng này có các cơ quan quyền lực nhà nước;

- Giữ gìn trật tự nhà nước, bảo đảm an ninh cá nhân và xã hội của dân cư;

- Giữ gìn các giá trị của nhân dân ( giá trị vật chất, giá trị tinh thần nhằmđáp ứng các nhu thể chất, nhận thức và nhu cầu đạo đức của cá nhân và các tổchức của cá nhân)

* Sự phát triển của khoa học Luật hành chính thời kỳ Xô viết

Những người có quan điểm đột phá trong sáng lập ra nền khoa học Luậthành chính trong thời kỳ quá độ - từ khoa học Nga đến khoa học Luật hànhchính Xô viết là I N Ananốp và M Đ Zagriakốp

Những đóng góp khoa học của I N Ananốp ( 1897- 1960) được thể hiện ởnhững điểm cơ bản sau đây:

Tác giả là người đặc biệt đề cao chủ nghĩa liên bang Thiết chế liên bangcủa nhà nước Nga quyết định tầm quan trọng của nguyên tắc này trong hoạtđộng của các cơ quan quản lý nhà nước – các Bộ uỷ viên nhân dân ( thực chất làcác bộ, nhưng có tên gọi là Bộ uỷ viên nhân dân)

Trên cơ sở nguyên tắc liên bang, ông chia bộ máy quản lý nhà nước thành

bộ máy hành chính của Liên minh cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết ( gọi tắt làLiên Xô - CCCP) và bộ máy hành chính của các nước cộng hòa thuộc liên bang

Đến đầu năm 1920 chủ nghĩa Liên bang xô viết liên quan tới những thẩmquyền đặc biệt của Liên xô không chỉ các cơ quan chấp hành, ví dụ Bộ uỷ viênnhân dân về lục quân và hải quân và các cơ quan quản lý trong lĩnh vực quan hệđối ngoại ( Bộ uỷ viên các vấn đề đối ngoại- Bộ ngoại giao), ngoại thương, thông

Trang 13

tin, bưu điện và điện tín của Liên xô Đặc trưng của các Bộ uỷ viên nhân dân phụtrách các vấn đề hỗn hợp như Bộ uỷ viên tài chính, lao động có mối quan hệ trựcthuộc hai chiều - trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương của toàn liênbang, cơ quan quản lý cùng tên của nước cộng hòa thuộc liên bang Các Bộ uỷviên nhân dân của nước cộng hòa tự trị thuộc nước cộng hòa thuộc liên banghoạt động ngoài lĩnh vực quản lý của liên bang và trực thuộc cơ quan chấp hànhtương ứng của nước cộng hòa thuộc liên bang chứ không trực thuộc các cơ quancủa toàn liên bang.

I N Ananốp là một trong những người đã xây dựng nên trường phái khoahọc Luật hành chính Xô viết, trong các công trình nghiên cứu của mình về bộmáy quản lý nhà nước – các cơ quan chấp hành, ông đề cao chủ nghĩa liên bang,coi chủ nghĩa liên bang là nguyên tắc nền tảng quyết định hoạt động của các cơquan quản lý của nhà nước Tuy rằng trên thực tế là khi đó vai trò quyết địnhkhông thuộc về các cơ quan quản lý, mà vai trò lãnh đạo thuộc về các cơ quancủa đảng cộng sản Liên xô Những người lãnh đạo các bộ của các nước cộng hòa

và các bộ, tổng cục của toàn liên bang đều là uỷ viên trung ương Đảng cộng sảnLiên Xô.Chủ nghĩa liên bang là nguyên tắc nền tảng hoạt động của các cơ quanchấp hành và điều hành trong điều kiện “ phân chía” thẩm quyền của quyền lựclập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng nhà nước Xô viết trên thực tế không theonguyên tắc này, mặc dù Hiến pháp Liên Xô năm 1936 và 1977 đã đề cập đến vấn

đề phân biệt thẩm quyền của các cơ quan quyền lực của tòan liên bang

Công lao to lớn của I N Ananốp thể hiện ở chỗ, ông là một trong nhữngngười đầu tiên trong khoa học luật hành chính có những phân tích về hoạt độngcủa cơ quan chấp hành và điều hành Nhưng cái hạn chế lớn nhất của ông là đôikhi nặng về mô tả mà thiếu những luận giải khoa học - đặc trưng của sáchchuyên khảo, ngay cả công trình công bố năm 1960 sau khi ông qua đời “ Các bộcủa Liên Xô” cũng chủ yếu đề cập đến các sự kiện chính trị- pháp lý

Trang 14

M Đ Zagriakốp ( 1872- 1958) – nhà khoa học Luật hành chính Xô viếtđộc đáo, ông là người đâu tiên xây dựng nên trường phái Luật hành chính – tàichính, tác giả tập trung phân tích mối liên hệ giữ pháp luật tài chính và cácphương pháp thực hiện Những quan điểm khoa học của ông được thể hiện ở cácluận điểm sau đây:

Pháp luật tài chính là bộ pháp điển các văn bản quy phạm pháp luật quyđịnh về các nguồn thu, phân bổ và chi tài chính, khái niệm “ pháp luật tài chính”đồng nhất với khái niệm “ luật tài chính”, còn đối tượng quản lý tài chính là quátrình thực hiện pháp luật tài chính và hoạt động của các cơ quan chấp hành tronglĩnh vực này

“ Pháp luật tài chính” là một hướng và nội dung của quản lý tài chính.Chủ thể của hoạt động hành chính - tài chính là nhà nước mà đại diện chonhà nước là các cơ quan nhà nước và những người có chức vụ trong các cơ quannhà nước, những tổ chức liên hợp và các thể nhân hoạt động trong lĩnh vực luậtcông và luật tư

Giải thích các quy phạm luật hành chính – tài chính là tổng thể cácphương pháp kỹ thuật pháp lý

Khi giải thích phải giữ được tư tưởng của quy phạm; không làm thay đổinguyên tắc thực hiện

Nguồn của Luật hành chính – tài chính bao gồm cả những văn bản của cơquan tài chính và các cơ quan chấp hành và điều hành

Tác giả là nhà khoa học Luật hành chính đầu tiên quan tâm tới văn bảnchuyên ngành của các cơ quan chấp hành và điều hành

Trong các quan hệ tài chính không có sự bình đẳng giữa các bên tham giaquan hệ

Trang 15

Phân tích sự phát triển của khoa học Luật hành chính Xô viết thời kỳ hậu Xô viết cần kể đến các nhà khoa học như: X.X Xtuđenikin, M.I Erốpkin và A.E Lunép.

X.X Xtuđenikin ( 1905-1957) là người kế thừa những truyền thống tốtđẹp của các nhà khoa học Luật hành chính Xô viết Giáo trình Luật hành chính

xô viết tái bản lần thứ hai của ông đã kế thừa và phát triển trường phái khoa học

Xô viết, ông phê phán tình trạng giảng dạy môn học Luật hành chính trong cáctrường đại học vào những năm 1930 – 1937

Các giáo trình Luật hành chính Xô viết sau này đều giữ cơ cấu do ông đưa

ra, chia Phần chung của Luật hành chính thành 3 nội dung cơ bản: quản lý tronglĩnh vực hoạt động hành chính – chính trị; quản lý nền kinh tế quốc dân và quản

lý trong lĩnh vực hoạt động văn hóa - xã hội

Một quan điểm đa dạng và không bình thường trong sự phát triển của chủnghĩa luật hành chính Xô viết của M I Erốpkin ( 1921- 1995) Trong tác phẩm

“Quản lý trong lĩnh vực bảo đảm trật tự xã hội” tác giả bắt đầu một ý tưởng đặtnền tảng lý thuyết về trật tự xã hội Khi xây dựng nên khái niệm này, tác giảphân chia các yếu tố của trật tự xã hội thành: hệ thống các quan hệ xã hội có ýchí; các phương tiện điều chỉnh - tổng thể các quy phạm pháp luật và các quyphạm đạo đức và các hướng dẫn thi hành Theo ông, đó chính là những nội dungcủa trật tự xã hội, việc thiết lập và củng cố trật tự xã hội là nhằm bảo đảm cácquyền và lợi ích hợp pháp của công dân

A E Lunép ( 1910- 1983) – Nhà khoa học Luật hành chính có nhiều độcđáo, tài năng và có nhiều thành công Trong Bách khoa thư khoa học luật hànhchính Xô viết, ông mãi mãi là một nhà lý luận về pháp điển hóa các quy phạmphạm pháp luật trong lĩnh vực này, đồng thời là một nhà nghiên cứu các vấn đề

về tố tụng hành chính

Trang 16

Ông là người đặt nền tảng lý luận về hệ thống và các biện pháp xử lý hànhchính, khái niệm các biện pháp ngăn chặn hành chính, đặc thù của các chế tàinhà nước đối với các vi phạm hành chính Ông là nhà lý luận và đặt nền tảngtriết lý về các biện pháp chế tài như: phòng ngữa hành chính, phạt hành chính,lao động cải tạo và tịch thu tài sản Tất cả các lý luận về xử lý vi phạm hànhchính của ông đều được áp dụng trong thực tiễn Nhiều ý kiến của ông về chế tàihành chính được đưa vào trong Bộ luật xử lý vi phạm hành chính, ví dụ như: tíchthu tài sản.

Di sản giá trị thực tiễn lớn nhất của Lunép không chỉ là những ý kiến làmthay đổi các luật, văn bản dưới luật, mà còn ở sự hình thành trường phái hàn lâm,trường phái học thuật của khoa học luật hành chính, về sau được kế thừa và pháttriển lên những đỉnh cao mới

Theo đánh giá của A A Bôrikôvích – TSKH, GS bộ môn Luật hành chínhHọc viện cảnh sát Matxkơva, cho rằng: Khoa học Luật hành chính Xô viết cónhững phát triển nhất định, nhưng dựa trên cơ sở những giáo điều không cầnthiết cho những phát triển sáng tạo Những luận thuyết về chủ thể, quy phạm luậthành chính, phương pháp tác động hành chính, hình thức và phương pháp, bảnchất của quản lý đã không những không được xem xét lại trong hành chục năm

mà còn được tái tạo lại trong các giáo trình và sách chuyên khảo Chủ nghĩatruyền thống trong tư duy khoa học bắt nguồn từ những nghiên cứu hàn lâm vàtrong đào tạo ở các trường đại học có ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình đào tạocủa một số trường đại học luật nghiên cứu các nguồn tài liệu này Nhưng những

tư tưởng học thuật khoa học không đơn giản là chống lại những tư duy giáo điều

và thông báo cho sinh viên, nghiên cứu sinh, mà phải nghiên cứu một cách côngphu, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của khoa học Luật hành chính thời xô viết vàhậu xô viết để xây dựng nên trường phái khoa học mới

7 Nguyên tắc của Luật hành chính Liên bang Nga

Trang 17

Các nguyên tắc của Luật hành chính Liên bang Nga là những tư tưởng,quan điểm chi phối toàn bộ nội dung của Luật hành chính Hiến pháp ghi nhậncác nguyên tắc quan trọng nhất của quyền lực chấp hành, bao gồm: các nguyêntắc quyền lực nhân dân; sự thống nhất của hệ thống quyền lực chấp hành; chủnghĩa liên bang.

Luật hành chính Liên bang Nga dựa trên cơ sở các nguyên tắc căn bản sau:

- Nguyên tắc quyền lực nhân dân

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện chỗ: các cơ quan chấp hành đềuphải báo cáo và chịu sự kiểm tra của nhân dân; các cơ quan, các chức vụ của cơquan chấp hành đều do nhân dân – mang chủ quyền Liên bang Nga thiết lập

- Nguyên tắc thống nhất của hệ thống các cơ quan chấp hành – các cơquan chấp hành của Liên bang và các chủ thể liên bang tạo thành một hệ thốngthống nhất, cơ quan cấp dưới phải chấp hành các quyết định, mệnh lệnh của cơquan cấp trên và chịu sự kiểm tra của cơ quan cấp trên

- Nguyên tắc chủ nghĩa liên bang

Hiến pháp Liên bang Nga quy định những vấn đề rất căn bản thuộc nộidung nguyên tắc này: sự thống nhất của hệ thống chính quyền; sự khác nhau vềnhiệm vụ, quyền hạn, đối tượng thẩm quyền giữa cơ quan liên bang và các cơquan thuộc chủ thể liên bang và các cơ quan địa phương

- Nguyên tắc kế hoạch hoá và phối hợp

Kế hoạch hóa dựa trên cơ sở phân tích tìm tòi xác định các nhiệm vụ, mụctiêu…các chỉ tiêu chất lượng, khối lượng thực hiện của các ngành, các lĩnh vựccủa quản lý Phối hợp là sự tác động thống nhất, cùng chiều của các cơ quanquyền lực chấp hành, các cơ quan trực thuộc cơ quan chấp hành, các cơ quanlãnh thổ và các tổ chức

8 Môn học Luật hành chính

Ngày đăng: 13/03/2022, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w