1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý luận trách nhiệm pháp lý và nêu quan điểm của mình về ý thức của sinh viên để không bị áp dụng pháp lý kỷ luật trong cơ sở đào tạo

11 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 520,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận trách nhiệm pháp lý và nêu quan điểm của mình về ý thức của sinh viên để không bị áp dụng pháp lý kỷ luật trong cơ sở đào tạo Lý luận trách nhiệm pháp lý và nêu quan điểm của mình về ý thức của sinh viên để không bị áp dụng pháp lý kỷ luật trong cơ sở đào tạo Lý luận trách nhiệm pháp lý và nêu quan điểm của mình về ý thức của sinh viên để không bị áp dụng pháp lý kỷ luật trong cơ sở đào tạo Lý luận trách nhiệm pháp lý và nêu quan điểm của mình về ý thức của sinh viên để không bị áp dụng pháp lý kỷ luật trong cơ sở đào tạo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CS2)

KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Đề tài:

LÝ LUẬN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ NÊU QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH

VỀ Ý THỨC CỦA SINH VIÊN ĐỂ KHÔNG BỊ ÁP DỤNG PHÁP LÝ KỶ

LUẬT TRONG CƠ SỞ ĐÀO TẠO

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: LÝ LUẬN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 2

1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý 2

2 Truy cứu trách nhiệm pháp lý 2

3 Mục đích truy cứu trách nhiệm pháp lý 2

4 Tác dụng của truy cứu trách nhiệm pháp lý 2

4.1.Trừng phạt chủ thể vi phạm pháp luật 2

4.2.Khôi phục một phần nào đó thiệt hại xã hội 2

4.3.Răn đe, phòng ngừa, cải tạo và giáo dục 3

4.4.Tạo công bằng cho xã hội 3

5 Căn cứ truy cứ trách nhiệm pháp lý 3

5.1.Mặt khách quan của vi phạm pháp luật 3

5.2.Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật 4

6 Các loại trách nhiệm pháp lý 6

6.1.Trách nhiệm pháp lý hình sự 6

6.2.Trách nhiệm pháp lý hành chính 6

6.3.Trách nhiệm pháp lý dân sự 6

6.4.Trách nhiệm pháp lý kỷ luật 6

7 Những trường hợp không chịu trách nhiệm pháp lý 7

PHẦN II: NÊU QUAN ĐIỂM VỀ Ý THỨC CỦA SINH VIÊN ĐỂ KHÔNG BỊ ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ KỶ LUẬT TRONG CƠ SỞ ĐÀO TẠO 8

1 Ý thức của sinh viên về việc tuân thủ pháp luật trong cơ sở đào tạo 8

2 Các giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của sinh viên 8

2.1.Gia đình là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người 8 2.2.Nhà trường có trách nhiệm giáo dục, phổ cập kiến thức pháp luật cho sinh viên 9

2.3 Bản thân sinh viên phải tự giác rèn luyện 10

1

Trang 3

PHẦN I: LÝ LUẬN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

1.Khái niệm trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật

2.Truy cứu trách nhiệm pháp lý

Truy cứu trách nhiệm là áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước đã được quy định trong chế tài các quy phạm pháp luật Chủ thể vi phạm pháp luật bị Nhà nước buộc phải thực hiện biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật

Như vậy, về mặt nội dung thì trách nhiệm pháp lý là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật Còn về hình thức, đó là việc tổ chức thực hiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Đó là cả một quá trình hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc xem xét, làm rõ sự việc, ra quyết định giải quyết và tổ chức thực hiện quyết định đó

Đây là hoạt động có trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ do pháp luật quy định để

có thể bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật, tính chính xác của hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý, hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra, tránh hiện tượng oan sai, bỏ lọt vi phạm

3.Mục đích truy cứu trách nhiệm pháp lý

Mọi hiện tượng vi phạm pháp luật đều có hại cho xã hội vì nó phá vỡ trật tự pháp luật, trựa tiếp hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho Nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân Chính vì thế, cần phải truy cứu trách nhiệm pháp

lý đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ quyền làm chủ của nhân dân Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích của nhân dân, của các tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển đúng hướng, đảm bảo cho quá trình điều chỉnh bằng pháp luật được tiến hành bình thường và có hiệu quả

Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý sẽ dựa trên hành vi vi phạm, căn cứ vào hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm gây ra, căn cứ vào lỗi của chủ thể, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại cho xã hội do hành vi đó gây ra,…

4.Tác dụng của truy cứu trách nhiệm pháp lý

4.1 Trừng phạt chủ thể vi phạm pháp luật

Nhằm trừng trị người có hành vi vi phạm và răn đe tất cả những người khác để

họ kiềm chế giữ mình không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, không tái vi phạm pháp luật

4.2 Khôi phục một phần nào đó thiệt hại xã hội

Thiệt hại của xã hội có thể được khôi phục một phần thông qua quá trình áp dụng trách nhiệm pháp lý Chẳng hạn việc bồi hoàn về vật chất khi vi phạm làm thiệt hại về vật chất, tịch thu và xung công những tài sản bất hợp pháp kiếm được từ quá trình vi phạm của chủ thể là để giảm bớt một phần thiệt hại cho Nhà nước…

Trang 4

4.3 Răn đe, phòng ngừa, cải tạo và giáo dục

Nhằm giúp giác ngộ tư tưởng, ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, giáo dục thái độ sống và làm việc theo pháp luật của chủ thể đã có hành vi vi phạm pháp luật cũng như của mọi công dân

4.4 Tạo công bằng cho xã hội

Làm cho mọi công dân tin tưởng vào công lý và nâng cao ý thức cảnh giác trong nhân dân, động viên quần chúng tích cực đấu trang chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, từng bước hạn chế, loại trù hiện tượng vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống

xã hội, xã hội chủ nghĩa

5.Căn cứ truy cứ trách nhiệm pháp lý

Cấu thành của vi phạm pháp luật được sử dụng làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý, bao gồm: mặt chủ quan, mặt khách quan, chủ thể, khách thể của vi phạm pháp luật

Quá trình tìm hiểu các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật giúp đạt được cả hai mục đích:

 Xác định những căn cứ để kết luận hành vi vi phạm pháp luật hay không

 Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi đó

Như vậy, chỉ sau khi nghiên cứu hết các yếu tố của cấu thành vi phạm pháp luật thì mới có cơ sở thực tế để ấn định mức chế tài thích đánh đối với chủ thể vi phạm pháp luật

5.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật

Là những biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật Nó bao gồm:

5.1.1 Hành vi trái pháp luật

Để truy cứu trách nhiệm pháp lý thì điều quan trọng là phải xác định được hành

vi trái pháp luật đã xảy ra, nghĩa là phải có sự kiện pháp lý xảy ra trên thực tế Sự kiện

đó do con người gây nên (sự kiện hành vi) và hành vi đó là trái pháp luật

Nếu không có sự kiện pháp lý xảy ra hoặc có nhưng không có sự tham gia của con người hoặc có sự tham gia của con người nhưng không trái pháp luật thì không truy cứu trách nhiệm pháp lý

Hành vi trái pháp luật là dấu hiệu phải xác định đầu tiên Nếu không xác định được hành vi trái pháp luật thì việc tìm hiểu các yếu tố khác sẽ trở nên vô nghĩa

5.1.2 Sự thiệt hại của xã hội

Là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội phải gánh chịu, gây tổn thất cho xã hội Đó chính là lý do các hành vi vi phạm pháp luật cần phải bị xử lý, bị ngăn chặn và bị phòng ngừa

Mức độ nguy hiểm của hành vi được biểu hiện qua mức độ thiệt hại của xã hội hoặc nguy cơ xảy ra sự thiệt hại của xã hội do hành vi đó gây nên Trong nhiều trường hợp mức độ gây thiệt hại còn là căn cứ để xác định loại trách nhiệm pháp lý

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại của xã hội

Để truy cứu trách nhiệm pháp lý chuẩn xác thì cần phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại của xã hội Nghĩa là, phải xác định một cách chắc chắn sự thiệt hại của xã hội là do chính hành vi trái pháp luật nói trên trực tiếp gây ra Nói cách khác, thiệt hại đó là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật

3

Trang 5

Nếu không xác định được mối quan hệ nhân quả, thì sự thiệt hại trên thực tế có thể do những nguyên nhân khác Chẳng hạn, hành vi của chủ thể chỉ là một điều kiện

để nguyên nhân thực sự của nó làm phát sinh hậu quả (thiệt hại) Trong trường hợp này không thể bắt chủ thể của hành vi trái pháp luật phải gánh chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà hành vi trái pháp luật của họ không trực tiếp gây ra

Bên cạnh những yếu tố cơ bản trên thì còn có một số khách quan khác có ý nghĩa đối với việc xác định tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật như: lựa chọn biện pháp phòng ngừa, cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp luật một cách

có hiệu quả…

5.2 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật

Bao gồm lỗi, động cơ, mục đích của chủ thể có hành vi trái pháp luật

5.2.1 Lỗi

Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi của mình cũng như đối với hậu quả của hành vi đó Lỗi biểu hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội Căn cứ vào thái độ tiêu cực của chủ thể, khoa học pháp lý chia lỗi ra thành hai loại: lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý có thẻ là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Lỗi vô ý

có thể là lỗi vô ý tự tin hoặc vô ý cẩu thả

5.2.1.1. Lỗi cố ý trực tiếp

Là lỗi trong trường hợp chủ thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra và mong muốn điều đó xảy ra

Nét đặc thù của hình thức lỗi này là cả lý trí và ý chí của chủ thể đều hướng vào hành vi vi phạm Chủ thể nhận thức rõ và quyết tâm thực hiện hành vi

Trong tất cả các loại lỗi thì lỗi có ý trực tiếp là loại lỗi có tính chất nguy hiểm cao nhất, vì nó thể hiện rõ ý chí và thái độ chống đối xã hội, thái độ thiếu trách nhiệm của chủ thể ở mức độ cao khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

Với loại lỗi này thì nguy cơ gây thiệt hại của hành vi vi phạm thường rất lớn vì chủ thể rất chủ động để đạt được hậu quả Thậm chí, nhiều khi để đạt được hậu quả, chủ thể còn thực hiện hàng loạt những hoạt động khác làm cho hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm hơn (chẳng hạn, chủ thể có những cách thức che giấu hành vi vi phạm pháp luật) hoặc thực hiện ở quy mô lớn hơn, như liên kết với chủ thể khác (vi phạm có tính tổ chức) để vừa hoạt động dễ dàng thuận lợi, vừa an toàn…

5.2.1.2. Lỗi cố ý gián tiếp

Là lỗi trong trường hợp chủ thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng để mặc cho nó xảy ra

Cũng là lỗi cố ý, nhưng điểm khác biệt so với lỗi cố ý trực tiếp chính là thái độ của chủ thể đối với hậu quả Ở trường hợp trên: chủ thể cố gắng đạt được hậu quả, còn trường hợp này: thái độ bàng quan và sự thiếu trách nhiệm, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra

Về mặt nguyên tắc, lỗi cố ý gián tiếp có mức nguy hiểm thấp hơn so với lỗi cố

ý gián tiếp Tuy nhiên, thái độ tiêu cực của người thực hiện hành vi vi phạm còn được đánh giá thông qua những yếu tố khác, chẳng hạn như bỏ mặc để một thiệt hại lớn xảy

ra thì thể hiện tính trái đạo đức và thái độ tiêu cực lớn hơn Do vậy, khi truy cứu trách nhiệm pháp lý, để lựa chọn biện pháp xử lý thích hợp, cần xem xét lỗi của chủ thể trong mối liên hệ với tất cả các yếu tố khác có liên quan

5.2.1.3. Lỗi vô ý vì quá tự tin

Trang 6

Là lỗi trong trường hợp chủ thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng hy vọng, tin tưởng điều đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được

Nét đặc thù của loại lỗi này là cố ý về hành vi và vô ý về hậu quả Chủ thể hoàn toàn nhận thức được nguy cơ xảy ra thiệt hai Chủ thể không mong muốn hậu quả đó

và cũng không bỏ mặc Có điều chủ thể đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân cũng như những thuận lợi khách quan đem lại Chính sự đánh giá không thực tế và không khách quan mà chủ thể rơi vào tình thế bị động trước hậu quả: khi sự cố xảy ra thù mọi cố gắng của chủ thể thực sự không đủ để ngăn chặn thiệt hại

Việc phân tích các tình tiết để xác định có lỗi vô ý vì quá tự tin hay không có lỗi thường rất phức tạp Song để không truy cứu oan đối với người người không có lỗi thì cần phải đánh giá các tình tiết một cách khách quan, đầy đủ, chính xác Cần xem xét

sự tin tưởng của chủ thể là có căn cứ và có thể được chấp nhận được với tâm lý của một người bình thường hay không Nếu rõ ràng là niềm tin của chủ thể thiếu cơ sở thì chủ thể đã có lỗi

5.2.1.4. Lỗi vô ý do cẩu thả

Là lỗi trong trường hợp chủ thể không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội

do hành vi của mình gây ra, mặc dù cần phải thấy trước và có thể thấy trước

Lỗi vô ý do cẩu thả là trường hợp lỗi duy nhất mà chủ thể hoàn toàn không nhận thức được hành vi cũng như hậu quả của hành vi này Tuy nhiên, điều khác biệt với trường hợp không có lỗi (ví dụ: trường hợp sự kiện bất ngờ) chính là ở chỗ: ở sự kiện bất ngờ chủ thể không buộc phải thấy hoặc không cần phái thấy tính trái pháp luật của hành vi Đương nhiên, chủ thể cũng không buộc phải thấy hậu quả nguy hiểm của hành vi này Còn trường hợp lỗi vô ý cẩu thả thì chủ thể “buộc phải thấy” và “có thể thấy”

1.2.2 Động cơ, mục đích vi phạm

Động cơ được hiểu là động lực thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Chẳng hạn, khi chủ thể thực hiện hành vi tham ô, động cơ chính là sự vụ lợi; khi chủ thể thực hiện hành vi đánh người, động cơ thường là sự trả thù Sự vụ lợi hay trả thù trong các ví dụ trên chính là cái đã thôi thúc chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

Mục đích vi phạm là kết quả cuối cùng mà trong suy nghĩ của mình chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi trái pháp luật Chẳng hạn, mục đích của chủ thể thực hiện hành vi tham ô chiếm đoạt một phần tài sản của Nhà nước hay của đơn vị; mục đích đánh người là gây đau đớn hay làm suy giảm sức khỏe của người khác…

Trên thực tế, không phải khi nào kết quả mà chủ thể vi phạm đạt được cũng trùng hợp với mục đích mà chủ thể mong muốn đạt được Có thể chủ thể chỉ đạt được một phần, có khi chưa đạt được, cũng có thể thiệt hại xảy ra lại hoàn toàn khác với mong muốn của chủ thể… Do vậy, khi xác định mục đích của vi phạm pháp luật không chỉ căn cứ vào kết quả của vi phạm, hay căn cứ vào thiệt hại thực tế đã xảy ra

mà còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác

1.2.3 Chủ thể vi phạm pháp luật

Chủ thể vi phạm pháp luật ở đây chính là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý

5

Trang 7

Khi truy cứu trách nhiệm pháp lý nếu chủ thể của hành vi trái pháp luật là cá nhân thì phải xem xét người đó đã đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý hay chưa? Thể chất, tinh thần của họ có phát triển bình thường hay không? Trạng thái tâm lý của họ có phát triển bình thường hay không? Trạng thái tâm lý của họ như thế nào ở thời điểm họ thực hiện hành vi trái pháp luật?

Trách nhiệm pháp lý sẽ không áp dụng nếu chủ thể là trẻ em chưa đến tuổi pháp luật quy định, người mất năng lực hành vi do có nhược điểm thể chất hoặc tinh thần hoặc mất năng lực hành vi ở thời điểm họ thực hiện hành vi trái pháp luật

Nếu chủ thể là tổ chức thì phải chú ý đến tư cách pháp nhân của tổ chức đó Trường hợp vi phạm được thực hiện bởi một tổ chức không có tư cách pháp nhân thì trách nhiệm pháp lý sẽ được xem xét với từng cá nhân của tổ chức đó tùy thuộc vai trò

và mức độ tham gia của họ vào quá trình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

1.2.4 Khách thể vi phạm pháp luật

Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo

vệ nhưng bị hành vi xâm hại tới Những quan hệ xã hội khác nhau thì có tính chất và tầm quan trọng khác nhau, do vậy, tính chất và tầm quan trọng của khách thể cũng là yếu tố xác định mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật

Trong quá trình xem xét hành vi để truy cứu trách nhiệm pháp lý chính xác, không truy cứu oan, sai… phải xác định được quan hệ xã hội nào đã bị tổn hại? Mức

độ tổn hại? Quan hệ đó có được bảo vệ bằng pháp luật không? Nếu quan hệ xã hội đó chưa được pháp luật bảo vệ thì hành vi xâm hại nó vẫn chưa phải là vi phạm pháp luật

và không bị truy cứu trách nhiệm pháp lý

Để truy cứu trách nhiệm pháp lý, ngoài việc xác định các yếu tố cấu thành của

vi phạm pháp luật thì ta còn phải xem xét thơi hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý và những trường hợp được miễn trách nhiệm pháp lý

6.Các loại trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý mà Nhà nước áp dụng thông thường được chia thành các loại:

6.1 Trách nhiệm pháp lý hình sự

Là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do Toàn án áp dụng đối với người có hành vi phạm tội được quy địng trong Bộ luật Hình sự Đây chính là việc áp dụng các chế tài hình sự như cảnh báo, phạt tiền, trục xuất, cải tạo không giam giữ, phạt tù…

1.2 Trách nhiệm pháp lý hành chính

Là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan quản lý Nhà nước áp dụng đối với những chủ thể vi phạm pháp luật hành chính Đây chính là việc áp dụng chế tài hành chính, như hình thức cảnh báo, phạt tiền, tịch thu giấy phép…

1.3 Trách nhiệm pháp lý dân sự

Là loại trách nhiệm pháp luật do Tòa án hoặc các chủ thể khác áp dụng đối với những chủ thể vi phạm pháp luật dân sự Đây chính là việc áp dụng chế tài dân sự, chủ yếu là bồi thường thiệt hại trong hoặc ngoài hợp đồng

1.4 Trách nhiệm pháp lý kỷ luật

Là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng cơ quan, doanh nghiệp, trường học…

áp dụng đối với công chức, viên chức, người lao động, học sinh, sinh viên… của cơ quan, doang nghiệp trường học mình khi họ vi phạm nội quy, quy chế trong nội bộ,

Trang 8

như khiển trách, cảnh cáo, buộc thôi học, chuyển làm công việc khác, hạ bậc lương, hạ ngạch (công chức), cách chức, buộc thôi việc…

7 Những trường hợp không chịu trách nhiệm pháp lý

Pháp luật hiện hành có nêu ra một số trường hợp không phải chịu trách nhiệm pháp

lý, đó là những trường hợp sau:

 Người vi phạm không có năng lực hành vi dân dự, đây là trường hợp trẻ em chưa đủ 6 tuổi hay người bị mất năng lực hành vi dân sự

 Người vi phạm chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý

 Miễn trách nhiệm pháp lý

 Hết thời hiệu chịu trách nhiệm pháp lý

 Pháp luật quy định cấm nhưng không có chế tài

 Sự kiện bất ngờ trong Luật hình sự: được hiểu là việc người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó

 Phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự: là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lạ một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên

 Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự: là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.1

1 Giáo trình Pháp luật đại cương Trường Đại học Lao động – Xã hội cơ sở II (2016), tr.162 – tr.173

7

Trang 9

PHẦN II: NÊU QUAN ĐIỂM VỀ Ý THỨC CỦA SINH VIÊN ĐỂ KHÔNG BỊ ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ KỶ LUẬT TRONG CƠ SỞ ĐÀO TẠO

1.Ý thức của sinh viên về việc tuân thủ pháp luật trong cơ sở đào tạo

Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, chịu sự quy định của tồn tại

xã hội trong đó có đời sống pháp luật Như mọi hình thái ý thức xã hội khác, ý thức pháp luật có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội và có vai trò to lớn đối với đời sống pháp luật của xã hội Nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên là một vấn đề quan trọng quyết định đến việc thực hiện thành công nhiệm vụ quản lý nhà nước bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt sinh viên là người chủ tương lai của đất nước, là nguồn nhân lực chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bởi vậy, đòi hỏi các sinh viên phải có

ý thức pháp luật cao, là động lực chính, góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương của đất nước và góp phần vào việc xây dựng xã hội công bằng, dân chủ văn minh

Với thực trạng ý thức về nội quy, nề nếp học tập của sinh viên ngày nay, đa số sinh viên chủ yếu chưa hiểu, nhớ đầy đủ về ý nghĩa của việc thực hiện các quy định trong nội quy học tập và hình thành nề nếp học tập đối với sinh viên và nhà trường, dẫn đến hậu quả một số sinh viên sẽ bị mắc các lỗi như vi phạm luật giao thông, đi học trễ, gian lận trong thi cử,… Điều đó cho thấy ý thức pháp luật và kiến thức pháp luật của một bộ phận sinh viên còn thấp, phần nào ảnh hưởng đến văn hóa học đường và nhân cách, đạo đức, tương lai của các sinh viên về sau

Chính vì thế, việc đề ra những giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên là việc thiết yếu cần chú trọng, nhất là khi sinh viên là những người trong lứa tuổi đang hình thành và hoàn thiện về trí thức cũng như nhân cách, với tâm lý lứa tuổi

là thích khẳng định mình, nhanh chóng tiếp cận với những cái mới, dễ bị lôi kéo và suy nghĩ chưa chín chắn còn nông nổi, bồng bột… do vậy nếu ý thức pháp luật không cao thì dễ dẫn đến vi phạm pháp luật.2

Khi đã biết được tầm quan trọng của việc thực hiện đúng các quy chế, nội quy trong cơ sở đào tạo thì không những tránh bị áp dụng pháp lý kỷ luật mà còn rèn cho sinh viên lối sống theo quy tắc, không phạm lỗi cũng như biết tuân thủ và tôn trọng pháp luật

2.Các giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của sinh viên

2.1 Gia đình là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người

Như chúng ta đã biết, gia đình là môi trường sống đầu tiên và quan trọng nhất của mỗi con người Gia đình là một thiết chế xã hội và nó chịu sự tác động của hệ thống chính sách và những biến đổi của xã hội

Gia đình có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng, giáo dục, nâng đỡ suốt đời người, là môi trường để hình thành và phát triển nhân cách, là nơi để rèn luyện lối sống có đạo lý, có tình người Với mỗi chúng ta, gia đình là tổ ấm, là bến đỗ bình yên,

là trường học đầu tiên hình thành, phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi con người Để môi trường gia đình thực sự lành mạnh, an toàn và ấm áp cho mỗi cá nhân phát triển toàn diện cần có sự chăm lo, vun đắp của mỗi thành viên gia đình, sự ủng

2 TS Vũ Thị Hồng Vân, “Một số giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp

Hà Nội”, https://www.haui.edu.vn/vn/goc-nhin-haui/mot-so-giai-phap-nang-cao-y-thuc-phap-luat-cua-sinh-vien-truong-dai-hoc-cong-nghiep-ha-noi/62230?

fbclid=IwAR2k6hBzdFL1dmWIg4FyU9KXoLhK6KT4YVz7pnN1FAn917FAWMW1ChayI8E

Trang 10

hộ, đồng thuận của cộng đồng và sự hỗ trợ, tạo điều kiện của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và các chủ trương, chính sách về gia đình.3

Và gia đình cũng chính là thành tố quan trọng hướng các sinh viên theo lối sống biết chấp hành đúng các quy định của pháp luật, nhằm tạo cho thế hệ mới trong gia đình phương thức hoạt động, hình thức tư duy và ứng xử, cảm xúc và hành động, ở đó giáo dục đạo đức giữ vị trí quan trọng hàng đầu

1.2 Nhà trường có trách nhiệm giáo dục, phổ cập kiến thức pháp luật cho sinh viên

Các lực lượng giáo dục đặc biệt là các cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên cố vấn học tập, giảng viên giảng dạy bộ môn trong quá trình giáo dục cần quan tâm hơn

về giáo dục pháp luật, đặc biệt là về các quy định, nội quy nề nếp trong cơ sở đào tạo Việc nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên thì rất cần đến vai trò của đội ngũ giảng viên trong giảng dạy phải tâm huyết, cần tích cực tham gia vào các hoạt động chuyên môn và tham gia làm cố vấn trong các câu lạc bộ sinh viên phòng chống tội phạm… từ

đó ngày càng làm cho giờ học thêm sinh động và giúp sinh viên thích thú học tập môn học pháp luật hơn nữa Chỉ khi sinh viên nhận thấy những lợi ích do tuân thủ pháp luật mang lại cho bản thân thì mới có động lực để tự giác thực hiện

Để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân phát triển toàn diện về sức khỏe, trí tuệ, ý thức, thói quen tuân thủ pháp luật, cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện

Bên cạnh đó phải tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, các quy chế, quy định, nội quy của nhà trường Phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh sinh viên, cán bộ, giáo viên trong việc lồng ghép, tích hợp công tác phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội vào nội dung một số môn học và hoạt động giáo dục của nhà trường bảo đảm phù hợp, hiệu quả

Nhà trường cũng cần quán triệt và triển khai nghiêm túc các chủ trương, chính sách, quy định về công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội trong đội ngũ cán bộ, nhà giáo, học sinh sinh viên; bảo đảm tốt nhất và an toàn về thể chất và tinh thần cho tất cả các thành viên trong nhà trường

Cần phối hợp đồng bộ giữa ngành Giáo dục và các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể liên quan; giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Điều tra, xử lý kịp thời nghiêm minh các vụ việc vi phạm pháp luật, gây mất an ninh trật tự trường học

Các cơ quan quản lý giáo dục, cán bộ quản lý các nhà trường rà soát, điều chỉnh sửa đổi các nội quy, quy định của địa phương, nhà trường phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của nhà trường; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nhằm bảo đảm các quy định được thực hiện đầy đủ và hạn chế tối đa lỗ hổng trong quản lý.4

3 Khuất Văn Quý, “Gia đình và vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức, lối sống thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế”, https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/gia-dinh-va-vai-tro-cua-gia-dinh-trong-viec-giao-duc-dao-duc-loi-song-thoi-ky-cong-nghiep-hoa-va-hoi-nhap-quoc-te-144?

fbclid=IwAR05CY9sTk1aBEpNWQASEZy-nDmJc-aNWE_-L8XcgTDVJgwcGEqYiFja9RA

4 Vụ GDCT&CTHSSV, “Tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội trong nhà trường”,

https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?

ItemID=6407&fbclid=IwAR1sGa97x2nT4yL7fnXWlGBwo8aX3TGn3wJum9g9SeUrfiQuJfxFMeV8qqk

9

Ngày đăng: 19/03/2022, 23:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w