1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý

17 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CSII)

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Lớp tín chỉ: PLDC1022H_K21_HK1_D1.3_LT HỌC KỲ: 01 - NĂM HỌC: 2021 – 2022

Đề tài:

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ

CÁC LOẠI TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Họ và tên sinh viên : Lý Thanh Thảo

Ngày/tháng/năm sinh : 23/01/2003

Họ và tên giảng viên :

Trang 2

TP HCM – 2021 MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 2

1.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý 2

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý 2

1.3 Phân loại trách nhiệm pháp lý 3

1.4 Năng lực trách nhiệm pháp lý 3

1.5 Truy cứu trách nhiệm pháp lý 4

1.5.1 Khái niệm của truy cứu trách nhiệm pháp lý 4

1.5.2 Đặc điểm của truy cứu trách nhiệm pháp lý 4

CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 5

2.1 Trách nhiệm hình sự 5

2.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự 5

2.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự 5

2.1.3 Cơ sở của trách nhiệm hình sự 5

2.1.4 Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự 6

2.2 Trách nhiệm dân sự 7

2.2.1 Khái niệm trách nhiệm dân sự 7

2.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm dân sự 7

2.2.3 Cơ sở của trách nhiệm dân sự 8

2.3 Trách nhiệm hành chính 8

2.3.1 Khái niệm trách nhiệm hành chính 8

2.3.2 Đặc điểm của trách nhiệm hành chính 8

2.3.3 Cơ sở của trách nhiệm hành chính 9

2.4 Trách nhiệm kỷ luật 10

2.4.1 Khái niệm của trách nhiệm kỷ luật 10

2.4.2 Nguyên tắc xử lý kỷ luật 10

2.4.3 Các hành vi của cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật 10

2.4.4 Các hình thức kỷ luật đối với công chức 11

2.5 Một số trách nhiệm pháp lý khác 12

KẾT LUẬN 13

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xã hội hiện nay, việc nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là một yêu cầu tất yếu khách quan và đặc biệt trở thành một yêu cầu rất cần thiết đối với việc xây dựng phát triển nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước sử dụng pháp luật - một trong những công cụ hiện hữu để nhà nước quản lý xã hội, có vai trò đặc biệt trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của cả một đất nước

Việt Nam hiện đang là một nước trên đà phát triển, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và khoa học công nghệ không ngừng đổi mới nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập về những vấn đề xã hội liên quan đến pháp luật Cụ thể là những hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến đời sống xã hội Đây cũng chính là cơ sở hình thành nên trách nhiệm pháp lý vì vi phạm pháp luật là sự kiện pháp lý làm phát sinh một mối quan hệ pháp lý đặc biệt - gọi là trách nhiệm pháp lý

Trước hết, ta cần hiểu khái niệm về trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định vì hành vi

vi phạm pháp luật của mình (hoặc người khác mà mình bảo lãnh hoặc giám hộ) Khác với các loại hình trách nhiệm khác, trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với sự cưỡng chế nhà nước với việc áp dụng chế tài do pháp luật quy định Thông qua trách nhiệm pháp

lý nhà nước quản lý xã hội đi lên đà phát triển vững mạnh – một xã hội văn minh, công bằng, tiến bộ

Nhờ có trách nhiệm pháp lý nhà nước có thể ngăn ngừa, giáo dục và cải tạo những hành vi vi phạm pháp luật Từ những quy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý, mọi người dân có lòng tin vào pháp luật Do đó trách nhiệm pháp lý gắn liền với đời sống xã hội, có tính chất đặc biệt quan trọng và đảm bảo các hành vi vi phạm đều được xử lý nghiêm minh Bên cạnh đó, pháp luật còn bảo đảm dân chủ, công bằng, phù hợp với lợi ích chung của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau Nhận thức được những tính chất quan trọng trên và nhẳm mục đích nâng cao ý thức pháp

luật về trách nhiệm pháp lý, em đã chọn đề tài: “Trách nhiệm pháp lý và các loại trách nhiệm pháp lý”.

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 1.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý

Trong đời sống xã hội, trách nhiệm là việc mà mỗi người phải làm và phải có ý thức với những việc làm đó Trách nhiệm luôn là một gánh nặng nhưng nó sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong quá trình phát triển Người sống có trách nhiệm sẽ được người khác tôn trọng và sẽ dễ dàng đạt được nhiều thành công Họ sẽ luôn luôn chủ động trong mọi việc, tự tin phát triển bản thân mình, dám làm những điều mình muốn và sẵn sàng chịu trách nhiệm về những việc đã làm mà không đổ lỗi hay đùn đẩy cho bất kỳ

ai

Trong lĩnh vực pháp lý thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: tích cực và tiêu cực Theo nghĩa tích cực, trách nhiệm được hiểu là điều cần phải làm trong hiện tại và tương lai, ở nghĩa này trách nhiệm đồng nhất với “nghĩa vụ” là nội dung quan hệ pháp luật và tương đồng với “bổn phận” trong quan hệ đạo đức Đó

là hành vi phải tiến hành trong hiện tại và tương lai

Theo nghĩa tiêu cực trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất và tinh thần đối với một chủ thể đã có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá khứ, biểu hiện sự lên án, phê phán của nhà nước và dư luận của xã hội đối với hành vi đó Và trách nhiệm pháp lý được khái niệm như sau:

Trách nhiệm pháp lý là loại quan hệ pháp lý đặc biệt giữa nhà nước, thông qua

cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ thể vi phạm pháp luật, theo đó, nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở các chế tài quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật và chủ thể vi phạm phải gánh chịu hậu quả bất lợi do đã vi phạm pháp luật

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý mang yếu tố sự lên án của nhà nước và xã hội đối với hành

vi vi phạm pháp luật, là sự phản ứng của nhà nước đối với hành vi đó Đặc điểm này thể hiện ở nội dung của trách nhiệm pháp lý Vì vậy, trách nhiệm pháp lý là biện pháp tác động có hiệu quả đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật

Về mặt hình thức, trách nhiệm pháp lý là việc thực hiện chế tài pháp luật thông qua hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và việc chủ thể vi phạm pháp luật phải thực hiện chế tài đó Trách nhiệm pháp lý không phải là sự áp dụng chế tài bất kỳ, mà chỉ áp dụng các chế tài có tính chất trừng phạt: Chế tài hình sự, áp dụng cho trách nhiệm hình sự; Chế tài hành chính, áp dụng cho trách nhiệm hành chính; Chế tài kỷ luật, áp dụng cho trách nhiệm kỷ luật; Chế tài dân sự (chế tài tài sản), áp dụng cho trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm pháp lý liên quan đến sự cưỡng chế nhà nước Khi có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, thì lúc đó giữa chủ thể vi phạm và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xuất hiện một loại quan hệ pháp luật, trong đó nhà nước có quyền xác định các biện pháp cưỡng chế và áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó Nhưng không phải mọi biện pháp cưỡng chế trong trường hợp này là trách nhiệm pháp lý Chỉ những biện pháp nào có tính chất trừng phạt, tức là tước đoạt, làm thiệt hại về một phạm vi nào đó các quyền tự do, lợi ích hợp pháp mà chủ thể vi phạm pháp luật đáng ra được hưởng Những biện pháp cưỡng chế nhằm mục đích ngăn ngừa vi phạm pháp luật đang xảy ra không thuộc loại trách nhiệm pháp lý

Trang 5

Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm pháp luật là nguyên nhân, trách nhiệm pháp lý là hậu quả Cơ sở pháp lý của việc xác định trách nhiệm pháp lý là quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ không tách rời giữa trách nhiệm pháp lý và nhà nước Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới xác định một cách chính thức hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và áp dụng biện pháp pháp lý đối với chủ thể

đã gây ra hành vi vi phạm pháp luật đó

1.3 Phân loại trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả bất lợi do nhà nước áp dụng đối với cá nhân, tổ chức gây ra hậu quả vi phạm pháp luật của mình hoặc của người mà mình bảo lãnh hoặc giám hộ Theo đó, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật phải chịu những chế tài được quy định tại phần chế tài của quy định pháp luật

Các loại trách nhiệm pháp lý hiện nay:

- Trách nhiệm hình sự

- Trách nhiệm hành chính

- Trách nhiệm dân sự

- Trách nhiệm kỷ luật

Đối với mỗi loại hành vi vi phạm khác nhau, tùy thuộc vào tính chất hành vi đó

là gì, hoàn cảnh, điều kiện, hậu quả mang lại như thế nào sẽ là căn cứ để xác định người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm kỷ luật theo quy định của pháp luật Thông qua đó,

sẽ hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật

Ví dụ:

- Ví dụ 1: Chị A tham gia giao thông điều khiển xe máy vượt đèn đỏ Chị A phải chịu trách nhiệm hành chính và bị xử phạt từ 600.000 đồng – 1.000.000 đồng

- Ví dụ 2: Anh M với ông C cãi nhau về vấn đề anh M làm bể chậu cây mà ông C yêu quý, trong lúc say rượu anh M đã đánh ông C trong trạng thái tinh thần kích động mạnh, tỉ lệ tổn thương cơ thể của ông C là 40% , anh M phải chịu trách nhiệm hình sự trước hành vi của mình

1.4 Năng lực trách nhiệm pháp lý

Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng của cá nhân hay tổ chức gánh

chịu hậu quả bất lợi, biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật

Đối với cá nhân, năng lực trách nhiệm pháp lý được pháp luật của nhà nước quy định như sau:

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi vi phạm hành chính

- Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý, phải chịu trách nhiệm hành chính do cố ý thực hiện vi phạm hành chính

Bên cạnh điều kiện về độ tuổi, người có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý phải

là người có trạng thái thần kinh bình thường, ổn định, không mắc bệnh tâm thần, hay căn bệnh khác mà không điều chỉnh được hành vi của mình

Trang 6

Đối với tổ chức, năng lực pháp lý xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định hoặc được nhà nước thừa nhận Năng lực pháp lý của tổ chức chấm dứt khi tổ chức đó giải thể, phá sản hoặc sáp nhập vào một tổ chức khác

Ngoài ra, trách nhiệm pháp lý còn là việc cá nhân, tổ chức cần phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước pháp luật, tùy theo mức độ, tính chất hành vi gây ra cá nhân,

tổ chức phải gánh chịu trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự hoặc kỷ luật

Ví dụ: Em H (19 tuổi) vì thiếu tiền chơi game, H nảy sinh ý định cướp tài sản và

lên kế hoạch với bạn của mình là M Trên đoạn vắng, hai em đã cướp túi xách của chị

C Chị C chống cự và em H đã dùng dao đâm chị C khiến chị tử vong Em H phạm tội trong trạng thái tinh thần bình thường và đã đủ tuổi để truy cứu trách nhiệm pháp lý

Do đó, em H phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định trong bộ luật hình sự vì hành vi vi phạm pháp luật của mình

1.5 Truy cứu trách nhiệm pháp lý

1.5.1 Khái niệm của truy cứu trách nhiệm pháp lý

Truy cứu trách nhiệm pháp lý chính là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước

do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật

1.5.2 Đặc điểm của truy cứu trách nhiệm pháp lý

Thứ nhất, truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý do các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hoặc chủ thể được pháp luật trao quyền tiến hành theo quy định của pháp luật và mỗi chủ thể đó cũng chỉ được truy cứu trách nhiệm pháp lý trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật Truy cứu trách nhiệm pháp lý còn là sự tiếp tục thể hiện ý chí của nhà nước Điều này thể hiện qua việc quy định các biện pháp cưỡng chế nhà nước cần áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật sẽ trở thành hiện thực trong thực tế

Thứ hai, truy cứu trách nhiệm pháp lý là việc cá biệt hoá các biện pháp cưỡng chế của nhà nước Truy cứu trách nhiệm pháp lý là việc cá biệt hoá các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật, có thể hiểu là áp dụng một biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể được quy định trong phần chế tài của Bộ luật dành cho người vi phạm, nghĩa là việc áp dụng hình thức cưỡng chế dựa trên mức độ nghiêm trọng của hành vi

vi phạm

Cuối cùng, truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động có trình tự, thủ tục rất chặt chẽ Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý có trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ do pháp luật quy định để có thể bảo đảm tính chặt chẽ rõ ràng của pháp luật và tính đúng đắn của hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý, hạn chế đến mức tối thiểu những sai lầm có thể xảy ra, tránh hiện tượng oan sai, bỏ qua hành vi vi phạm Khi truy cứu trách nhiệm pháp lý, các cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền phải thu thập, xử lý thông tin một cách chính xác, đầy đủ, toàn diện để xác định tính trung thực, tính khách quan của vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật, lựa chọn chế tài quy phạm pháp luật phù hợp, đúng đối tượng, đúng tính chất và mức độ

Trang 7

CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

2.1 Trách nhiệm hình sự

2.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất

lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm Là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định

2.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở chỗ người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước nhà nước

Thứ hai, trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý Là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện

Thứ ba, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định

Cuối cùng, trách nhiệm hình sự bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và mang án tích Có thể nói, trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất bởi phương tiện thực hiện trách nhiệm hình sự là hình phạt

2.1.3 Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Cơ sở của trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 2 của Bộ luật hình sự:

“Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”

Chỉ pháp nhận thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của

Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Bởi theo đó thì chỉ khi nào người thực hiện hành vi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể mới phải chịu trách nhiệm hình sự Quy định như vậy giúp đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Về mặt khách quan: Một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện

hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi là cách cư xử của con người ra thế giới khách quan được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có hành vi phạm tội Hành vi đó có thể gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội

Về mặt chủ quan: Cơ sở của trách nhiệm hình sự dựa trên yếu tố “lỗi” của

người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Lỗi được dựa trên quan điểm chủ quan của người phạm tội

Về mặt khách thể: Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội phải xâm hại

đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Đây là dấu hiệu bắt buộc để xác định có cấu thành tội phạm hay không Ngoài ra có các dấu hiệu không bắt buộc như: đối tượng của tội phạm, người bị hại

Trang 8

Về mặt chủ thể: Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự,

tức là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Người đó phải đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điều

12 của Bộ luật hình sự

2.1.4 Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015

“Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác

Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ

13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

- Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất

ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép); Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).”

Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự chỉ được hình thành khi con người đã đạt đến một độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ tiếp tục phát triển và hoàn thiện thêm trừ một số trường hợp đặc biệt (người bị mắc bệnh tâm thần…) được quy định trong Bộ luật hình sự

Nhà nước ta đã quy định 14 tuổi là mức tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và 16 tuổi là mức tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Vì con người chúng ta không phải sinh ra đã có năng lực trách nhiệm hình sự mà nó là khả năng tự ý thức của bản thân mỗi cá thể được hình thành trong quá trình phát triển cả về mặt tự nhiên và xã hội Người chưa đủ 14 tuổi thì về mặt sinh lý trí tuệ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình Người từ đủ

14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi cũng được coi là người chưa có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Nên họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm theo quy định của pháp luật chứ không chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội phạm

Trang 9

Hiện nay, số lượng trẻ vị thành niên phạm tội đang tăng cao, Đảng và nhà nước ta

đã và đang có những chủ trương chính sách riêng đối với người chưa thành niên phạm tội Chủ yếu nhằm mục đích răn đe, giáo dục bởi ở lứa tuổi này, ý thức phạm tội của

họ chưa cao nên có thể uốn nắn và cải tạo

Ví dụ về vi phạm hình sự:

A (19 tuổi) là công dân cư trú tại khu vực biên giới, lợi dụng việc này, ngày 22/06/2020 A đã mua ma túy với một người Trung Quốc (không rõ tên, địa chỉ) với giá 10.000 nhân dân tệ và đem số ma túy về chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện trong

xã Ngày 28/6/2020 lực lượng chức năng đã bắt quả tang đối tượng về hành vi mua bán trái phép chất ma túy Tang vật thu giữ gồm: 143 gam hêrôin, 18 triệu đồng Hành vi của A có đủ các yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự

Thứ nhất, về mặt khách thể:

- Hành vi của A đã xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe của con người Đây là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ (Khoản

1 Điều 8 Bộ luật hình sự)

Thứ hai, về mặt khách quan:

- Ma túy là chất tuyệt đối bị cấm sử dụng trong đời sống xã hội Hành vi mua bán

ma túy của A là vi phạm pháp luật Việc A mua ma túy từ một người Trung Quốc và bán lại cho những người dân trong xã sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe của người dân

Thứ ba, về mặt chủ quan:

- A phạm tội với lỗi cố ý A nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện Theo đó, A đã lợi dung nhà mình ở khu vực biên giới để mua

ma túy với người Trung Quốc và đem về bán lại cho những người trong xã

Thứ tư, về chủ thể:

- Chủ thể của tội phạm là cá nhân, cụ thể là A (19 tuổi)

- Hành vi của A đủ các yếu tố cấu thành tội phạm nên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự

2.2 Trách nhiệm dân sự

2.2.1 Khái niệm trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối

với người vi phạm pháp luật dân sự Nhằm bù đắp về tổn thất vật chất tinh thần cho người bị hại, là hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân

sự để buộc chủ thể này phải khắc phục những tổn thất gây ra

2.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự được hiểu là một trách nhiệm pháp lý cho nên nó sẽ mang những đặc tính nói chung của trách nhiệm pháp lý:

Thứ nhất là hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm, chỉ được áp dụng khi có hành

vi vi phạm pháp luật và chị áp dụng đối với người có hành vi vi phạm đó

Thứ hai là một hình thức cưỡng chế của nhà nước do cơ quan tổ chức có thẩm quyền nhà nước áp dụng

Cuối cùng, trách nhiệm dân sự luôn mang đến một hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm pháp luật

Trang 10

Ngoài những đặc điểm trên, trách nhiệm dân sự còn mang những đặc điểm riêng: Trách nhiệm dân sự mang tính tài sản Đây chính là đặc điểm cơ bản của trách nhiệm dân sự Do đó, trách nhiệm dân sự của người vi phạm bao giờ cũng là sự bù đắp cho bên vi phạm những lợi ích vật chất nhất định

Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự có thể là người vi phạm nhưng cũng có thể là người khác, như là người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên, pháp nhân, cơ quan, tổ chức

Hậu quả bất lợi mà người vi phạm phải chịu là việc bắt buộc phải thực hiện nghĩa

vụ hoặc bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và khắc phục vật chất cho bên vi phạm

2.2.3 Cơ sở của trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự phát sinh khi cá nhân tổ chức vi phạm sự thỏa thuận trong giao dịch dân sự hay có lỗi trong việc thực hiện hành vi gây hại đối với người khác (sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín,…) Sự thỏa thuận của các bên là cơ sở hình thành trách nhiệm dân sự

Ví dụ: Anh T (là sinh viên Trường Đại học Lao động – Xã hội Cơ sở II) thỏa

thuận bán chiếc điện thoại Iphone 7 cũ cho chị M (bạn học cùng lớp) với giá 5 triệu đồng

- Cơ cấu của quan hệ pháp luật trong tình huống trên:

- Chủ thể: Anh T, chị M

- Khách thể: chiếc điện thoại Iphone 7 cũ

- Nội dung quan hệ pháp luật:

+ Anh T có quyền nhận 5 triệu đồng từ chị M và nghĩa vụ đưa cho chị M chiếc điện thoại Iphone 7 cũ

+ Chị M có quyền nhận chiếc điện thoại Iphone 7 cũ và nghĩa vụ đưa số tiền

5 triệu đồng cho anh T

- Chị M và anh T phát sinh quan hệ pháp lý dân sự trao đổi mua và bán

2.3 Trách nhiệm hành chính

2.3.1 Khái niệm trách nhiệm hành chính

Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân

thực hiện hành vi vi phạm hành chính phải gánh chịu biện pháp cưỡng chế hành chính tùy theo mức độ vi phạm của họ Biện pháp cưỡng chế này do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền quyết định trên cơ sở pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Đây là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật hành chính

2.3.2 Đặc điểm của trách nhiệm hành chính

Đầu tiên, trách nhiệm hành chính chỉ đặt ra đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

Thứ hai, truy cứu trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm là việc chủ thể có thẩm quyền áp dụng một trong các hình thức xử phạt đối với cá nhân,

tổ chức này

Thứ ba, trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân vi phạm trước nhà nước Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính xâm hại đến trật tự quản

lý nhà nước và chỉ nhà nước mới có quyền áp dụng chế tài đối với các chủ thể đó, do vậy trách nhiệm của cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trước nhà nước

Ngày đăng: 19/03/2022, 23:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w