Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trách nhiệm pháp lý là một trong những vấn đề quan trong của lý luận về pháp luật, nó giúp ngăn ngừa, giáo dục và cải tạo những hành vi vi phạm pháp luật, chủ thể phải chịu hậu quả về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỉ luật trước pháp luật, đồng thời giáo dục mọi người có ý thức tôn trọng, chấp hành đúng theo quy định pháp luật Từ những quy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý, người dân có lòng tin và tin tưởng vào hệ thống pháp luật, cũng như góp phần xây dựng một xã hội trận tự, an toàn, văn minh, không tệ nạn xã hội và phát triển bền vững
Chính vì thế Nhà nước đã cho ra đời nhiều bộ luật liên quan đến Trách nhiệm pháp lý, có thể nói nó là một vấn đề chuyên sâu và bao hàm nhiều lĩnh vực Để có thể tìm hiểu và nghiên cứu một cách đầy đủ và chính xác bài luận sẽ trình bày vấn
đề về “ Trách nhiệm pháp lý Khái niệm, đặc điểm và các loại trách nhiệm pháp lý ” nhằm nắm rõ các vấn đề liên quan và phân biệt các loại trách nhiệm pháp lý trên cơ
sở sử dụng phương pháp nghiên cứu sử dụng tài liệu và phương pháp nghiên cứu so sánh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
A TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ………
I KHÁI NIỆM………
II ĐẶC ĐIỂM………
III PHÂN LOẠI TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ………
IV NĂNG LỰC TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ……….
V TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ………
B CÁC LOẠI TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ………
I TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ………
II TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ……….
III TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH………
IV TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT………
V MỘT SỐ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ KHÁC……….
C TỔNG KẾT………
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kết luận: Rất mong phần trình bày này sẽ giúp chúng ta có thêm những kiến thức
cơ bản và thực tiễn về “ Trách nhiệm pháp lý ” , một vấn đề mà chúng ta phải tiếp xúc thường xuyên trong xã hội, từ đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân
Trang 3A TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
I KHÁI NIỆM
Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu do
pháp luật quy định vì hành vi vi phạm pháp luật của mình (hoặc của người mà mình bảo lãnh hoặc giám hộ) Khác với các loại hình trách nhiệm khác, trách nhiệm pháp
lí luôn gắn liền với sự cưỡng chế nhà nước, với việc áp dụng chế tài do pháp luật quy định
II ĐẶC ĐIỂM
Trách nhiệm pháp lý có các đặc điểm sau:
Trách nhiệm pháp lý là loại trách nhiệm do pháp luật quy định, đây là quy định khác biệt so với các loại trách nhiệm như trách nhiệm tôn giáo, trách nhiệm đạo đức…
Trách nhiệm pháp lý luôn gắn với các biện pháp cưỡng chế của nhà nước
Chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật phải gánh chịu hậu quả, chịu trách nhiệm pháp lý trước pháp luật
Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bắt buộc chủ thể phải gánh chịu như thiệt hại
về tài sản, về nhân thân…mà trong phần chế tài của quy phạm pháp luật quy định
Khi có thiệt hại xảy ra mà được pháp luật quy định thì phát sinh trách nhiệm pháp luật
III PHÂN LOẠI TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm kỷ luật
IV NĂNG LỰC TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng của cá nhân hay tổ chức gánh chịu hậu quả bất lợi, biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật
Có thể hiểu Trách nhiệm pháp lí: là một loại quan hệ đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) và chủ thể vi phạm, trong đó nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật đối với chủ thể vị phạm pháp luật và chủ thể đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần do hành vi của mình gây ra
Trang 4Trách nhiệm pháp lý còn là việc cá nhân, tổ chức cần phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ hành vi gây ra cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trách nhiệm hình sự, hành chính và bồi thường dân sự
V TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một hoạt động thể hiện tính quyền lực của nhà nước do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật
Đây là hoạt động có trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ do pháp luật quy định để
có thể bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật, tính chính xác của hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý, hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm có thể xảy
ra, tránh hiện tượng oan sai, bỏ lọt vi phạm
Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý sẽ dựa trên hành vi vi phạm, căn cứ vào hậu
quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm gây ra, căn cứ vào lỗi của chủ thể, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hội cho xã hội do hành vi đó gây ra,…
Trang 5B CÁC LOẠI TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
I TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự
a) Khái niệm
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lí, bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích
b) Đặc điểm
Dưới góc độ của khoa học pháp lý, trách nhiệm hình sự có các đặc điểm cơ bản sau:
Trách nhiệm hình sự là “ hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở chỗ người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước nhà nước”
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý Là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa
vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu Trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích
2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Cơ sở của trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 2 của Bộ luật hình sự: “1 Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự
2.Chỉ pháp nhận thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Việc quy định tại điều 2 có ý nghĩa rất lớn, bởi theo đó thì chỉ khi nào người thực hiện hành vi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể mới
Trang 6phải chịu trách nhiệm hình sự Quy định như vậy giúp đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Về mặt khách quan: một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi là cách cư xử của con người ra thế giới khách quan được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có hành vi phạm tội Hành vi đó có thể gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội
Về mặt chủ quan: cơ sở của trách nhiệm hình sự dựa trên yếu tố “lỗi” của
người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Lỗi được dựa trên quan điểm chủ quan của người phạm tội
Về mặt khách thể: Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội phải
xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Đây là dấu hiệu bắt buộc để xác định có cấu thành tội phạm hay không Ngoài ra có các dấu hiệu không bắt buộc như: đối tượng của tội phạm, người bị hại
Về mặt chủ thể: chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình
sư, tức là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi của mình Người đó phải đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điều 12 của Bộ luật hình sự
Ví dụ minh họa: Anh D với anh H cãi nhau về đất đai, trong lúc say rượu anh D đã
đánh anh H trong trạng thái tinh thần kích động mạnh gây tổn thương sức khỏe, tỉ lệ tổn thương cơ thể là 32% , anh D phải chịu trách nhiệm hình sự trước hành vi của mình
II TRÁC NHIỆM DÂN SỰ
1 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm dân sự
a) Khái niệm
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị hại, là hậu quả pháp lý bất lợi, áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân sự để buộc chủ thể này phải khắc phục những tổn thất đã gây ra
b) Đặc điểm
Trang 7Như đã khẳng định ở trên, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý nói chung, nên giống như các loại trách nhiệm pháp lý khác, nó cũng có những đặc điểm chung sau đây:
Là hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm, chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ áp dụng đối với người có hành vi vi phạm đó
Là một hình thức cưỡng chế của nhà nước và do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước áp dụng
Luôn mang dến một hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm
Ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm dân sự còn mang những đặc điểm riêng như sau:
Căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự là hành vi vi phạm luật dân sự hoặc vi phạm hợp đồng (đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự)
Trách nhiệm dân sự mang tính tài sản Đây chính là đặc điểm cơ bản của trách nhiệm dân sự Do đó, trách nhiệm dân sự của người vi phạm bao giờ cũng là sự bù đắp cho bên vi phạm những lợi ích vật chất nhất định
Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự có thể là người vi phạm nhưng cũng
có thể là người khác, như là người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên, pháp nhân, cơ quan, tổ chức
Hậu quả bất lợi mà người vi phạm phải chịu là việc bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và khắc phục vật chất cho bên vi phạm
2 Cơ sở của trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự phát sinh khi cá nhân, tổ chức vi phạm sự thỏa thuận trong giao dịch dân sự, hay có lỗi trong việc thực hiện hành vi gây thiệt hại đối với người khác
Sự thỏa thuận của các bên là cơ sở hình thành nghĩa vụ dân sự
Vậy nên, việc vi phạm nghĩa vụ dân sự là căn cứ phát sinh trách nhiệm đối với các chủ thể
Ngoài ra, còn phải dựa vào việc vi phạm nghĩa vụ đấy có gây ra thiệt hại cụ thể
và có mối quan hệ nhân quả giữa nghĩa vụ và thiệt hại hay không?
Trang 8Như vậy, trách nhiệm bồi thường chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố như: lỗi,
có thiệt hại vật chất xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi không thực hiện nghĩa vụ và thiệt hại vật chất
Ví dụ minh họa: Chị A có vay tiền của anh B, số tiền là 100.000.000 đồng, hai bên
ký hợp đồng vay tiền với thời hạn là 1 năm ( từ 25/8/2020 đến 25/8/2021) với lãi suất 1% Đến thời điểm thanh toán, nếu chị B không trả đủ tiền theo thỏa thuận, chị
A phải chịu trách nhiệm pháp lý về dân sự (trách nhiệm dân sự) như trả đủ tiền gốc
và lãi, bồi thường thiệt hại và chịu phạt vi phạm theo thỏa thuận
III TRẮCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
Quản lý Nhà Nước là một hoạt đông quan trọng và cần thiết nhằm quản lý các mối quan hệ xã hội theo một quy luật nhất định Chính vì nhu cầu quản lý cấp thiết
đó, Nhà Nước cho ra đời Luật Hành chính để quản lý và đảm bảo các mối quan hệ
xã hội trên
1 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính
a) Khái niệm
Trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý, là quan hệ pháp luật đặc thù xuất hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, trong đó thể hiện sự đánh giá phủ nhận về pháp lý và đạo đức đối với hành vi vi phạm hành chính và người vi phạm ( cá nhân hay tổ chức ) phải chịu những hậu quả bất lợi, những sự tước đoạt về vật chất hay tinh thần tương ứng với vi phạm đã gây ra
b) Đặc điểm
Trách nhiệm hành chính chỉ đặt ra đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
Truy cứu trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm là việc chủ thể có thẩm quyền áp dụng một trong các hình thức xử phạt đối với cá nhân,
tổ chức này
Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân vi phạm trước Nhà nước Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước và chỉ Nhà nước mới có quyền áp dụng chế tài đối với các chủ thể đó, do vậy trách nhiệm của cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trước Nhà nước
Việc truy cứu trách nhiệm hành chính được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính
Trang 92 Cơ sở của trách nhiệm hành chính
Cơ sở phát sinh bất cứ loại trách nhiệm pháp lý nào cũng đều là vi phạm pháp luật Không có vi phạm pháp luật thì không thể truy cứu trách nhiệm pháp lý Như
vậy, cơ sở phát sinh trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính
Cấu thành vi phạm hành chính
Mặt khách quan của vi phạm hành chính à những dấu hiệu bên ngoài của
VPHC, bao gồm:
Hành vi trái pháp luật : vi phạm hành chính phải là hành vi (hành động hoặc không hành động)
Pháp luật cấm
Không thực hiện hành vi pháp luật buộc phải thực hiện
Không thực hiện đúng những gì pháp luật yêu cầu
Có tính nguy hiểm cho xã hội
Hậu qủa do VPHC gây ra:
Xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ (trật tự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, sở hữu nhà nước, là quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân), bao gồm hậu qủa vật chất và hậu qủa phi vật chất
Mối liên hệ nhân qủa: Với các vi phạm hành chính mà hậu quả là yếu
tố bắt buộc thì phải xác định giữa hành vi vi phạm và hậu quá có quan
hệ nhân quả trực tiếp
Thời gian, địa điểm: Cũng tương tự mối quan hệ nhân quả, đây không phải là yếu tố bắt buộc trong mặt khách quan của cấu thành vi phạm hành chính, chỉ đối với những vi phạm hành chính nhất định thì địa điểm, thời gian mới đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định có vi phạm xảy ra hay không
Phương tiện, công cụ thực hiện vi phạm hành chính : cũng là một trong những yếu tố bắt buộc trong một số cấu thành vi phạm hành chính
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những dấu hiệu bên trong, thể
hiện thái độ, trạng thái tâm lý của người vi phạm đối với hành vi trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và với hậu qủa do hành vi đó gây
ra cho xã hội, bao gồm các dấu hiệu:
Lỗi: Là dấu hiệu bắt buộc
Lỗi có hai dạng: lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý
Độ tuổi và khả năng nhận thức là căn cứ để loại trừ yếu tố lỗi trong vi phạm hành chính
Trang 10 Động cơ, mục đích vi phạm: Là dấu hiệu không bắt buộc.
Chủ thể vi phạm hành chính
Cá nhân: là công dân Việt Nam
Nhóm chủ thể là người chưa thành niên:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi : xử phạt về hành
vi cố ý
Người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi : bị xử phạt về mọi hành vi
Ví dụ minh họa: A bán hoa quả, các loại bánh trái trên vỉa hè ở nơi có quy định
cấm bán hàng rong, bị cảnh sát giao thông phạt 100.000 đồng Việc A bán hoa quả chính là vi phạm hành chính, cụ thể vi phạm kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ tại mục 2 chương II Nghị định 100
IV TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT
1 Khái niệm và nguyên tắc của trách nhiệm kỷ luật
a) Khái niệm
Trách nhiệm kỉ luật là trách nhiệm pháp lí áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức do vi phạm kỉ luật, vi phạm quy tắc hay nghĩa vụ trong hoạt động công vụ hoặc vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
Cụ thể hơn, kỷ luật là hình thức trừng phạt thuộc quyền của một số cơ quan, chính quyền và nhà chức trách hành chính đối với nhân viên dưới quyền mình, khi người đó vi phạm quy chế, kỷ luật công tác, hoặc vi phạm những khuyết điểm mang lại những hậu quả xấu cho cơ quan, công vụ Trách nhiệm kỉ luật của công chức là một loại trách nhiệm pháp lí do cơ quan, đơn vị có thẩm quyền áp dụng đối với những công chức có hành vi các quy định về nghĩa vụ đạo đức và văn hóa giao tiếp; vi phạm các quy định về những việc công chức không được làm và vi phạm pháp luật bị tòa án tuyên là có tội hoặc bị cơ quan có thẩm quyền kết luận bằng văn bản về hành vi vi phạm pháp luật
b) Nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức
Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật Trong cùng một thời điểm xem xét xử lý kỷ luật, nếu cán bộ, công chức, viên chức
có từ 02 hành vi vi phạm trở lên thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm
và áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trường hợp bị xử lý kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm, buộc thôi việc; không tách riêng từng nội dung vi phạm