Tuy nhiên trên thực tế, trách nhiệm pháp lý chưa được phân định một cách rạch ròi về nhận thức lý luận và thường đồng nhất với nghĩa vụ pháp lý trong các văn bản qui phạm pháp luật thực
Trang 1Đề 9 Lý luận về trách nhiệm pháp lý (khái niệm, căn cứ, phân loại) và nêu quan
điểm của mình về ý thức sinh viên để không bị áp dụng trách nhiệm kỷ luật trong cơ sở đào tạo
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
1 Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm pháp lý 4
1.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý 4
1.2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý 5
1.3 Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý 5
1.4 Phân loại trách nhiệm pháp lý 6
2 Sinh viên và trách nhiệm kỷ luật trong cơ sở đào tạo 9
2.1 Thực trạng vấn đề tuân thủ pháp luật của sinh viên tại cơ sở đào tạo 9
2.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc tuân thủ pháp luật của sinh viên tại cơ sở đào tạo 11
2.3 Giải pháp hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm kỷ luật cho sinh viên trong cơ sở đào tạo 12
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới một cách toàn diện ở nước ta suốt hai thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu quan trọng và đem lại sự biến đổi tích cực, đa dạng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Thực tiễn đời sống pháp lý cho thấy có rất nhiều vấn đề, nội dung đặt ra đòi hỏi phải được nhận thức một cách toàn diện, khách quan nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu của quá trình đổi mới Điều này xuất phát chính từ nhu cầu, đòi hỏi của quá trình hội nhập, toàn cầu hóa và hài hòa hóa hệ thống pháp luật dựa trên nền tảng tư duy pháp lý mới Trách nhiệm pháp lý là vấn đề phức tạp, trách nhiệm pháp lý của nhà nước lại cảng phức tạp hơn Trách nhiệm pháp lý gắn với pháp luật, do nhà nước quy định, cho nên rất ít nhà nước muốn quy định trách nhiệm pháp lý đổi với bản thân mình
Và nếu có quy định trách nhiệm pháp lý của nhà nước thì trong thực tiễn việc truy cứu cũng rất khó khăn Trách nhiệm pháp lý được nhận diện như là một yếu
tố quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật bởi vai trò cơ bản của nó không chỉ khôi phục, bảo vệ các quan hệ xã hội mà còn có tính răn đe, phòng ngừa, giáo dục và cải tạo Việc tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm pháp lý luôn là một trong những đề tài nghiên cứu pháp luật được chú trọng
Chính vì vậy, em xin phép được lựa chọn đề tài số 9: “Lý luận về trách nhiệm pháp lý (khái niệm, căn cứ, phân loại) và nêu quan điểm của mình về ý thức sinh viên để không bị áp dụng trách nhiệm kỷ luật trong cơ sở đào tạo” để
thực hiện bài tiểu luận kết thúc học phần môn Pháp luật đại cương của mình
Trang 4NỘI DUNG
1 Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm pháp lý
1.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý là vấn đề thực tiễn tạo nên sự quan tâm đặc biệt của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật, tiến hành các hoạt động pháp lý Chính vì lẽ đó, nó là vấn đề đòi hỏi phải được kiến giải một cách đầy đủ về phương diện lý luận Tuy nhiên trên thực tế, trách nhiệm pháp lý chưa được phân định một cách rạch ròi về nhận thức lý luận và thường đồng nhất với nghĩa
vụ pháp lý trong các văn bản qui phạm pháp luật thực định Thực tế cũng cho thấy trong một số văn bản qui phạm pháp luật ở nước ta thì việc sử dụng đồng thời hai thuật ngữ này là khá phổ biến Sự phân biệt nội hàm hai khái niệm này ở chỗ, nghĩa vụ nói lên trạng thái, khả năng có thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý đổi với chủ thể trong quá trình thực thi pháp luật Rõ ràng, nếu không thực thi hoặc quá trình thực thi nội dung nghĩa vụ không đúng thì trách nhiệm pháp lý mới xuất hiện Trong lúc đó, trách nhiệm pháp lý là yếu tố buộc chủ thể bang hành vi của mình quan tâm nhiều hơn đối với nghĩa vụ Nếu như trách nhiệm pháp lý luôn thể hiện sự có mặt tương tác giữa nhà nước và chủ thể có liên quan thì nghĩa vụ pháp lý có thể có sự hiện diện của nhà nước hoặc không Mặc dù chưa hình thành những trường phái riêng biệt nhưng quá trình nghiên cứu, xây dựng khái niệm trách nhiệm pháp lý đã có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau tiếp cận dưới góc độ chung và cụ thể Mỗi cách tiếp cận
đó lại đưa ra những kết luận không phải hoàn toàn đồng nhất về nội hàm khái niệm, cấu trúc cũng như cơ sở của trách nhiệm pháp lý Tình trạng này đã làm cho quá trình nghiên cứu ứng dụng gặp không ít vướng mắc về nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn có liên quan Chẳng hạn, chỉ với cách hiểu trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực nghĩa là nó xuất hiện khi có vi phạm pháp luật cũng đã có nhiều các quan điểm khác nhau như: trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa cơ quan nhà nước và chủ thể vi phạm pháp luật; là nghĩa vụ chủ thể phải gánh chịu do vi phạm pháp luật; là sự trừng phạt
Trang 5đối với chủ thể vi phạm pháp luật… Tuy nhiên, có thể khái quát rằng, trách nhiệm pháp lý là sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế những quyền, lợi ích do nhà nước áp dụng đối với chủ thể khi có
vi phạm pháp luật hoặc gây ra hậu quả xấu về những nguyên nhân được pháp luật qui định.
1.2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý
- Trách nhiệm pháp lí do pháp luật quy định
- Trách nhiệm pháp lý có liên quan mật thiết đến chế tài quy phạm pháp luật
- Trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có vi phạm pháp luật hoặc có thiệt hại
do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định
- Nội dung của trách nhiệm pháp lý thể hiện trên thực tế ở hậu quả bất lợi
mà chủ thể vi phạm pháp luật hoặc chủ thể theo quy định của pháp luật phải gánh chịu
1.3 Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý
Căn cứ pháp lí của việc truy cứu trách nhiệm pháp lí là tổng thể các quy định của pháp luật được các chủ thể tiến hành sử dụng làm căn cứ cho tất cả các hoạt động trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lí Căn cứ pháp lí được pháp luật xác định bao gồm:
- Các quy định của pháp luật hiện hành xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí Những quy định này thường được gọi là pháp luật về tố tụng hay pháp luật về thủ tục
- Các quy định của pháp luật hiện hành xác định hành vi bị coi là vi phạm pháp luật và biện pháp cưởng chế dự kiến áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi đó, những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm pháp lí, điều kiện áp dụng một số biện pháp cưỡng chế nhất định, các quy định
về hồi tố (nếu có)
Trang 6- Các quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí là một khoảng thời gian nhất định do pháp luật quy định mà chỉ trong thời hạn đó, chủ thể vi phạm pháp luật mới có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lí, nếu hết thời hạn đó mà hoạt động truy cứu chưa được tiến hành thì không được truy cứu nữa Tùy loại vi phạm mà pháp luật quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí dài, ngắn khác nhau, bên cạnh đó có những vi phạm không có thời hiệu truy cứu
Muốn truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức hay cá nhân nào đó trước hết cần phải chỉ ra được những căn cứ cho việc truy cứu dựa trên cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý Cơ sở pháp lý đó là những quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến vi phạm pháp luật đó và thẩm quyền, trình tự, thủ tục để giải quyết vụ việc đó Cơ sở thực tiễn của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là khi có vi phạm pháp luật xảy ra trên thực tế được xác định qua các yếu tố cấu thành của vi phạm đó, cụ thể là các yếu tố khách quan của vi phạm pháp luật, chủ thể vi phạm pháp luật, mặt chủ quan của vi phạm pháp luật và căn cứ vào khách thể của vi phạm pháp luật
1.4 Phân loại trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý có nhiều loại, do đó việc phân loại ý có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta đây lại là nội dung còn có không ít khó khăn vướng mắc nên chưa có sự thống nhất đem lại Khoa học pháp lý đưa ra nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại, cụ thể:
1.4.1 Dựa theo chủ thể vi phạm pháp luật
Trách nhiệm pháp lý có hai loại cơ bản là trách nhiệm của chủ thể cá nhân
và trách nhiệm của tổ chức Trong pháp luật xã hội chủ nghĩa nói chung và pháp luật nước ta nói riêng, cá thể hóa trách nhiệm là nguyên tắc cơ bản để truy cứu trách nhiệm pháp lý Điều này đem lại một thực tế là việc gánh chịu trách nhiệm
Trang 7pháp lý độc lập của các cá nhân trong nhiều loại vi phạm pháp luật là đương nhiên Như vậy, do có nhiều loại vi phạm pháp luật khác nhau nên nội dung gánh chịu các biện pháp trách nhiệm pháp lý của chủ thể cá nhân theo đó cũng khác nhau Chẳng hạn, trách nhiệm pháp lý của cá nhân trong vi phạm kỷ luật khác với trách nhiệm pháp lý của cá nhân trong lĩnh vực hành chính Không chỉ vậy, mỗi cá nhân cụ thể lại có địa vị pháp lý khác nhau theo quốc tịch hoặc theo lĩnh vực lao động, nghề nghiệp trên thực tế nên khi vì phạm pháp luật họ lại
có sự khác biệt nhất định về tính chất của các biện pháp trách nhiệm pháp lý Ví
dụ, tính chất cũng như cách thức thực thi trách nhiệm vật chất của công chức, viên chức khác với chế độ trách nhiệm vật chất của người lao động thủ công Hay, do vi phạm pháp luật nhưng trách nhiệm pháp lý của người nước ngoài có hàm ngoại giao có sự khác biệt nhất định với người nước ngoài bình thường hoặc người không quốc tịch Mặt khác, do tính đặc thù riêng biệt của vi phạm pháp luật hình sự mà theo đo pháp luật nước ta qui định ở lĩnh vực trách nhiệm pháp lý hình sự chỉ giành cho loại chủ thể cá nhân mà thôi
Còn đối với loại chủ thể tổ chức cũng có nhiều loại như: pháp nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân, nhà nước nên chế độ trách nhiệm pháp lý do
vi phạm pháp luật theo đó cũng hoàn toàn khác biệt nhau Đặc biệt, chế độ trách nhiệm pháp lý đối với loại chủ thể là nước hiện vẫn còn có ý kiến trái chiều về vấn đề liệu rằng có nên áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với nhà nước hay không
1.4.2 Dựa trên sự phân loại vi phạm pháp luật
Theo cách phân loại này, trách nhiệm pháp lý gồm: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật Các loại trách nhiệm này sẽ được đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện cả về phương diện lý luận và thực tiễn trong các chuyên để sau, ở đây xin trao đổi những điểm khái quát nhất
Trang 8+ Trách nhiệm hình sự: Đây là loại trách nhiệm pháp lý thể hiện thái độ trừng trị nghiêm khắc nhất của nhà nước đối với kẻ phạm tội Trách nhiệm hình
sự là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm mà cá nhân người phạm tội phải gánh chịu trước nhà nước, thể hiện ở bản án kết tội của tòa án, hình phạt đối với người phạm tội và dấu hiệu án tích của người đó Cơ sở của trách nhiệm hình sự là vi phạm pháp luật hình sự hay là tội phạm Trách nhiệm hình sự do pháp luật hình sự qui định, ở nước ta trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với chủ thể phạm tội là cá nhân Việc áp dụng trách nhiệm hình sự do tòa án thực hiện theo một qui trình tố tụng hết sức chặt chẽ, nghiêm ngặt Vẻ nguyên tác, trách nhiệm hình sự phát sinh kể từ thời điểm bản án đã tuyến có hiệu lực Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào mức độ phạm tội, theo qui định của Bộ luật hình sự nước ta thì thời hiệu thấp nhất là nam năm và cao nhất
là hai mươi năm Tuy nhiên, thời gian cần thiết đã được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với chủ thể phạm tội nhằm phục vụ cho công tác điều tra, truy
tố, xét xử được trừ vào thời gian chấp hành án hay thời gian chủ thể phạm tội thực thi trách nhiệm hình sự
+ Trách nhiệm hành chính: Trách nhiệm hành chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà các chủ thể cá nhân hoặc tổ chức phải gánh chịu khi có vi phạm hành chính Khác với trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính chủ yếu do các chủ thể quản lý hành chính áp dụng đối với mọi chủ thể nếu có hành vi phạm hành chính Hơn nữa trách nhiệm hành chính có thể được áp dụng đồng thời với các loại trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự, ngoại trừ trách nhiệm hình sự Thời hiệu để truy cứu trách nhiệm hành chính là một năm, trừ một số vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
+ Trách nhiệm dân sự: Trách nhiệm dân sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà các chủ thể cá nhân hoặc tổ chức phải gánh chịu khi có vi phạm dân sự hoặc khi
có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật qui định Trách nhiệm dân sự do tòa án áp dụng Trong trường hợp chủ thể không tự giác thực hiện bản án sẽ được cơ quan thi hành án thực thi bằng biện pháp bắt buộc đối
Trang 9với chủ thể Cũng giống như chủ thể trong trách nhiệm hành chính, chủ thể trong trách nhiệm dân sự có thể là các cá nhân hoặc tổ chức Trên thực tế, trách nhiệm dân sự có thể được áp dụng ngay cả với những chủ thể không trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm dân sự
+ Trách nhiệm kỷ luật: Có thể nói, cùng với sự biến đổi lớn về cơ cấu kinh tế xã hội ở nước ta đã đem lại sự đa dạng về loại chủ thể với sự khác biệt tư cách, địa vị pháp lý Đồng thời với quá trình đó thì chế độ trách nhiệm kỷ luật cũng phát sinh một cách đa dạng và linh hoạt tương ứng với môi trường thực tế của mỗi loại chủ thể Trách nhiệm kỷ luật phát sinh do vi phạm pháp luật hoặc vi phạm các qui tắc xác lập trật tự nội bộ đơn vị, cơ sở Nó có thể được xem xét theo từng lĩnh vực, chẳng hạn trách nhiệm của cán bộ công chức trong quản lý nhà nước, trách nhiệm trong lĩnh vực lao động, trong đào tạo hoặc nghiên cứu Trách nhiệm kỷ luật do chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức gắn với quan hệ lệ thuộc khi có vi phạm pháp luật Như vậy, trách nhiệm
kỷ luật không đơn thuần là loại trách nhiệm chỉ được áp dụng đối với cán bộ, công chức nhà nước
2 Sinh viên và trách nhiệm kỷ luật trong cơ sở đào tạo
2.1 Thực trạng vấn đề tuân thủ pháp luật của sinh viên tại cơ sở đào tạo
Kỷ luật nhà nước là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Bởi lẽ việc tuân thủ pháp luật, tuân thủ các qui định, qui chế của cá nhân, tổ chức là tiến để quan trọng nhằm thiết lập trật tự q và duy trì trật tự quản lý Bảo đảm kỷ luật nhà nước càng trở nên thiết yếu quan trọng
và cần được củng cố bởi các biện pháp pháp lý cũng như các biện pháp khác Trách nhiệm pháp lý nói chung, trách nhiệm kỷ luật nói riêng được xem là một trong những biện pháp hữu hiệu trong vai trò đảm bảo kỷ luật nhà nước Kỷ luật nhà nước được thiết lập tạo ra thói quen tuân thủ các qui định trong tác phong của cán bộ, công chức, người lao động ở công sở, cơ quan xí nghiệp Điều này góp phần nâng cao ý thức pháp luật của họ Chính vì vậy đối vi những cán bộ, công chức có hành vi vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật thì phải chịu trách
Trang 10nhiệm trước nhà nước về hành vi của mình Mặt khác trách nhiệm kỷ luật có mối liên hệ mật thiết với các dạng trách nhiệm pháp lý khác do vậy việc nghiên cứu trách nhiệm kỷ luật càng có ý nghĩa thiết thực Bởi lẽ mục đích xác lập các dạng trách nhiệm pháp lý nhằm giáo dục ý thức pháp luật, buộc cá nhân, tổ chức phải gánh chịu hậu quả về hành vi vi phạm của mình
Cũng giống như các hình thái ý thức xã hội khác, mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và sự tồn tại xã hội là một mối quan hệ tác động, góp phần hình thành nên đời sống pháp luật của xã hội Chính vì lẽ đó, vấn đề nâng cao ý thức của sinh viên trong việc tuân thủ pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng, phản ánh một đường lối chỉ đạo đúng đắn của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc quản lý nhà nước Điều này là đúng đắn bởi trên thực tế, sinh viên là một tầng lớp tri thức có vai trò thiết yếu, là nguồn nhân lực chính giúp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được phát triển hơn trong tương lai không xa Đồng thời, điều này cũng đòi hỏi các sinh viên cần trau dồi ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần gìn giữ trật tự, nội quy tại cơ sở đào tạo nói riêng,
kỷ cương của đất nước nói chung, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, đã đưa đất nước vượt qua được thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội Nhưng một thực tế đáng buồn là cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, đời sống ngày càng được nâng cao, thì tình trạng vi phạm pháp luật ngày càng tăng
cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng Trong đó, một số lượng không nhỏ các
vụ vi phạm pháp luật do sinh viên gây ra Nguyên nhân cơ bản vẫn là do ý thức pháp luật của một bộ phận sinh viên còn hạn chế Vì cũng cần phải nhấn mạnh rằng, đã có một thời gian dài, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa được chú trọng đúng mức, thậm chí nhiều nơi, nhiều lúc buông lỏng Sự coi nhẹ
và thiếu năng động trong công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho sinh viên