2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MÔN HỌC ĐỀ TÀI Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hồ Chí Minh, Tháng 42022 MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1 MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 Khái quát thị trường chứng khoán 3 Khái niệm 3 Nguồn gốc hình thành 3 Khái niệm 4 Đặc điểm 4 Bản chất, vai trò, chức năng của thị trường chứng khoán 5 Bản chất 5 Vai trò 5 Vai trò của thị trường chứng khoán tới chính phủ 6 Vai trò của thị trường chứng khoán đối với các doanh nghiệp.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MÔN HỌC:
ĐỀ TÀI:
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hồ Chí Minh, Tháng 4/2022
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I Khái quát thị trường chứng khoán 3
1 Khái niệm 3
1.1 Nguồn gốc hình thành 3
1.2 Khái niệm 4
2 Đặc điểm 4
II Bản chất, vai trò, chức năng của thị trường chứng khoán 5
1 Bản chất 5
2 Vai trò 5
2.1 Vai trò của thị trường chứng khoán tới chính phủ 6
2.2 Vai trò của thị trường chứng khoán đối với các doanh nghiệp 6
2.3 Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nhà đầu tư 6
3 Chức năng 7
III Phân loại thị trường chứng khoán 8
1 Căn cứ vào phương thức tổ chức và giao dịch 8
1.1 Thị trường chứng khoán tập trung 8
1.2 Thị trường chứng khoán phi tập chung 9
1.2.1 Thị trường giao dịch qua quầy – Thị trường OTC 9
1.2.2 Thị trường chứng khoán “trao tay”- chợ đen: 11
2 Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch, thị trường chứng khoán được phân thành 12
3 Căn cứ vào quá trình luân chuyển vốn 12
3.1 Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (Primary Market) 12
3.2 Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 (Secondary Market) 13
3.3 Mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp 13
IV Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 14
1 Tổ chức phát hành chứng khoán 14
Trang 31.1 Chính phủ và chính quyền địa phương: 15
1.2 Các doanh nghiệp: 15
1.3 Quỹ đầu tư: 16
2 Nhà đầu tư chứng khoán 17
2.1 Khái niệm 17
2.2 Phân loại nhà đầu tư 17
2.2.1 Dựa vào hình thức chủ thể, chia thành 17
2.2.2 Dựa vào tính chất hoạt động đầu tư, chia thành 17
2.2.3 Dựa vào quốc tịch nhà đầu tư, chia thành 18
2.3 Quyền và nghĩa vụ của Nhà đầu tư chứng khoán 18
2.3.1 Quyền của Nhà đầu tư chứng khoán 18
2.3.2 Nghĩa vụ của nhà đầu tư chứng khoán 19
3 Các tổ chức kinh doanh chứng khoán 20
3.1 Công ty chứng khoán 20
3.2 Ngân hàng thương mại 20
3.3 Qũy đầu tư chứng khoán 21
4 SGDCK và các chủ thể hỗ trợ cho các hoạt động mua bán, giao dịch chứng khoán 21
V Các nguyên tắc hoạt động 24
1 Nguyên tắc chung 24
2 Nguyên tắc riêng 24
VI Xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán 25
1 Xu hướng quốc tế hóa thị trường chứng khoán 25
2 Xu hướng gia tăng các nhà đầu tư chuyên nghiệp 26
3 Xu hướng chứng khoán hóa các nguồn vốn trên thị trường 26
4 Xu hướng phát triển mạnh mẽ của TTCK phái sinh 26
KẾT LUẬN 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 5MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển sôi động, đi kèm với sự pháttriển ấy là sự sôi động của thị trường tài chính Một đất nước được coi là phát triểnthực sự nếu thị trường tài chính đất nước đó thực hiện có hiệu quả Là hạt nhân trungtâm của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán luôn thể hiện tốt vai trò tạo vốn
và chu chuyển vốn linh hoạt trong nền kinh tế thị trường Hiện nay, thị trường chứngkhoán Việt Nam là một trong những thị trường tiềm năng, đang phát triển rất nóng vànhận được sự quan tâm lớn từ công chúng đến Chính phủ vì nó có vai trò quan trọngtrong việc huy động vốn, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, tạo môi trườnggiúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, vẫn còn xuất hiện một
số tình trạng lạm phát, giá cả mặt hàng đồng loạt tăng cao gây khó khăn nhất địnhcho thị trường chứng khoán Vì vậy, việc xây dựng thị trường chứng khoán ở ViệtNam đã trở thành nhu cầu cấp thiết nhằm huy động các nguồn vốn trung, dài hạn ởtrong và ngoài nước vào đầu tư phát triển kinh tế thông qua những khoản nợ vàchứng khoán vốn
Để hiểu rõ hơn về tình hình chứng khoán hiện nay cũng như có một cái nhìn toàn cảnh
về hiện trạng liên quan đến tình hình chứng khoán và phát huy tính hiệu quả của thị
trường chứng khoán, nhóm xin lựa chọn đề tài: “Tổng quan về thị trường chứng
khoán”
Trang 6NỘI DUNG
I.Khái quát thị trường chứng khoán
1.1.Nguồn gốc hình thành:
Hoạt động giao dịch trước khi có TTCK:
Vào những năm 1100 ở Pháp, Courratiers de Change (những người trao đổi tiền) đãthay mặt các ngân hàng quản lý và điều chỉnh các khoản nợ của cộng đồng nôngnghiệp trên khắp đất nước Courratiers de Change có thể được xem như những nhàmôi giới đầu tiên, vì họ chuyên giải quyết và trao đổi các khoản nợ với nhau
Vào thế kỷ 13, các thương nhân người Venice (Ý) đã bắt đầu kinh doanh công trái nhànước với tư cách là bá tước Vào năm 1351, chính quyền Venice đã phải chặn sự lantruyền của những tin đồn thất thiệt nhằm mục đích làm giảm giá trị ngân quỹ củaChính phủ Sau đó, trong suốt thế kỷ 14, các chủ ngân hàng ở các thành phố Pisa,Verona, Genoa và Florence của Ý cũng bắt đầu kinh doanh công trái nhà nước Việcnày rất khả thi ở các thành phố này, vì những nơi này được điều hành bởi một nhómngười có ảnh hưởng chứ không phải một quốc vương
TTCK đầu tiên trên thế giới:
Người ta cho rằng vào những năm 1400 và 1500, các TTCK đầu tiên trên thế giới rađời ở thành phố Bruges, Bỉ và các thành phố Flanders, Ghent, Rotterdam ở Hà Lan.Nhưng trên thực tế, thành phố Antwerp của Bỉ mới là nơi có thị trường chứngkhoán đầu tiên Nhiều người hay hiểu lầm khi cho rằng tại Bruges vào cuối thế kỷ 13,các thương nhân thường tụ tập buôn bán với nhau trong tòa nhà của một người đàn
ông có tên Van der Beurze Tuy nhiên, trên thực tế, tòa nhà của gia đình Van der
Beurze nằm ở Antwerp, và đây mới là nơi diễn ra những buổi họp chợ của các thươngnhân Nhà Van der Beurze coi Antwerp là địa điểm chính để trao đổi hàng hóa Ýtưởng này nhanh chóng lan rộng khắp Flanders, Hà Lan và sang cả những nước xungquanh
Tất cả các TTCK sơ khai này đều không có cổ phiếu, thứ khi ấy còn chưa tồn tại Thayvào đó, người môi giới và cho vay tập trung lại đây để giao dịch các món nợ của
Trang 7công ty, Chính phủ và cả nợ cá nhân.
Trang 81.2.Khái niệm:
Thị trường chứng khoán là thị trường diễn ra hoạt động trao đổi mua bán chứngkhoán giữa các nhà đầu tư, giao dịch này có thể làm thay đổi chủ sở hữu chứng khoán.Thị trường chứng khoán là một lĩnh vực khá đa dạng, phong phú và cũng đặc biệt phức tạp
Bên cạnh đó thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong thị trường vốn, giúp huy động vốn để phát triển kinh tế
Thị trường chứng khoán được chia thành hai loại:
- Thị trường sơ cấp là giao dịch chứng khoán mới phát hành
- Thị trường thứ cấp là giao dịch mua đi bán lại nhiều lần, giao dịch này đã được
phát hành trên thị trường sơ cấp
Thị trường chứng khoán có đặc trưng nổi bật là nguồn tài chính trực tiếp, chủ sở hữu(bao gồm người cung cấp vốn và người cần vốn) đều trực tiếp tham gia thị trường,không có bên trung gian về tài chính
Đặc tính hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu của thị trường chứng khoán là khả năngthanh toán Khả năng thanh toán trong thị trường chứng khoán phải minh bạch, rõdàng, việc kinh doanh tự do sẽ dựa trên nguồn cung và cầu
Giao dịch tài chính của thị trường chứng khoán công khai, minh bạch để tất cả mọingười tham gia nắm bắt được thông tin giá cả đang giao dịch trên thị trường
Hầu hết tất cả mọi người đều có thể tham gia vào thị trường chứng khoán, truy cập vàothông tin để giao dịch tự do và hiệu quả
Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán có thể chuyển đổi cổ phầncủa mình thành chứng khoán hoặc tiền mặt
Dựa trên quan hệ giữa người bán và người mua ( cung và cầu) nên thị trường chứngkhoán không áp đặt giá cả
Trang 9Hoạt động thị trường chứng khoán diễn ra liên tục, thị trường sơ cấp phát hành chứngkhoán và có thể được mua, bán trên thị trường thứ cấp.
II.Bản chất, vai trò, chức năng của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán chính là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loạichứng khoán nêu trên Tùy tính chất mà có thể phân ra làm nhiều loại thị trường chứngkhoán khác nhau:
- Thị trường sơ cấp (các tổ chức bán ra chứng khoán lần đầu cho nhà đầu tư) và thị trường thứ cấp (giao dịch mua bán giữa các nhà đầu tư với nhau).
- Thị trường phi tập trung (thị trường giao dịch tự do – OTC) với thị trường tập trung (các sở giao dịch chứng khoán hay “Sàn” chứng khoán).
- Thị trường giao ngay (mua và nhận ngay chứng khoán, muộn nhất là một vài ngày như T+2, T+3 chẳng hạn) với thị trường kỳ hạn hay thị trường tương lai (việc giao nhận chứng khoán diễn ra sau vài tháng).
Thị trường chứng khoán không giống với các thị trường các hàng hoá thông thường,các chợ hay siêu thị – nơi mua bán các hàng hóa cơ bản khác vì hàng hoá của thịtrường chứng khoán là loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản Loại hànghoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng
Tóm lại, bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của
vốn đầu tư nào đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn haygiá cả của vốn đầu tư Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nềnsản xuất và lưu thông hàng hoá
2. Vai trò
Trang 10Thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, trong đó có thểphân loại cụ thể vai trò của thị trường chứng khoán đối với 3 chủ thể tác động trựctiếp lên nền kinh tế là: chính phủ, doanh nghiệp và nhà đầu tư.
2.1.Vai trò của thị trường chứng khoán tới chính phủ
Trong nền kinh tế quốc dân, vai trò của TTCK tới chính phủ được thể hiện ở nhiều khía cạnh:
Thứ nhất, giúp huy động và sử dụng nguồn vốn hiệu quả Vốn của chính phủ được
huy động qua việc bán trái phiếu để đầu tư vào các dự án của nhà nước
Thứ hai, giúp thúc đẩy quá trình cổ phần hóa đối với các doanh nghiệp nhà nước
(doanh nghiệp quốc doanh)
Thứ ba, góp phần giúp chính phủ thực hiện các chính sách tiền tệ hiệu quả qua việc
mua bán trái nhiều nhằm điều chỉnh sự tăng giảm của lãi suất thị trường
Thứ tư, giúp bán cổ phiếu ra nước ngoài, giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam
2.2.Vai trò của thị trường chứng khoán đối với các doanh nghiệp
TTCK là một giải pháp huy động nguồn vốn kinh doanh hiệu quả cho doanh nghiệpqua việc bán trái nhiều hoặc cổ phiếu cho các nhà đầu tư Qua đó, doanh nghiệp vừakhông cần phải đi vay vốn trả lãi cao cho ngân hàng, vừa tạo ra được tính thanh khoảnlinh động cho công ty
Thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường, TTCK giúp thể hiện chính xác vàtổng quát các giá trị hữu hình và vô hình của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế
Qua đó giúp phát triển một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng, từ đó gópphần làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, tạo động lực cho việc áp dụng công nghệ hiệnđại vào cải tiến sản phẩm, dịch vụ
2.3.Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nhà đầu tư.
TTCK cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn đầu tư đa dạng và tối thiểu hóa các rủi
ro trong đầu tư Qua đó, các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm được cho mình một doanhnghiệp phù hợp nhất để góp vốn đầu tư
Nhờ có TTCK, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành
Trang 11tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản (khả
Trang 12năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoánđối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư.Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả thị càng có khảnăng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường.
Tập trung huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thông qua các giao dịch trên được thực hiện trên TTCK sơ cấp, các nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội… được huyđộng và tập trung để tạo vốn cho tổ chức phát hành Thông qua phát hành trái phiếu,Nhà nước huy động vốn để thực hiện các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,các công trình công cộng, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Cácdoanh nghiệp sử dụng vốn huy động được qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu để đầu
tư đổi mới công nghệ, phát triển thị trường, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh,củng cố và nâng cao vị thế doanh nghiệp trên thương trường
Điều tiết các nguồn vốn trong nền kinh tế
TTCK nói chung, TTCK thứ cấp nói riêng là nơi tạo tính thanh khoản cho các loạichứng khoán Thông qua thị trường này nhà đầu tư có thể thu hồi vốn hoặc chuyểnvốn đầu tư một cách dễ dàng thông qua hoạt động bán và mua các loại chứng khoán.Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những doanh nghiệp thành đạt,không ít doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh thấp kém, thậm chí có nguy cơ phá sản.Những doanh nghiệp này có thể phải chấp nhận giải pháp thu hẹp phạm vi kinhdoanh ở một lĩnh vực nào đó bằng cách rút bớt vốn đầu tư khỏi các hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp để đầu tư vào một lĩnh vực khác thông qua việc muacác chứng khoán đang được giao dịch trên TTCK Điều đó cũng đồng nghĩa với việcvốn đầu tư tự phát điều tiết từ các ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng thấp sangcác ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng cao hơn
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnhvới các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau
Trang 13về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn
Trang 14cho loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình Chính vì vậy,thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
Phản ánh tình trạng của nền kinh tế
Các chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế một cáchnhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng,nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệutiêu cực của nền kinh tế
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá trị tài sản của doanh nghiệp và của cả nềnkinh tế 1 cách tổng hợp và chính xác từ đó tạo môi trường cạnh tranh nhằm nâng caohiệu quả sử dụng vốn kích thích áp dụng công nghệ mới cải tiến sản phẩm
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ môThông qua thị trường chứng khoán, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu nhằm tạo
ra nguồn thu bù đắp thâm hụt nhân sự và kiềm chế lạm phát Ngoài ra chính phủ có thể
sử dụng một số chính sách biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm địnhhướng đầu tư bảo đảm cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
III.Phân loại thị trường chứng khoán
1. Căn cứ vào phương thức tổ chức và giao dịch
Thị trường chứng khoán phân thành thị trường chứng khoán tập trung và phi tập trung
1.1.Thị trường chứng khoán tập trung:
Là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại mộtđiểm tập trung gọi là sàn giao dịch của SGDCK Thị trường này hoạt động theo quyđịnh của pháp luật, thời gian biểu của việc giao dịch được quy định rõ Các chứngkhoán được niêm yết tại SGDCK thường là những chứng khoán của những công ty
có quy mô vốn lớn, có “uy tín”, kinh doanh có lãi và phải đáp ứng yêu cầu của thịtrường giao dịch chứng khoán tập trung (để chứng khoán của một công ty được pháthành thì chứng khoán của công ty phải được đăng ký yết giá, đồng thời công ty đóphải thỏa mãn các điều kiện cần thiết về qui mô vốn, về số lượng chứng khoán đãphát hành, về hiệu quả kinh doanh trong thời gian gần đây, các khoản vay và nghĩa vụ
Trang 15tài chính nếu có v.v….để hạn chế khả năng rủi ro sau khi niệm yết giá trên thị trườngchứng khoán Sau khi được Sở giao dịch chấp nhận, chứng khoán được đăng ký vàodanh bạ của SGDCK và thường xuyên được niêm yết giá trên Sở giao dịch) Hoạt độngcủa các sở giao dịch này nhằm cung cấp cho những người có hoạt động mua, bánchứng khoán các phương tiện và dịch vụ cần thiết và tốt nhất để tiến hành giao dịch, ví
dụ như: dịch vụ thanh toán, lưu ký chứng khoán, hệ thống máy tính nối mạng, hệ thốngbảng giá điện tử để yết giá chứng khoán, hệ thống ghép lệnh mua và bán chứng
khoán Ví dụ các thị trường giao dịch tập trung như SGDCK ở NewYork, SGDCK
Tokyo, SGDCK Paris, SGDCK London,…
Trong quá trình hình thành và phát triển của mạng lưới thị trường chứng khoán, thịtrường giao dịch tập trung đã được tổ chức thành địa điểm cụ thể Hiện nay, do việcứng dụng khoa học công nghệ nên giao dịch của thị trường giao dịch tập trung có thểđược tiến hành qua mạng thông tin Tại Việt Nam, trong thời gian đầu thành lập và tổchức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung, địa điểm giao dịch là trung tâm giaodịch chứng khoán
SGDCK là thị trường có tổ chức, nơi chứng khoán được mua bán thông qua các thànhviên của Sở giao dịch dưới các là chủ thế môi giới hoặc chính chủ Các nhà môi giớinày nếu muốn hoạt động tại Sở giao dịch phải làm thủ tục đăng ký để có chỗ trong Sở.Bên có nhu cầu mua và bán chứng khoán sẽ thông qua các nhà môi giới để đưa ra cáclệnh mua và bán chứng khoán Sau khi nhận lệnh, các nhà môi giới sẽ đến gặp nhau tạimột nơi ở trung tâm của Sở giao dịch gọi là Sàn giao dịch đến tiến hành đàm phán.Trong thị trường giao dịch tập trung, người dùng thực hiện việc nạp tiền vào sàn giaodịch nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch Nguồn vốn này sẽ được kiểmsoát bởi một dịch vụ giao dịch trung gian Có thể hiểu điều này có nghĩa là sổ lệnh,cũng như quyền lưu ký, đều nằm trong tay của dịch vụ nền tảng sàn tập trung
1.2.Thị trường chứng khoán phi tập chung
1.2.1. Thị trường giao dịch qua quầy – Thị trường OTC
Là thị trường trong đó việc giao dịch không diễn ra tại một thời điểm tập trung màthông qua hệ thống nối mạng giữu các thành viên và sự can thiệp của cơ quan Nhà
Trang 16nước có thẩm quyền hạn chế, không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thỏathuận của người mua và người bán Các chứng khoán được mua bán trên thị trườngOTC thường có mức độ “ uy tín” thấp hơn các chứng khoán được niêm yết trênSGDCK Trên thị trường OTC có nhiều loại chứng khoán được giao dịch hơn trênSGDCK Những chứng khoán được giao dịch trên thị trường OTC có thể bao gồm cổphiếu, trái phiếu của các công ty cổ phần, trái phiếu, công phiếu của chính quyền địaphương và Chính phủ; chứng khoán nước ngoài
Thành viên của thị trường OTC có thể kinh doanh trên một lĩnh vực nhất định của thị
trường phi tập trung hoặc hoạt động trên tất cả các lĩnh vực như bảo lãnh phát hành,môi giới chứng khoán, tự doanh, tư vấn đầu tư chứng khoán
Địa điểm giao dịch của thị trường phi tập trung không cần phải thông qua thị trường
giao dịch mà được tiến hành theo cơ chế chào hàng cạnh tranh và các phương tiệnthông tin đại chúng để thương lượng Thị trường phi tập trung sử dụng nhiều thiết bị
kĩ thuật số khác nhau để giao tiếp và hiển thị giá hỏi mua và giá chào bán trên thực tế.Trên cơ sở đó người mua và người bán và bên môi giới không cần phải ở cùng mộtnơi để giao dịch chứng khoán
Các phương thức giao dịch trên thị trường giao dịch phi tập trung bao gồm 3 phương
thức giao dịch chủ yếu: Phương thức giao dịch thỏa thuận giản đơn; Phương thức giaodịch báo giá và Phương thức giao dịch có sự tham gia của nhà tạo lập thị trường
Trong thị trường giao dịch phi tập trung, người dùng sẽ tiến hành việc giao dịch trựctiếp với các chủ thể khác mà không cần một máy chủ trung tâm Không có một dịch
vụ nền tảng tập trung sở hữu sổ lệnh và quyền lưu ký Do đó, tiền được kiểm soátbởi người dùng và các bên tham gia trong nền tảng này
Sàn giao dịch phi tập trung được sở hữu và điều khiển bởi tất cả các bên tham gia vìvậy không có một bên nào có được quyền lưu giữ nguồn vốn của khách hàng Việckiểm soát tiền luôn nằm trong tay của người dùng nhờ có cấu trúc mạng lưới nganghàng Các giao dịch diễn ra giữa các bên trong mạng lưới bằng các hợp đồng thôngminh, và có thể được điều chỉnh bởi các bên tham gia Người dùng có thể kiểm soátnguồn vốn của họ mọi lúc với sàn giao dịch phi tập trung
Trang 17Tại Việt Nam, thị trường giao dịch phi tập trung trong thời gian qua dù đã bớt sốt so
với vài năm trước, nhưng cổ phiếu OTC vẫn là một trong những kênh đầu tư hấp dẫnkhông kém các cổ phiếu trên thị trường tập trung và thu hút số lượng các giao dịchtăng lên đáng kể
Nền kinh tế Việt Nam có hơn 1 triệu doanh nghiệp lớn nhỏ, tuy nhiên chỉ có vài trămdoanh nghiệp được niêm yết trên sàn tập trung (chiếm khoảng 1%) Việc được niêmyết trên sàn tâp trung đòi hỏi những điều kiện cao hơn sàn phi tập trung, tuy nhiên sosánh trong điều kiện phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam thì phần lớn chưa đápứng được những điều kiện của sàn tập trung Do đó, sàn OTC tạo ra cơ hội đầu tư vôcùng đa dạng cho bên cần giao dịch vì trên sàn giao dịch phi tập trung các bên có nhucầu giao dịch đều có thể tìm hiểu và mua hàng trăm, thâm chí là hàng nghìn mã cổphiếu OTC với giá hấp dẫn Nếu phân tích và có chiến lược giao dịch mua bán chứngkhoán đúng đắn, thị trường OTC có thể sẽ giúp sinh lợi gấp nhiều lần so với cổ phiếutruyền thống
Đầu tư cổ phiếu OTC tại Việt Nam trong những năm qua đã mang lại những lợi nhuậnrất cao, đặc biệt phải kể đến cổ phiếu lĩnh vực ngân hàng và tài chính, và cả trong lĩnhvực bất động sản
Ví dụ như cổ phiếu của ngân hàng VPB giá khởi điểm OTC là 15 000 VND một cổ
phiếu, sau OTC lên đến 70.000 VND một cổ phiếu Cổ phiếu ngân hàng OCB khởiđiểm là 6.000 VND một cổ phiếu, sau OTC có khi lên đến 28.000 VND một cổ phiếu
Do có khả năng sinh lợi cao mà tại Việt Nam, các doanh nghiệp và các nhà đầu tư có
xu hướng tìm kiếm các cổ phiếu OTC tiềm năng để đầu tư thu lợi
1.2.2. Thị trường chứng khoán “trao tay”- chợ đen:
Là thị trường hoạt động mua bán tự do, phân tán không giống thị trường chứng khoántập trung và OTC Thị trường này không thực hiện giao dịch bằng hệ thống đấu giácủa thị trường giao dịch chứng khoán tập trung hoặc hệ thống máy vi tính của OTC màviệc mua bán diễn ra trực tiếp, trao tay giữa những người mua và người bán chứngkhoán Vì thế người ta gọi đây là thị trường “trao tay” hay “chợ đen” Trên thị trườngnày, các nhà đầu tư, chủ thế phát hành có thể trực tiếp mua, bán chứng khoán với nhau
và tự thỏa thuận về các điều kiện mua bán Có thể nói, thị trường này có tác
Trang 18dụng tích cực trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các nhà đầu tư, tuy nhiên nócũng tiềm ẩn rủi ro lớn do việc khó xác định được “ chất lượng” cũng như giá cả củacác hàng hóa- chứng khoán trên thị trường này.
2. Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch, thị trường chứng khoán được phân thành
Thị trường trao ngay (hay thị trường thời điểm): là thị trường mà việc giao dịch,
mua bán chứng khoán theo giá thỏa thuận khi ký hợp đồng, nhưng việc thanh toán vàgiao nhận diễn ra tiếp theo sau đó 1,2 và 3 ngày tùy theo quy định pháp luật mỗi nước
Thị trường giao dịch kỳ hạn: là thị trường giao dịch theo giá thỏa thuận khi ký
hợp đồng nhưng việc thanh toán và giao nhận diễn ra sau một khoảng thời gian nhấtđịnh theo quy định trong hợp đồng Thong thường giao dịch mua bán trên thị trường
là giao dịch theo đó hành vi giao nhận và thanh toán chứng khoán xảy ra vào thời hạnquy định trong hợp đồng
Thị trường giao dịch tương lai: là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp
đồng định sẵn, giá cả được thực hiện trong ngày giao dịch nhưng việc giao nhận vàthanh toán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định trong tương lai
3. Căn cứ vào quá trình luân chuyển vốn
Theo cách thức này, TTCK được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứcấp
3.1.Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (Primary Market)
Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành các chứng khoán hay là nơi mua các chứngkhoán lần đầu tiên Sự hoạt động của thị trường sơ cấp tạo ra một “kênh" thu hút, huyđộng nguồn tiền nhàn rỗi của công chứng chuyển thành vốn đầu tư cho nền kinh tế.Thông qua việc phát hành chứng khoán, Chính phủ có thêm nguồn thu để tài trợ chocác dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng của Chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốntrên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư
Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho người pháthành Đây là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hànghóa cho thị trường giao dịch Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơ cấp
Trang 19làm tăng vốn đầu tư.
Trang 20Những người bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là khobạc, ngân hàng nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành,…
Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán nhất định, trongthời gian hạn định
3.2.Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 (Secondary Market)
Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đãđược phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản
xã hội Trên thị trường này diễn ra việc mua bán giữa các nhà đầu tư, tiền thu được từviệc bán chứng khoán không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bánchứng khoán, nhượng lại quyền sở hữu chứng khoán cho nhà đầu tư khác
Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành Hoạtđộng mua bán thường xuyên trên thị trường thứ cấp đã tạo ra cơ hội cho các nhà đầu
tư liên tục mua bán chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận do chênh lệch giá
Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về cácnhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành Nóicách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành chứng khoán màchuyển vận giữa những người đầu tư chứng khoán trên thị trường Thị trường thứ cấp
là một bộ phận quan trọng của thị trường chứng khoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường
3.3.Mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau Thịtrường sơ cấp là cơ sở, tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường thứ cấp vì
đó là nơi cung cấp hàng hóa chứng khoán lưu thông trên thị trường thứ cấp Không cóthị trường sơ cấp thì không thể có sự xuất hiện của thị trường thứ cấp Thị trường thứcấp là một loại thị trường đặc biệt, nó không thể ra đời chừng nào vẫn chưa có một
Trang 21thị trường sơ cấp rộng rãi, vững chắc với nhiều loại chứng khoán đa
Trang 22dạng, phong phú, hấp dẫn nhiều nhà đầu tư và công chúng đến bỏ vốn ra để đầu tưvào chứng khoán.
Ngược lại, thị trường thứ cấp đến lượt nó là động lực, là điều kiện cho sự phát triểncủa thị trường sơ cấp Vì một khi chứng khoán đã được phát hành ra trên thị trường,nếu không có một thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo ra tính thanhkhoản cho chứng khoán thì thật khó có thể thuyết phục nhà đầu tư bỏ tiền ra muachứng khoán
Chính việc mua bán giao dịch chứng khoán trên thị trường thứ cấp làm lưu động hóavốn đầu tư, các nhà đầu tư có thể chuyển từ chứng khoán thành tiền mặt, chuyển từloại chứng khoán này sang chứng khoán khác, chuyển từ lĩnh vực đầu tư này sang lĩnhvực đầu tư khác một cách dễ dàng
Với khả năng thanh khoản cao của chứng khoán mà tính chất năng động của thị trườngthứ cấp đã hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ tiền ra mua chứng khoán Điều này chính làđiều kiện cơ bản để các nhà phát hành chứng khoán có thể bán được chứng khoán trênthị trường sơ cấp và huy động được những số vốn lớn theo nhu cầu
IV.Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Nhà phát hành chứng khoán là những cá nhân, tổ chức có thể thực hiện huy động vốnthông qua thị trường chứng khoán Các tổ chức phát hành tham gia thị trường với tưcách là người cung cấp chứng khoán - hàng hóa của thị trường chứng khoán Đây lànhững người cần tiền và huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán và bán chonhững nhà đầu tư hoặc những người kinh doanh chứng khoán Các chủ thể phát hànhbao gồm: Chính phủ, các doanh nghiệp và một số tổ chức khác như: các quỹ đầu