1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận đặc trưng thơ pháp thi đường

12 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 71,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thôi Hiệu không đứng từ xa để nhìn và làm thơ về lầu Hoàng Hạc, không miêu tả để làm nổi bật nó với những gì xung quanh, mà đứng ngay trên lầu để miêu tả mọi thứ xung quanh, qua đó lầu H

Trang 1

Đề tài: Đặc trưng thơ pháp thi đường

I Đặt vấn đề:

Ðường Luật không phải do một cá nhân hay một nhóm thi nhân cao hứng đặt ra theo

sở kiến, sở thích của mình, mà chính là sự đúc kết những kinh nghiệm kỹ thuật lâu đời đã thành công, và điển chế những thành công ấy làm khuôn phép chung cho làng thơ

Thật như vậy: từ đời Xuân Thu đến đời nhà Ðường, trên 1.000 năm, thơ Trung Quốc lần lần biến chuyển từ giản dị đến phức tạp, từ tự do đến câu thúc Thơ trong bộ Kinh Thi

do Khổng Phu Tử san định thời Xuân Thu (722- 479) trước Kỷ nguyên Thiên Chúa, số câu trong mỗi thiên, số chữ trong mỗi câu, đều không nhất định, cách hạ vần cũng tùy nghi Ðến đời Tấn (265-420), thơ mới bắt đầu khép vào khuôn là mỗi câu 5 chữ, nhưng số câu thì dài ngắn tùy hứng tùy thích của thi nhân Sang đời Lục Triều (420- 621), thi nhân lại tìm thêm một khuôn nữa là mỗi câu 7 chữ Thời ấy văn học lại xu hướng thể biền ngẫu Thẩm Ước lại xướng thiết tứ thanh, bát thể (bát bệnh) đem áp dụng vào thơ ngũ ngôn Từ ấy, thi nhân phải theo những quy tắc về âm thanh về đối ngẫu; nhưng quy tắc không mấy chặt chẽ, ngòi bút vẫn tung hoành được tự do Thi sĩ đời Ðường (618-907) phát huy phép đối ngẫu và thuyết thanh bệnh của Thẩm Ước Âm vận và cách luật được giảng cầu tinh tường : Thi Luật được sáng chế và được phần đông thi nhân hoan nghênh Người có công lớn trong việc chỉnh đốn Thi Luật là Tống Chi vấn và Thẩm Thuyên Kỳ thời Sơ Ðường Rồi từ đời Ðường đến đời Thanh (1616- 1911), trên 1.000 năm, thể thơ Ðường luật rất được phần đông thi nhân ưa chuộng

Nước Việt Nam chúng ta có thơ từ nghìn xưa Và thể thơ thông dụng nhất lá thể Lục Bát và Thể Vè 3, 4 và 5 chữ giản dị và tự do Mãi đến đời nhà Trần (1225-1400), Hàn Thuyên mới dùng thể Ðường luật để làm thơ Nôm Thi nhân đương thời nhiệt liệt hưởng ứng và từ đời Trần, sang đời Lê đến đời Nguyễn, thể Ðường luật được thịnh hành trong làng thơ Quốc âm, cũng như trong làng thơ chữ Hán và trong trường khoa cử Thơ quốc âm, cũng như trong làng thơ chữ Hán và trong trường khoa cử Thơ quốc âm làm theo thể Ðường luật, cổ nhân gọi là thơ Hàn Luật

Và để phân biệt với thơ có trước đời Ðường, thơ Cổ Thể, người ta gọi thơ làm theo thể Ðường luật là thơ Cận Thể

Thơ Đường sau khi vào Việt Nam đã được rất nhiều thi sĩ thời trung đại sử dụng và

có những tác phẩm được coi là tuyệt bút Để tìm hiểu về thơ Đường một cách cặn kẽ và cụ thể thì phải cần có thời gian nghiên cứu và tìm tòi rất nhiều tài liệu, do đó, trong khuôn khổ này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến các đặc trưng thi pháp thơ Đường ở mức ngắn gọn nhất có thể

I Tìm hiểu vấn đề:

1 Thi pháp thơ là gì?

Thuật ngữ "Thi pháp" hiện có hai nghĩa Hiểu theo nghĩa rộng, đó là những đặc điểm

về nội dung, nghệ thuật, cách lựa chọn đề tài, cách biểu hiện chủ đề , tư tưởng, phương pháp, phong cách nghệ thuật v.v của một tác phẩm văn học hoặc của một tác giả; từ đó, thấy rõ sự khác biệt giữa tác phẩm này hoặc tác giả này với tác phẩm kia hoặc tác giả kia

Ví dụ ta nói: thi pháp bài thơ Tây tiến của Quang Dũng, thi pháp Truyện Kiều, thi pháp Thơ

Trang 2

Tố Hữu, thi pháp nhà văn Nam Cao v.v Nghĩa thứ hai mà ta hiểu, đó là nghĩa hẹp, tức là Luật làm thơ, là phương pháp, cách thức hay còn gọi là kĩ thuật làm thơ Ví dụ: đặc điểm

và cách làm thơ lục bát, thơ Đường luật, thơ tự do v.v

Theo GS.TS Trần Đình Sử (GV Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội): Nếu hiểu thi pháp là học vấn về ngôn từ văn chương, thể thức, biện pháp tổ chức thể loại tác phẩm thì thi pháp đã tồn tại ở Việt Nam từ trong những sáng tác đầu tiên của dân gian và văn học viết bằng chữ Hán, rồi được phản ánh vào các bộ tuyển thơ văn, bắt đầu từ Việt âm thi tập của Phan Phu Tiên thế kỉ XV Đó là một truyền thống thi pháp quy phạm, bất biến và quy phạm hoá

Như vậy, có thể xem thi pháp thơ chính là biểu hiện cảu nội dung và nghệ thuật được tác giả sử dụng trong tác phẩm của mình Ở đây, đối với thơ Đường, thi pháp thơ sẽ được chúng tôi trình bày thành 2 mảng lớn tương tự

2 Thi pháp Thơ Đường

2.1 Nội dung:

Nội dung của thơ Đường rất phong phú khó có thể trình bày đầy đủ trong một bài giới thiệu ngắn Các sáng tác thơ Đường thường theo khuynh hướng lãng mạn tích cực ( các sáng tác của Lý Bạch là tiêu biểu), khuynh hướng hiện thực sâu sắc ( Đỗ Phủ là người mở đầu), khuynh hướng sơn thủy điền viên ( Vương Bột, Mạnh Hạo Nhiên đã đưa thơ sơn thủy Trung Quốc lên đến đỉnh cao của tình yêu thiên nhiên, khát vọng hòa hợp với thiên nhiên) hay các sáng tác của phái biên tái phản đối chiến tranh, khát vọng hòa bình Tuy nhiên, dù sáng tác theo khuynh hướng nào thì Thơ Đường cũng có một số đặc điểm về nội dung đáng chú ý sau:

2.1

1.Không gian hình tượng trong thơ Đường Không gian trong thơ Đường là loại không gian hình tượng vì khi miêu tả về nó các tác giả luôn luôn tìm cách đồng nhất các sự kiện, biến cái hữu hạn thành cái vô hạn Trong

bài “ Đăng Cao”Đỗ Phủ miêu tả:

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai Chử thanh sa bạch điểu phi hồi

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ Bất tận Trường Giang cổn cổn lai

Trên đây có ba sự kiện đựơc tả trời cao, rừng cây bát ngát, và dòng sông bất tận Rừng cây, dòng sông mà tác giả thấy là dài dằng dặc nhưng lại nhỏ bé so với cái vô cùng

của trời cao Cho dù là “Vô biên lạc mộc”, là “Bất tận Trường Giang” thì cũng là hữu hạn

so với thiên cao vô hạn Với cùng một khuynh hướng đồng nhất mô tả các sự kiện giống nhau, Đỗ Phủ đã biến cái hưũ hạn thành cái vô hạn bằng cách nhìn chúng trong một không gian ba chiều Trời càng cao, nước càng trong thì cái nhìn càng sâu, bề rộng với ngàn cây bát ngát vô biên, lá xào xạc rơi thì rừng cây càng mênh mông, sông dài càng bất tận, nước càng cuồn cuộn Từ vật nhỏ góp thành vật lớn, ngàn cây góp thành rừng bất tận, con nước làm thành sông dài Tất cả tạo nên vũ trụ mênh mông Trong không gian ba chiều ấy, rừng cây và dòng sông hòa vào trời cao làm thành vũ trụ mênh mông, choáng ngợp

Trang 3

2 Phương thức chiếm lĩnh không gian của các nhà thơ Đường

Để có được không gian hình tượng trong thơ, các thi nhân thời Đường có phương thức chiếm lĩnh không gian rất độc đáo Họ hướng đến việc chiếm lĩnh không gian theo bề cao chứ không phải theo bề rộng.Bề cao mang đến sự cảm nhận về chiều sâu, thăm thẳm và đầy

bí ẩn, không phải nghe là biết, nhìn là hiểu.Điều này mới chính là đặc trưng của thơ Đường,bình dị mà sâu sắc, đơn giản ngắn gọn mà trầm lắng sâu xa Chúng ta có thể thấy

điều này trong bài Hoàng Hạc lâu của Thôi HIệu:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch Vân thiên tải không du du Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Thôi Hiệu không đứng từ xa để nhìn và làm thơ về lầu Hoàng Hạc, không miêu tả

để làm nổi bật nó với những gì xung quanh, mà đứng ngay trên lầu để miêu tả mọi thứ xung quanh, qua đó lầu Hoàng Hạc hiện lên một cách gián tiếp.Giữa hai phương thức để miêu tả, một nhìn lên để trông thấy,một nhìn xuống để tầm nhìn mở rộng hơn.Thôi Hiệu đã chọn cách thứ hai để miêu tả lầu Hoàng Hạc.Điều đó chứng tỏ thói quen chiếm lĩnh không gian theo chiều cao trong thơ Đường.Phương thức chiếm lĩnh ấy phổ biến trong phong cách chung của thơ Đường,bất kể tác giả là người ít tên tuổi như Thôi Hiệu, hay lừng lẫy trên thi đàn như Lí Bạch hay Đỗ Phủ

2.1

3 Thơ Đường có sức khái quát cao, hàm ý súc tích:

Thơ Đường mang “ý tại ngôn ngoại” Một bài thơ chỉ vẻn vẹn có 28 chữ hoặc 56

chữ nhưng đã nói được rất nhiều điều: vừa có tình cảm của nhà thơ, vừa là sự suy ngẫm về cuộc đời, là tiếng nói tố cáo xã hội,cũng có thể là bức tranh tuyệt vời theo bút pháp: Thi trung hữu họa

Ta hãy lắng nghe tâm sự sau đây của Lí Bạch:

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu

Yên hoa tam nguyện há Dương Châu

Trang 4

Cô phàm viễn cảnh bích không tận

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

( Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)

Đây là cuộc chia li giữa Lí Bạch và bạn thơ Mạnh Hạo Nhiên.Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, phương tiện đi lại khó khăn, nên sự ra đi này của Mạnh Hạo Nhiên là không hẹn ngày gặp lại, nên càng thêm vấn vương âu sầu.Hình ảnh cánh buồm chỉ là cái bóng xa xôi lẫn vào xa xăm vời vợi của trời nước mênh mông thể hiện sự lưu luyến, buồn đau khi chia tay bạn mà không thể quay gót bước đi.Ông còn đứng đó trông theo con thuyền cho tới khi nó chỉ còn là một chấm nhỏ nơi cuối trời.Nhìn cánh buồm cô độc, chia tay bạn rồi nhà thơ cũng cô đơn như cánh buồm ấy.Bài thơ là bức tranh thiên nhiên phóng khoáng cao rộng , hơn thế là bức tranh sơn thủy thật tuyệt vời.Lý Bạch tả cảnh nơi đưa tiễn bạn, nhưng cảnh ấy lại thấm đẫm nỗi buồn đau Cái tài của Lí Bạch không chỉ dừng lại ở việc tả cảnh ngụ tình Cảnh trong thơ Lí Bạch vẫn đẹp, vẫn tươi vui nhưng vẫn nói lên được cái buồn,thêm nữa lại được phát huy trong bút pháp thi trung hữu họa, chỉ vài nét đơn sơ mà

vẽ được tình cảnh thần diệu vừa hài hòa, vừa sinh động

2.1

4 Thiên nhiên tràn ngập trong thơ Đường là một thứ thiên nhiên khái quát Thiên nhiên tràn ngập trong thơ Đường bởi các thi nhân có khuynh hướng dùng cảnh ngụ tình.Lý Bạch tả cảnh để nói lên sự lưu luyến của mình trong buổi chia tay

với Mạnh Hạo Nhiên (“Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”); Đỗ Phủ

dùng cảnh để nói lên nỗi uất hận u hoài của cuộc đời gian truân; Thôi hiệu tả lầu Hoàng Hạc với khói sóng hoàng hôn mà sầu não, nhìn khói sóng hoàng hôn mà chạnh lòng tự hỏi quê nhà giờ ở đâu trong khi phận mình vẫn lênh đênh

Nhưng nhìn ở một góc độ khác, thiên nhiên trong thơ Đường lại là một thiên nhiên khái quát Trong thơ Đường thiên nhiên ngập tràn và hầu như tuân theo một quy luật bất thành văn: đi từ cái rộng lớn đến cái nhỏ bé.Ta sẽ thấy trời cao, gió lộng, núi cao, sông dài xuất hiện nhiều nhất trong thơ sau đó mới đến rừng cây, ánh trăng, hoa cỏ Mặc dù thiên nhiên diễn tả những cung bậc tình cảm khác nhau nhưng khi xuất hiện ý nghĩa riêng của nó trong mỗi bài thơ là không thay đổi.Khi thiên nhiên xuất hiện trong tác phẩm thì nó phải được hiểu là trời cao, bao la vô tận, mây trắng bay gợi khoảng không vô tận.Con sông được

tả trong thơ bao giờ cũng là con sông dài, sóng nước mênh mông, chảy mãi không ngừng, mang theo cả thời gian,cùng cuộc sống không lấy lại được Còn trăng bao giờ cũng là vầng trăng sáng, tượng trưng cho những gì thanh cao, đẹp đẽ.Núi non thì cao vút trập trùng, cây

cỏ thì xanh tươi um tùm rậm rạp

Trang 5

Chính vì các nhà thơ Đường chỉ miêu tả trong thơ một loại thiên nhiên khái quát nên cảnh trong thơ bao giờ cũng hiện ra dưới mắt người đọc thật hùng vĩ mênh mông và khoáng đạt Cảnh bao giờ cũng có tầm cao để thấy con người nhỏ bé Thiên nhiên luôn mang một

bề rộng đến bao la vô tận để con người cảm thấy mình cô độc, lẻ loi vô cùng giữa cuộc đời này

2.2: Khuynh hướng:

Toàn bộ thơ ca đời Đường, từ thế kỉ 7 - 10 (618 - 907) Đời Đường (Tang) có hàng nghìn nhà thơ, thơ của họ được bảo tồn trong cuốn "Toàn Đường thi" gồm 48.900 bài Đời Thanh có chọn 300 bài do Hành Đường và Trần Uyển Tuấn bổ chú ("Đường thi tam bách thủ") được phổ biến rộng rãi, nhất là ở Việt Nam Có 4 giai đoạn: Sơ Đường (khoảng 618 -713), Thịnh Đường (khoảng 713 - 766), Trung Đường (khoảng 766 - 835), Vãn Đường (khoảng 835 - 907) Thời Sơ Đường, các nhà thơ mệnh danh là "Tứ kiệt" [Dương Quýnh (Yang Jiong), Lư Chiếu Lân (Lu Zhaolin), Lạc Tân Vương (Luo Binwang), Vương Bột (Wang Bo)] đã đổi được phần nào phong khí uỷ mị của thơ các triều đại trước (Lục triều) Nhưng tới Trần Tử Ngang (Chen Zi'ang) thì mới có phong trào đổi mới thi ca theo tinh thần phong nhã của "Kinh thi" và "phong cốt Hán Nguỵ", chủ trương làm thơ phải có "kí thác", nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều, và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường [Thẩm Thuyên Kỳ (Shen Shuanqi), Tống Chi Vấn (Song Zhiwen)] Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang làm thơ "kí thác" đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội Ba đại biểu lớn là Lý Bạch (Li Bai), Đỗ Phủ (Du Fu)

và Bạch Cư Dị (Bai Juyi) Màu sắc phong cách của các nhà thơ đời Đường rất khác nhau, người theo đạo Nho, người theo đạo Phật hoặc theo Lão Trang Có loại thơ "biên tái" [Cao Thích (Gao Shi), Sầm Tham (Cen Can)], thơ "điền viên" [Vương Duy (Wang Wei), Mạnh Hạo Nhiên (Meng Haoran)], thơ "tân nhạc phủ" (Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn), thơ "chính nhạc phủ" đời Vãn Đường [Bì Nhật Hưu (Pi Rixiu), Đỗ Tuấn Hạc (Du Xunhe)], theo khuynh hướng hiện thực của Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị Các nhà thơ sáng tác theo 3 thể chính: thơ luật (x Thơ luật Đường), thơ cổ phong (x Cổ phong) và nhạc phủ (x Nhạc phủ) Những bài thơ hay nhất của Lý Bạch là thơ nhạc phủ và các bài cổ phong thích hợp với phong cách phóng túng của ông Đỗ Phủ thì dùng thể cổ phong khi làm thơ hiện thực và dùng thể luật thi khi làm thơ trữ tình Về nội dung cũng như về nghệ thuật, khó tìm được những đặc điểm chung cho bấy nhiêu nhà thơ, sống ở nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tư tưởng sở thích cũng khác nhau Nhưng về ngôn ngữ, TĐ tinh luyện, súc tích, chọn lọc, âm điệu hài hoà, đa dạng, phong phú Các nhà thơ Đường không nói hết ý mình khi làm thơ (ý ngoài lời); đó là một cách làm cho người đọc cùng tham gia với nhà thơ trong việc thưởng thức bài thơ Đời Đường được xem là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc thời phong

Trang 6

kiến Và người nước ngoài thường chỉ biết ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ

và Bạch Cư Dị

I.3 Hình thức, nghệ thuật:

I.3.1 Luật:

Trong thơ Đường luật, một bài thơ phải đáp ứng được các yêu cầu về luật bằng trắc, niêm vận, cấu trúc và đối xứng của bài thơ Giá trị của bài thơ, ngoài ý tứ thì dựa chặt chẽ vào các qui định này Trong đó, luật là cách sắp đặt tiếng bằng và tiếng trắc trong các câu của bài thơ, nhất định buộc nhà làm thơ phải theo đúng mà đặt

Điều căn bản của luật thơ Đường là đối, đó là hai nguyên tắc đối âm và đối ý Nghĩa

là lần lượt những chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3, của câu trên phải đối với các chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3, của câu dưới cả về âm và ý Nhưng làm được như thế thì rất khó, vì vậy người ta quy ước Nhất tam ngũ bất luật (chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần theo luật)

- Đối âm: Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc, và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có "luật bằng"; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi

là bài có "luật trắc" Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu,

và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này

Ví dụ: xét câu "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà" trong bài Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan, có các chữ "tới" (thứ 2) và "xế" (thứ 6) giống nhau vì đều là thanh trắc còn chữ "Ngang" là thanh bằng thì đó là bài thất ngôn bát cú luật trắc

Luật bằng trắc trong thể Thất ngôn tứ tuyệt và Thất ngôn bát cú có thể nôm na liệt kê như sau, nếu chỉ vần bằng bằng chữ "B", vần trắc bằng chứ "T", những vần không có luật

để trống, thì luật trong các chữ thứ 2-4-6-7 có thể viết là:<thơ và pt>

-Đối ý: Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường là ý nghĩa của hai câu 3 và 4 phải

"đối" nhau và hai câu 5, 6 cũng "đối" nhau Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy) nhưng bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các

từ ngữ Đối chữ; danh từ đối danh từ, động từ đối động từ Đối cảnh; trên đối dưới, cảnh động đối cảnh tĩnh Nếu một bài thơ Đường mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không đối nhau thì bị gọi "thất đối"

Ví dụ: hai câu 3, 4 trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Trang 7

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà,2

"Lom khom" đối với "lác đác" (hình thể và số lượng - thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh), "dưới núi" đối với "bên sông" (vị trí địa hình), song nếu nối hình ảnh hai câu trên "lom khom dưới núi" và "lác đác bên sông" thì vì một câu diễn tả về cảnh động, còn một câu diễn tả về cảnh tĩnh, nên sự đối lập có thể chấp nhận được Một điểm nên chú ý là cách dùng từ láy âm "lom khom" chỉ dáng người của câu trên,

và "lác đác" chỉ số lượng của câu dưới Hai vế tiếp: "tiều vài chú" đối với "chợ mấy nhà" (đối lập về số lượng và tĩnh/động) Sự đối lập của hai vế cuối có thể coi là hoàn chỉnh

2.3.2 Niêm:

* Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là "những câu niêm với nhau" (niêm = giữ cứng, ở đây được hiểu là giữ giống nhau về luật) Hai câu thơ

niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc

cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc

* Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:

+ câu 1 niêm với câu 8

+ câu 2 niêm với câu 3

+ câu 4 niêm với câu 5

+ câu 6 niêm với câu 7

Thất niêm: Trong một bài thơ, nếu cả câu thơ đặt sai luật, như đáng lẽ bắt đầu bằn bằng, bằng mà đặt lại làm trắc, trắc hoặc ngược lại làm cho các câu thơ không niêm với nhau thì gọi là thất niêm (mất sự kết dính)

- Trong thơ Đường luật Việt Nam trung đại có khá nhiều bài thơ thất niêm, trong đó nổi

tiếng hơn cả là Độc Tiểu Thanh ký – Nguyễn Du (Hán) và Đèo Ba Dội – Hồ Xuân Hương

(Nôm)

+ Chẳng hạn xét 1 ví dụ nhỏ về thất niêm trong bài thơ Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương

Một đèo, một đèo, lại một đèo,

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo Cửa son đỏ loét tùm hum nóc, Hòn đá xanh rì lún phún rêu

Trang 8

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc, Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo Hiền nhân, quân tử ai là chẳng

Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo

Bài thơ thất niêm ở chữ thứ hai của dòng 1: đèo, đáng lẽ nó phải mang thanh trắc để tương xưng với gối (chữ 2 câu 8), nó thất niêm vì nữ sĩ đã tránh từ tục mà nói chệch đi, vì

vậy, từ bị biến thanh, bị làm cho chệch đi, để người đọc nhận thấy mà chuyển đổi, đưa nó

về nguyên dạng!

2.3.3: Vần

Cách Gieo Vần-Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một

- Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi Ví dụ: Vần ôi thì đi với ôi, vần ta thì đi với

- Trong bài thơ có 5 vần được gieo ở cuối câu đầu (tức câu số 1) và ở cuối các câu chẵn

- Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó) Ví dụ: hòn, non, mòn, con Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo

âm điệu trong thơ Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2,

4, 6 và 8 Những câu này được gọi là "vần với nhau" Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi "thất vận"

Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là "vần chính", những chữ có vần gần giống nhau gọi là "vần thông" Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ

Ví dụ: hai câu 1, 2 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

hai chữ "tà" và "hoa" được xem là vần với nhau, nhưng ở đây là "vần thông" vì chỉ phát âm gần giống nhau

2.3.4 Bố cục]

Trang 9

Bố cục một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo truyền thống thường được chia gồm 4 phần: Đề, Thực (hoặc Trạng), Luận, Kết "Đề" gồm 2 câu đầu trong đó câu đầu tiên gọi là câu phá đề, câu thứ 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đi vào phần sau "Thực" gồm 2 câu tiếp theo, giải thích rõ ý đầu bài "Luận" gồm 2 câu tiếp theo nữa, bình luận 2 câu thực "Kết" là 2 câu cuối, kết thúc ý toàn bài, trong đó câu số 7 là câu "thúc" (hay

"chuyển") và câu cuối là "hợp"

Có người cho rằng Hai câu đề giới thiệu về thời gian, không gian, sự vật, sự việc Hai câu thực trình bày, mô tả sự vật, sự việc Hai câu luận diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm xúc về

sự vật, hiện tượng Hai câu kết khải quát toàn bộ nội dung bài theo hướng mở rộng và nâng cao

Thơ thất Ngôn Bát Cú có luật lệ gò bó khó làm nhất nhưng chính điều đó lại được người xưa ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm ý chí, ngâm vịnh, xướng họa Và trong tất cả các kỳ thi xưa đều bắt thí sinh phải làm

Tại quê hương của Đường thi cũng là nơi mà phong trào tập cổ, sáng tác thơ Đường luật rầm rộ nhất, lý luận thi pháp thơ Đường luật Trung Quốc không có khái niệm Đề, Thực, Luận, Kết mà thay bằng khái niệm đầu liên, hàm liên, cảnh liên, vĩ liên, nói ngắn gọn bằng

tổ hợp bốn từ Khởi (khai), Thừa, Chuyển, Hợp Tuy nhiên cách phân chia này cũng không khác gì cách phân Đề, Thực, Luận, Kết về mặt ý nghĩa

Một quan niệm khác áp dụng cấu trúc 2-4-2 cho bài thơ thất ngôn bát cú Theo đó quan niệm này đứng ở góc độ không gian-thời gian nghệ thuật để khảo sát toàn bài dựa theo logic hai câu đầu và hai câu cuối bài thơ Đường luật thường yếu tố thời gian chiếm vị trí chủ đạo, còn bốn câu giữa trật tự không gian là chủ đạo và tác giả dường như dừng lại để quan sát sự vật

Cũng cần nhắc đến quan điểm “Cảnh-Tình” của Kim Thánh Thán khi chia bài thất ngôn bát cú thành hai phần đều nhau, theo đó bốn câu trên của bài nặng về cảnh và bốn câu dưới nặng về tình

Hiện nay, các nhà nghiên cứu có xu hướng không cố tìm quy luật chung về bố cục để

áp dụng trong hàng loạt bài thơ mà áp dụng quan điểm nghiên cứu đã có từ thời Minh mạt Thanh sơ ở Trung Hoa, quan điểm bám sát và tuân thủ cách phân chia bố cục của từng bài thơ theo mạch cảm xúc của thi nhân biểu hiện trong bài Một ví dụ là bài thơ hết sức nổi tiếng Qua đèo Ngang củaBà Huyện Thanh Quan hoàn toàn có thể được phân tách theo bố cục 1/6, hoặc bài Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến có thể bố cục 6/1 hoặc 1/5/1

I.4 Một số dạng thơ:

2.4.1 Thể thơ thất ngôn bát cú:

1 Nguồn gốc thể thơ:

Thơ thất ngôn bát cú thật ra là loại cổ thi xuất hiện rất sớm bên Trung Quốc, đến đời Đường mới được các nhà thơ đặt lại các quy tắc cho cụ thể, rõ ràng và từ đó phát triển mạnh mẽ Đây là loại thơ mà mỗi bài thơ thường có tám câu, mỗi câu 7 chữ, tuân theo các quy tắc hết sức chặt chẽ:

Trang 10

2 Các quy tắc:

a/ Dàn ý: thông thường chia làm 4 phần:

_ Đề (câu 1 – 2): Câu thứ nhất là câu phá đề (mở ý cho đầu bài) Câu thứ hai là câu thừa

đề (tiếp ý của phá đề để chuyển vào thân bài)

_ Thực (câu 3 – 4): Còn gọi là cặp trạng, nhiệm vụ giải thích rõ ý chính của đầu bài _ Luận (câu 5 – 6): Phát triển rộng ý đề bài

_ Kết (hai câu cuối): Kết thúc ý toàn bài

b/ Vần: thường được gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8

c/ Ngắt nhịp: thường ngắt nhịp 2/2/3; 4/3

d/ Đối: Có 2 cặp đối: Câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6, đối ở 3 mặt: đối thanh, đối từ loại và đối nghĩa Nghĩa có thể đối một trong hai ý: đối tương hổ hay đối tương phản

e/ Niêm: Câu 1 niêm với câu 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7, tạo âm điệu và sự gắn kết giữa các câu thơ với nhau

f/ Luật bằng trắc: thường căn cứ vào tiếng thứ hai trong câu một Nếu tiếng thứ hai là thanh bằng ta nói bài thơ ấy viết theo luật bằng; nếu tiếng thứ hai là thanh trắc

ta nói bài thơ viết theo luật trắc Luật bằng trắc trong từng câu quy định: Nhất, tam, ngũ bất luận Nhị, tứ, lục phân minh

 Chẳng hạn bài thơ viết theo luật bằng sau: Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu

Câu 1: Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,

B _T B

Câu 2: Chạy mỏi chân thì hãy ở tù,

T B T

Câu 3: Đã khách không nhà trong bốn biển,

_T B _ T

Câu 4: Lại người có tội giữa năm châu

_B _T B

Một số biệt thể của thể thơ: Trong quá trình sử dụng, các nhà thơ đã sáng tạo thêm nhiều biệt thể mới của thể thơ Đường luật như:

_ Tiệt hạ: ý, lời mỗi câu thơ đều lơ lửng tuỳ người đọc suy nghĩ

Yết hậu: thơ tứ tuyệt mà câu cuối chỉ có một vài chữ

_ Thủ vĩ ngâm: câu tám lập lại y hệt câu một

_ Vĩ tam thanh: cuối mỗi câu có từ láy ba

Ngày đăng: 12/03/2022, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w