1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận 3 Dân sự 2

14 458 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 53,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và căn cứ Điều 325 BLDS 2015 thì việc có tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đúng theo hợp đồng hay không thì phụ thuộc vào ý chí của bên có quyền – bên có quyền có yêu cầu bên vi phạm tiếp tục

Trang 1

Buổi thảo luận thứ ba:

Vấn đề 1: BUỘC TIẾP TỤC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG:

Câu 1: Đối với vụ việc trong Quyết định số 36, đoạn nào cho thấy

Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp

đồng?

Trả lời:

Đoạn: “Tại bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số

06/2010/KDTM-ST ngày 27/8/2010, Tòa án nhân dân huyện Tân

Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

…2 Buộc Công ty TNHH Damool VINA tiếp tục thực hiện hợp

đồng số 007/09/DMVN-HHDT ngày 10/10/2009 giữa Công ty

TNHH Damool VINA với Công ty cổ phần Hồng Hà Bình

Dương ”

Đoạn: “Tại bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số

21/2010/KDTM-PT ngày 23/11/2010 Tòa án nhân dân tỉnh Bình

Dương quyết định:

… Giữ nguyên Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số

06/2010/KDTM-ST ngày 27/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện

Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”

Câu 2: Hướng của Tòa án địa phương có được Tòa án nhân dân tối

cao chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trả lời:

Hướng của Tòa án địa phương không được Tòa án nhân dân tối

cao chấp nhận

Đoạn Quyết định: “Hủy bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số

21/2010/KDTM-PT ngày 23/11/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương”.

Câu 3: Vì sao Tòa án nhân dân tối cao theo hướng nêu trên? Đoạn

nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trả lời:

Trang 2

Vì căn cứ vào Hợp đồng nguyên tắc số 007/09/DMVN-HHDT có quy định bên

vi phạm sẽ phải đền bù cho bên kia tối đa là 5% giá trị hợp đồng Công ty

TNHH Damool VINA đã vi phạm hợp đồng và đồng ý chịu phạt 5% giá trị hợp

đồng mà Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm buộc Công ty Hồng Hà Bình Dương và

Công ty TNHH Damool VINA tiếp tục thực hiện hợp đồng nguyên tắc số 007

là không đúng

Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm xác định là tranh chấp “hợp

đồng mua bán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất” là không

đúng Trong khi đó, hai bên tranh chấp về hợp đồng “nguyên

tắc chuyển nhượng tài sản và và nhà xưởng gắn liền với quyền

sử dụng đất”.

Đoạn 2 và đoạn 3 của phần Xét thấy của Quyết định cho câu

trả lời trên

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân

dân tối cao?

Trả lời: Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao là hoàn toàn hợp lý.

Thứ nhất, theo như yêu cầu của nguyên đơn khởi kiện là nếu Công ty Vina

không thực hiện hợp đồng thì phải thanh toán cho Công ty cổ phần Hồng Hà

Bình Dương theo thỏa thuận Hợp đồng mà 2 bên kí kết là hợp đồng nguyên tắc

không phải hợp đồng chính thức nên khi vi phạm hợp đồng này thì bên vi phạm

sẽ phải đền bù theo như sự thỏa thuận trong hợp đồng Đồng thời trong quá

trình giải quyết vụ án thì Công ty Vina từ chối tiếp tục thực hiện hợp đồng và

đồng ý chịu phạt như thỏa thuận Như vậy, việc tòa án sơ thẩm và phúc thẩm

buộc Công ty Vina tiếp tục thực hiện hợp đồng là không có căn cứ Và căn cứ

Điều 325 BLDS 2015 thì việc có tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đúng theo hợp

đồng hay không thì phụ thuộc vào ý chí của bên có quyền – bên có quyền có

yêu cầu bên vi phạm tiếp tục thực hiện hay không “Quan điểm về buộc tiếp tục

thực hiện của bên có quyền chưa thực sự rõ vì họ theo hướng hoặc tiếp tục,

hoặc buộc chịu phạt nên làm Tòa án lúng túng Trong những trường hợp như

vậy (tức bên bị vi phạm theo hướng tiếp tục cũng được hay phạt cũng được và

bên vi phạm từ chối thực hiện), Tòa án không buộc tiếp tục hợp đồng là chấp

nhận” [1]

Thứ hai, hợp đồng mà hai bên tranh chấp là “Hợp đồng nguyên tắc về việc

chuyển nhượng tài sản và nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất” chứ

không phải tranh chấp về “Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với quyền sử

dụng đất” Hai bên chỉ mới kí hợp đồng nguyên tắc và đó là cơ sở để hai bên kí

và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng chính thức Bên Công ty Vina đã vi

Hội luật gia Việt Nam, tái bản lần 6, tập 2, trang 443.

Trang 3

phạm hợp đồng nguyên tắc này chứ không phải vi phạm về hợp đồng mua bán

vì hai bên không có bất kì hợp đồng mua bán tài sản nào

Câu 5: Đối với vụ việc trong Bản án số 01, bên bán có vi phạm

nghĩa vụ giao cà phê không? Vì sao?

Trả lời:

Đối với vụ việc trong Bản án số 01, bên bán có vi phạm nghĩa

vụ giao cà phê

Vì: Căn cứ Khoản 1 Điều 351 BLDS 2015: “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có

nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ

nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” và Khoản 1 Điều

434 BLDS 2015 về Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán: “1 Thời hạn thực

hiện hợp đồng mua bán do các bên thỏa thuận Bên bán phải giao tài sản cho

bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận; bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc

sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý” Căn cứ vào Bản án thì việc xác lập

hợp đồng mua bán giữa các bên hoàn toàn tự nguyện Bà

Thanh, ông Hữu đã nhận của bà Phượng với tổng số tiền là

188.600.000đ Quy ra số lượng cà phê nhân xô đã quy chuẩn

tại thời điểm nhận tiền là 7.729,67 kg Sau khi nhận tiền, ông

bà Thanh Hữu không giao cà phê cho bà Phượng đúng thời

điểm giao hàng như đã cam kết

Như vậy, đối với vụ việc trong bản án số 01, bên bán đã vi phạm nghĩa vụ giao

cà phê Vì sau khi nhận tiền ông Hữu bà Thanh đã không giao cà phê cho bà

Phượng đúng thời hạn đã thỏa thuận

Câu 6: Tòa án có buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê không?

Trả lời:

Tòa án có buộc bên bán là ông bà Thanh Hữu phải tiếp tục giao

cà phê cho bên mua là bà Phượng

Đoạn: “Vì HĐXX tuyên buộc bà Trần Thị Thanh và ông Trần

Duy Hữu có trách nhiệm giao trả cho bà Nguyễn Thị Phượng

7.729,67kg cà phê nhân xô đã quy chuẩn là hoàn toàn thỏa

đáng.”

Câu 7: Trên cơ sở văn bản, có quy định nào cho phép Tòa án buộc

bên bán phải tiếp tục giao cà phê không? Nêu rõ cơ sở văn bản khi

trả lời?

Trả lời:

Trang 4

Trên cơ sở văn bản, có quy định tại Điều 352 BLDS 2015: Trách

nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ: “Khi bên có nghĩa vụ thực

hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu

cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ”

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 113 BLDS 2015: “1 Vật cùng loại là

những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và

xác định được bằng những đơn vị đo lường Vật cùng loại có

cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau” Tức là, nếu vật có

cùng hình dáng, tính chất, cùng tính năng sử dụng và xác định

được bằng đơn vị đo lường (kg, m, lít ), ví dụ: gạo, muối, xăng

cùng loại, thì vật đó được xác định là vật cùng loại 2 Do đó,

cà phê là vật cùng loại nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 356 BLDS

2015: Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật: “2.

Trường hợp nghĩa vụ giao vật cùng loại không được thực hiện

thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao vật

cùng loại khác; nếu không có vật cùng loại khác thay thế thì

phải thanh toán giá trị của vật” Với những quy định trên, cho

phép Tòa án buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê

Câu 8: Cho biết những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những

thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên

cứu

Trả lời:

Khoản 1 Điều 351 BLDS 2015 quy định: “1 Bên có nghĩa vụ mà vi phạm

nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền Vi phạm nghĩa

vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện

không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”.

Khoản 1 Điều 351 BLDS 2015 đã bổ sung thêm định nghĩa về “vi phạm nghĩa

vụ” mà Điều 302 BLDS 2005 không quy định Tiêu đề của Điều 302 BLDS

2005 đề cập đến trách nhiệm do “vi phạm nghĩa vụ” nhưng Điều 302 không

đưa ra định nghĩa

Bên cạnh đó, việc ghi nhận trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ được thể

hiện qua Khoản 1 Điều 303, Điều 304 BLDS 2005, ta thấy luật đã quy định về

trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật, không thực hiện

đúng công việc và theo hướng bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa

vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ phát sinh “Tuy nhiên, các quy định nêu trên

chỉ đề cập đến một số nghĩa vụ cụ thể mà chưa có tính bao quát cho tất cả các

học pháp lý - Bộ Tư pháp.

Trang 5

nghĩa vụ được phát sinh từ nhiều căn cứ khác nhau, đặc biệt là từ hợp đồng” [3].

Và hai điều luật trên đã được quy định cụ thể hơn qua Điều 356 BLDS 2015 về

nghĩa vụ giao vật đặc định và cùng loại và Điều 358 về trường hợp bên có

nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện Quy định như

vậy đã bao quát hơn rất nhiều và đồng thời bảo đảm được lợi ích của bên có

quyền nhiều hơn

Và việc bổ sung thêm quy định tại Điều 352 BLDS 2015 là rất cần thiết Bởi lẽ,

quy định ở Điều 352 BLDS 2015 được áp dụng cho tất cả các nghĩa vụ, bên có

quyền có thể áp dụng quy định này khi đối kháng với bên có nghĩa vụ để buộc

bên có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ khi bên có nghĩa vụ vi phạm

nghĩa vụ [4]

Vấn đề 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ KHÔNG

THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG:

Câu 1: Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và

hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm

Trả lời:

Giống nhau: Hợp đồng đang tồn tại thì bị triệt tiêu Về hậu quả pháp lý: căn cứ

Điều 131 và Điều 427 BLDS 2015:

 Đều làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

 Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận;

 Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường cho bên kia;

 Việc giải quyết hậu quả liên quan đến nhân thân do luật này hoặc luật khác

có liên quan quy định

Khác nhau:

- Vi phạm về điều kiện có hiệu lực được quy định tại Điều 177 BLDS 2015 là điều kiện về chủ thể, sự tự nguyện, nội dung, mục

- Một bên có quyền đơn phương hủy bỏ:

+ Bên kia vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận;

Đức – Hội Luật gia Việt Nam, xuất bản lần thứ hai, trang 293.

Đức – Hội Luật gia Việt Nam, xuất bản lần thứ hai, trang 295.

Trang 6

Căn cứ

đích của hợp đồng, hình thức của hợp đồng

- Bên cạnh đó nếu hợp đồng thuộc Điều 122, Điều 123 đến 129, Điều 408 thì cũng sẽ bị vô hiệu

+ Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;

+ Hủy hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ (Điều 424); do không có khả năng thực hiện (Điều 425); do tài sản bị hư hỏng, mất mát (Điều 436);

+ Hủy hợp đồng theo các quy định trong phần các hợp đồng thông dụng của BLDS 2015 (Điều

436 - 439; 445; 445; 476; 454…); + Hủy hợp đồng trong các luật chuyên ngành

Hình

thức

- Phải được Tòa án tuyên bố vô hiệu (Điều 132)

- Được quyền đơn phương hủy bỏ nhưng phải thông báo cho bên kia biết (Khoản 3 Điều 423)

Trách

nhiệm

bồi

thường

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường (Khoản 4 Điều 131)

- Bên bị hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường (Khoản 3 Điều 428)

- Thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp không bị hủy bỏ (Khoản 1 Điều 427)

Trách

nhiệm

hoàn trả

- Các bên hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền (Khoản 2 Điều 131)

- Các bên hoàn trả cho nhau tài sản

đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triền tài sản, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền (Khoản 2

Trang 7

Điều 427).

Câu 2: Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay

bị hủy bỏ?

Trả lời: Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thì hợp đồng này bị vô hiệu.

Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án

nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng)

Trả lời:

Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long là hợp lý

Vì ngay từ khi giao kết, hợp đồng này đã vi phạm điều kiện có hiệu lực là về

chủ thể giao kết hợp đồng căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 117, đó là về năng lực

pháp luật dân sự của chủ thể để xác lập giao dịch Hai bên chủ thể trong giao

dịch này không có thẩm quyền giao kết hợp đồng, vậy nên khi Tòa xét giao

dịch trên bị vô hiệu là hoàn toàn hợp lý

Câu 4: Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp

đồng không? Vì sao?

Trả lời:

Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì áp dụng phạt vi phạm hợp đồng

“Vì khi hợp đồng bị vô hiệu thì hợp đồng không phải thực hiện và khi hợp

đồng không phải thực hiện thì không có vi phạm hợp đồng và khi không có vi

phạm hợp đồng thì thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng, về bồi thường thiệt

hại do vi phạm hợp đồng không có ý nghĩa Ngược lại, nếu hợp đồng bị hủy bỏ

thì có nghãi là hợp đồng đã có hiệu lực và phải thực hiên nên có thê có việc vi

phạm và thỏa thuận giải quyết hệ quả của sự vi phạm (phạt vi phạm và bồi

thường thiệt hại) là cần thiết, cần được duy trì” [5]

Bên cạnh đó, “Các quy định về phạt vi phạm hợp đồng trong Luật thương mại

nằm trong phần không thực hiện đúng hợp đồng và nội hàm của quy định trong

luật này thể hiện phạt vi phạm hợp đồng chỉ được áp dụng trong giai đoạn thực

hiện hợp đồng BLDS cũng theo hướng này khi quy định phạt vi phạm hợp

đồng trong mục “Thực hiện hợp đồng” có nghĩa là khi bàn về phạt vi phạm hợp

đồng chúng ta đang ở giai đoạn thực hiện hợp đồng mà thực hiện hợp đồng chỉ

được đề cập đến khi hợp đồng đã có hiệu lực thực hiện Nói cách khác, phạt vi

phạm chỉ được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có hiệu lực và phải thực

Hội Luật gia Việt Nam, tập 2, tái bản lần thứ sáu, trang 764.

Trang 8

hiện Do đó nếu hợp đồng không có hiệu lực (vô hiệu) thì không áp dụng các

quy định về phạt vi phạm hợp đồng (hợp đồng không có hiệu lực thì không

phải thực hiện và khi hợp đồng không phải thực hiện thì phạt vi phạm không có

vai trò gì)” [6]

Câu 5: Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long

đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng

giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long?

Trả lời:

TAND tỉnh Vĩnh Long tuyên hợp đồng trên là vô hiệu và không xét yêu cầu

phạt phạt vi phạm hợp đồng vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và

nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết

Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tuyên hợp đồng trên là vô hiệu nên không xét

yêu cầu phạt vi phạm là hợp lý Vì:

 Phạt vi phạm chỉ áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có hiệu lực Hợp

đồng vô hiệu thì không áp dụng chế định phạt vi phạm bên cạnh đó khi vô

hiệu thì hợp đồng đó ngay từ khi giao kết không có hiệu lực các bên trả cho

nhau những gì đã nhận, bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại và khi hợp đồng

không có hiệu lực thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ

khi giao kết nên các bên không phải thực hiện hợp đồng và khi không phải

thực hiện hợp đồng thì sẽ không có vi phạm hợp đồng và khi không có vi

phạm thì không có phạt vi phạm

Câu 6: Điểm giống và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp

đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm

Trả lời:

Đơn phương chấm dứt hợp đồng

Hủy bỏ hợp đồng

do có vi phạm

Giống

nhau:

- Đều dẫn đến chấm dứt hợp đồng

- Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm trong hợp đồng hoặc luật định Khoản 1 Điều 423, Khoản 1 Điều 428

- Bên hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thông báo cho bên kia, nếu không thông báo mà gây thiệt hại phải bồi thường Khoản

3 Điều 423, Khoản 2 Điều 428

- Bên có lỗi phải bồi thường Khoản 1 Điều 423, Khoản 1 Điều 428

Hội Luật gia Việt Nam, tập 2, tái bản lần thứ sáu, trang 592.

Trang 9

- Hợp đồng bị chấm dứt trừ các thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp

Khác nhau:

- Một bên vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;

- Một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;

- Các trường hợp pháp luật có quy định (Khoản 1 Điều 423)

- Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận giải quyết tranh chấp (Khoản

1 Điều 427)

- Các bên hoàn trả cho nhau những

gì đã nhận sau khi trừ các chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản

Hoàn trả bằng hiện vật nếu không được thì quy ra tiền (Khoản 2 Điều 427)

- Một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định

Có nghĩa là, đơn phương chấm dứt hợp đồng có thể dựa trên sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật mà không nhất thiết phải xuất phát từ sự vi phạm hợp đồng (Khoản 1 Điều 428)

- Hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa

- Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện (Khoản 3 Điều 428)

Câu 7: Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng

nêu trên không? Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ

Trả lời:

Ông Minh được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên

Vì theo tình huống thì ông Cường đã vi phạm trong việc thanh toán cho ông

Minh Dẫn đến việc ông Minh yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy bỏ hợp đồng

chuyển nhượng

Trang 10

Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 423 BLDS 2015 thì một bên có quyền hủy bỏ

hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng

nghĩa vụ trong hợp đồng (vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng là

việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đén mức làm cho bên kia

không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng theo Khoản 2 Điều 423

BLDS 2015) thì với việc không thanh toán của ông Cường đã dẫn đến việc ông

Minh không đạt được mục đích của mình khi giao kết hợp đồng là chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và nhận lấy tiền Vậy nên, có đủ cơ sở để ông Minh

được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên

Vấn đề 3: ĐỨNG TÊN GIÙM MUA BẤT ĐỘNG SẢN:

Câu 1: Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do

bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có

thuyết phục không? Vì sao?

Trả lời:

Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà

Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ là

thuyết phục

Vì căn cứ “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” lập ngày 07/06/2001 có nội

dung xác nhận căn nhà số 16-B20 do bà Tuệ bỏ tiền mua và nhờ ông Bình, bà

Vân đứng tên hộ Giấy cam đoan này có chữ ký của ông Bình và bà Vân “Giấy

khai nhận tài sản” ngày 09/08/2001 của bà Tuệ cũng có nội dung năm 1993 bà

Tuệ mua căn nhà số 16 - B20,…

Mặt khác, tại Biên bản hòa giải ngày 05/10/2010 và ngày 14/10/2010 ông Bình

cũng thừa nhận nhà 16 - B20 là bà Tuệ cho tiền mua và nhờ bà Vân đứng tên

cùng mua Anh Nguyễn Xuân Hải là con ông Bình cũng khẳng định nhà

16-B20 do bà Tuệ mua…

Do đó, bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ là có căn

cứ

Câu 2: Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không?

Vì sao?

Trả lời:

Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ không được đứng tên Vì

việc mua nhà ở và quyền sử dụng đất tại Việt Nam là một hạn

chế đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước

ngoài so với công dân Việt Nam Theo quy định tại Điều 80

Ngày đăng: 22/10/2018, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w