Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến Trước yêu cầu đổi mới giáo dục diễn ra trong vòng chục năm trở lại đây, các nhà trường và giáo viên đã tìm mọi cách nhằm mong muốn thay đổi phư
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Áp dụng mô hình dạy học người học là người đồng sáng
tạo kiêm giảng dạy (teacher and student partnership) trong dạy học ở trường phổ
thông.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2017 - 2018
4 Tác giả:
I Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Đổi mới giáo dục là nhu cầu tất yếu của xã hội, nhất là ở nước ta trong bối cảnh hội nhập, thế giới đang chuyển mình từng giờ, từng phút Một trong những nội dung quan trọng của đổi mới giáo dục toàn diện là đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực của học sinh, thay đổi tư tưởng, lề lối, thói quen học tập từ đó giúp nâng cao năng lực làm việc, năng suất lao động và rèn luyện các kĩ năng cần thiết Do đó, đổi mới phương pháp dạy học ở các cấp học có thể nói là vô cùng cấp thiết hiện nay.
So với trước đây, động cơ học tập và phương pháp học tập của học sinh hiện nay
có nhiều thay đổi Trừ một số ít học sinh có định hướng học tập rõ ràng, phần lớn học sinh ở các lớp cuối cấp II và cấp III đều rất mông lung về việc học, không có mục tiêu, động cơ học tập Các em học chủ yếu theo thói quen, theo yêu cầu của cha mẹ, thầy cô
và hướng tới các cuộc thi Với mục đích và định hướng học tập như vậy đã gây hệ luỵ nghiêm trọng là: học sinh đổ xô đi học thêm nhằm có thêm thật nhiều kiến thức, biết cách làm nhiều dạng bài tập, ít tiếp xúc với mọi người, không quan tâm đến xã hội, không biết bản thân mình thích gì, có thể làm gì cho xã hội và những người xung quanh… Về lâu dài sẽ tạo ra những thế hệ người trẻ sống không có lý tưởng, không có đam mê, thiếu bản lĩnh, vô cảm, ích kỉ, thiếu tự giác, thiếu trách nhiệm với cộng đồng
xã hôi… ảnh hưởng lớn đến tương lai của đất nước Điều này khiến yêu cầu đổi mới giáo dục, đặc biệt là phương pháp dạy học càng cấp thiết hơn bao giờ hết.
Việc coi người học là trung tâm đã được coi trọng và là mục tiêu đổi mới giáo dục trong nhiều năm qua Tuy vậy, hiệu quả chưa thật rõ ràng Bằng chứng là khi học sinh, sinh viên trở thành người lao động cho xã hội vẫn còn rất nhiều hạn chế về năng lực, kĩ năng sống, thái độ… Bản thân là giáo viên của một trường chuyên hàng đầu cả nước, chúng tôi vô cùng trăn trở về thực trạng trên Mong muốn nâng cao trình độ, đổi mới phương pháp, trau dồi kinh nghiệm để đào tạo ra các thế hệ học sinh không những thành đạt mà còn có ích cho xã hội, cộng đồng đã thôi thúc chúng tôi tìm nhiều cách ở nhiều nơi để học hỏi Tình cờ, tôi được biết về mô hình dạy học mới đã được áp dụng tại các nước phát triển: Hoa Kỳ, Oxtralia, New Zealand… trong 3 – 5 năm trở lại đây, cũng là một dạng phát triển hơn của mô hình lấy học sinh làm trung tâm qua một diễn
Trang 2đàn Giáo viên sáng tạo Việt Nam Tuy nhiên, đây là mô hình dạy học dù không hoàn toàn mới nhưng chưa được triển khai rộng rãi ở Việt Nam Phần tài liệu chúng tôi đã tham khảo từ các trang web của nước ngoài, sau đó tổng hợp lại và dịch ra một cách dễ hiểu nhất Trong quá trình dạy học, đối với một số nội dung, tôi và đồng chí Trần Thị Kim Yến đã bàn bạc để soạn kế hoạch bài học và thử nghiệm tại một số lớp ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Kết quả trước mắt, chúng tôi thấy rằng các em rất hứng thú, chủ động hơn với việc học, các em phát huy được khả năng sáng tạo, tự giác tìm hiểu các vấn đề xung quanh một cách hào hứng, trình bày sản phẩm rất công phu, độc đáo và tự hào về sản phẩm của mình… Tất cả những kết quả đó tuy nhỏ nhưng chúng tôi thấy rằng đã mang lại chút thay đổi giáo dục nói chung và vì những mầm non tương lai của đất nước nói riêng Vì vậy, chúng tôi mạn phép viết lại những kinh nghiệm nho nhỏ của mình, hy vọng sẽ giúp ích ít nhiều cho các quý thầy cô trong việc dạy học trò,
kể cả việc dạy con ở nhà – vì những em bé và những bạn trẻ sẽ được sống và học tập hạnh phúc hơn!
II Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục diễn ra trong vòng chục năm trở lại đây, các nhà trường và giáo viên đã tìm mọi cách nhằm mong muốn thay đổi phương pháp giáo dục sao cho toàn diện hơn, thoát khỏi việc chỉ dạy về kiến thức, thông qua các hình thức đổi mới: dạy học theo nhóm, dạy học dự án,… các kĩ thuật dạy học tích cực như: phòng tranh, khăn trải bàn… Tuy nhiên điều kiện áp dụng ở nhiều nơi còn hạn chế bởi nhiều yếu tố: năng lực giáo viên khó tiếp cận và triển khai cái mới, kĩ năng học sinh còn yếu
do chưa được chuẩn bị từ các cấp thấp hơn, điều kiện lớp học quá đông, áp lực của nội dung bài giảng, chương trình dài, yêu cầu của các kì thi… Đó chính là những rào cản khiến việc học trong các nhà trường hết sức nặng nề, việc đổi mới giáo dục mang lại hiệu quả không cao (điều này có được khắc phục hơn tại các trường quốc tế).
Việc đổi mới không thể diễn ra trong vài một tuần, tháng, năm Do vậy, kể cả với hàng loạt khó khăn được kể ra như trên, thành công của mỗi giờ học cốt yếu nhất vẫn là thầy và trò Người thầy có suy nghĩ tích cực, giàu kinh nghiệm, nhiệt huyết mới có phương pháp giảng dạy tích cực được Trò có khả năng tự học, khả năng làm việc nhóm… thì việc học mới diễn ra suôn sẻ, như ý Để đáp ứng được quá nhiều yêu cầu cùng một lúc (việc học để đáp ứng chương trình dài, yêu cầu của các kì thi, kì vọng của gia đình, rèn được các kĩ năng cho cuộc sống và đóng góp cho xã hội của các em sau này…), giáo viên cần linh hoạt, lựa chọn nội dung, phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp để vừa đáp ứng được các yêu cầu hiện tại, vừa chuẩn bị cho học sinh những hành trang quan trọng nhất cho tương lai Mô hình này khi được áp dụng ở một số nội dung
sẽ giúp đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại (rèn luyện được kĩ năng thế kỉ XXI) đồng thời tạo được động lực mạnh mẽ cho sự tự học của học sinh thì sẽ nhanh chóng giải quyết được những khó khăn của hiện tại (học sinh sẽ nhanh chóng biết cách chiếm lĩnh tri thức thì không quan trọng bài dài hay ngắn, kì thi dù khó cũng đủ bản lĩnh vượt qua).
Trang 3Bên cạnh những thực trạng kể ra ở trên, thế giới đang thay đổi từng giờ, từng phút khiến việc đào tạo cũng cần có sự thay đổi Nếu như giáo dục người thầy là trung tâm của việc dạy học đã không còn phù hợp ở thời điểm hiện tại (mặc dù ở rất nhiều nơi, nhiều trường vẫn còn phổ biến) thì kể cả mô hình lấy học sinh làm trung tâm được coi là tích cực cũng đang bộc lộ một số điểm lạc hậu so với thế giới Với mô hình lấy học sinh làm trung tâm, người thầy vẫn là người chủ động quyết định lựa chọn kiến thức để học sinh tìm tòi, quá trình đào tạo nhanh, chi phí thấp có đầu ra đồng đều, ổn định về chất lượng Các yêu cầu đầu ra về nghề nghiệp phục vụ cho xã hội công nghiệp hoá nên sẽ đào tạo chuẩn hóa kiến thức đáp ứng lao động cho nền sản xuất dây chuyền
và hàng loạt được tiêu chuẩn hóa Mô hình này tiến bộ hơn giáo dục thầy là trung tâm ở chỗ thầy sẽ dựa vào kinh nghiệm học tập của trò để hướng dẫn trò tự tìm kiếm tri thức bằng các phương pháp, kĩ thuật dạy học Tuy nhiên, ở xã hội hiện nay, khi trí tuệ nhân tạo đang ngày càng chiếm lĩnh, nguồn thông tin nhiều và đa dạng có thể giúp người học
dễ dàng tiếp cận nguồn tri thức và tự đào tạo, đồng thời ngành nghề rất đa dạng, dựa chủ yếu trên sự sáng tạo và kĩ năng thế kỉ XXI thì người thầy hoàn toàn có thể coi người học là người đồng hành, thậm chí suy nghĩ tích cực hơn là có những khía cạnh học trò còn rành rẽ hơn để dạy lại mình (hoặc là một hình thức tưởng thưởng để học trò chiếm lĩnh tri thức bằng cách dạy lại) Vì vậy, việc đào tạo cần thay đổi, cần chú ý đến nhu cầu, năng lực chuyên biệt của mỗi cá nhân đảm bảo thích ứng với nhiều nhóm ngành nghề Do đó, đầu ra của đào tạo thời đại mới cần rất đa dạng
Nếu trước những khó khăn mà ngại ngần, khiến sự đổi mới bị cản trở thì mãi mãi
sẽ không bao giờ tạo ra cái mới Do vậy, việc áp dụng mô hình này có thể coi là phù hợp với xu thế nên được phổ biến trong giáo dục Tất nhiên, đổi mới cần mang tính lan toả, áp dụng trong từng môi trường phù hợp cụ thể, từng nội dung cụ thể…
III Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
NỘI DUNG CỤ THỂ
3.1 Tìm hiểu về mô hình người học đồng sáng tạo
3.1.1 Bối cảnh xuất hiện mô hình dạy học
Ý tưởng về mô hình này xuất hiện đầu thập kỉ 80 bởi nhà giáo dục nổi tiếng Bloom Sau đó được áp dụng lần tiên ở bậc đại học Oxtraylia khi sinh viên được tham gia vào việc lập kế hoạch liên quan đến nội dung học tập ngay trước khi bắt đầu khóa học
Khái niệm được thừa nhận nhiều về mô hình này là “Một quá trình cộng tác, đổi
vai luân phiên thông qua đó tất cả những người tham gia đều có cơ hội đóng góp như nhau, mặc dù không nhất thiết phải theo cùng một cách giống nhau…”
Sự xuất hiện của mô hình này trên cơ sở mô hình dạy học cũ bộc lộ nhiều hạn chế trong bối cảnh mới Với hầu hết các nền giáo dục, giáo viên là người quyết định kế nội dung kế hoạch dạy học – tức là chuẩn bị toàn bộ kế hoạch học tập, chuẩn kiến thức,
kĩ năng và học sinh là người thụ hưởng thảnh quả đó Mô hình này được duy trì lâu dài qua nhiều quốc gia khác nhau và cũng đã phát huy hiệu quả tốt trong suốt thời kì công
Trang 4nghiệp hóa Tuy nhiên, việc đào tạo hàng loạt học sinh, sinh viên được chuẩn kiến thức đầu vào và đầu ra giống nhau để phù hợp với yêu cầu công việc của thời đại công nghiệp đã không còn phù hợp Nhất khi các ngành nghề mới mà nhân loại chưa từng biết được tạo ra dựa trên chủ yếu trên sự sáng tạo và các nhóm kĩ năng của thế kỉ XXI Nhiều ngành nghề làm việc dựa trên kiến thức tích lũy bị mất đi hoặc thu hẹp phạm vi việc làm và trả lương ít hấp dẫn.
Rõ ràng, với cũng một nội dung, kế hoạch giảng dạy áp dụng cho nhiều lớp học, nhiều cá thể học sinh khác nhau chắc chắn sẽ không thể phù hợp với mọi đối tượng học tập và đầu ra đa dạng như mong muốn Cùng một giáo viên, một chương trình dạy như nhau thì mức độ tiếp thu và khả năng đạt được những điều giáo viên kì vọng sẽ rất khác nhau Điều giáo viên chuẩn bị và lường trước trong giáo án/ kế hoạch học tập của mình
có thể không đáp ứng với mong muốn học tập hoặc trình độ học tập của nhiều học sinh
dù kế hoạch đó có hoàn hảo hay linh hoạt như thế nào đi chăng nữa Do đó, có các nền giáo dục tiến tiến trên thế giới đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn mô hình học mà trong đó người học là người đồng sáng tạo và kiêm giảng dạy – Teacher – Student partnership
(từ sau đây sẽ sử dụng cụm từ vắn tắt “mô hình đồng sáng tạo” cho tên của mô hình
này) Có thể nói đây là cách thuận lợi nhất để tạo ra kế hoạch học tập linh hoạt nhất, và
có đáp ứng trực tiếp nhu cầu, năng lực học tập của người học.
Bối cảnh dạy học và vai trò lịch sử của hai mô hình dạy học trên đã có ảnh hưởng trực tiếp đến cách giáo viên chuẩn bị kế hoạch học tập
Giáo
viên
quyết
định
Nghề nghiệp chủ yếu liên quan
đến quá trình công nghiệp hóa Đào tạo chuẩn hóa kiến thức đáp ứng lao động cho nền sản xuất dây chuyền và
hàng loạt được tiêu chuẩn hóa Giáo viên là người có ưu thế khi
được tiếp cận nhiều kiến thức
hơn (thông qua quá trình đào tạo
và nguồn tài liệu)
Giáo viên quyết định việc truyền bá kiến thức Do đó, quá trình đào tạo nhanh, chi phí thấp có đầu ra đồng đều, ổn định về chất lượng.
Do đó, đầu ra của đào tạo rất đa dạng Nguồn thông tin rất đang dạng,
nhu cầu học tập phát triển bản
thân cũng đa dạng hơn
Học sinh cũng là người có thể tiếp cận và biết được nhiều nguồn kiến thức đa dạng hoàn toàn có thể tham gia quá trình đào tạo và tự đào tạo
Hình ảnh sau đây là một ví dụ mô tả về sự khác biệt giữa mô hình dạy học mà giáo viên giữ vai trò quyết định với mô hình dạy học đồng sáng tạo:
Trang 5Mô hình người học đồng sáng tạo có nhiều điểm tương đồng với mô hình lấy người học làm trung tâm ở điểm là những mô hình cho phép người học chủ động hơn trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tuy nhiên, mô hình người học đồng sáng tạo đã làm sâu sắc hơn lí thuyết lấy người học làm trung tâm bằng cách trao quyền chủ động cho người học nhiều hơn Chúng ta có thể xem xét sự khác biệt này trong mục tiếp theo sau đây.
3.1.2 Sự tương đồng nhưng ưu việt hơn của mô hình đồng sáng tạo so với mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm
Sự tương đồng giữa hai mô hình dạy học
- Về mục tiêu dạy học
Đều hướng vào việc chuẩn bị cho học sinh sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng, tôn trọng nhu cầu, lợi ích, tiềm năng của người học…
- Về nội dung dạy học
Đều có quan điểm rằng hệ thống kiến thức lí thuyết chưa đủ để đáp ứng mục tiêu chuẩn bị cho cuộc sống Cần chú trọng các kĩ năng thực hành vận dụng các kiến thức lí thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Dạy học không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động Khả năng hành động là một yêu cầu được đặt ra không phải đối từng cá nhân mà
cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn xã hội Chương trình giảng dạy phải giúp cho từng cá nhân người học biết hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng; “từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại phát triển như nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo”.
- Về phương pháp dạy học
Đều coi trọng việc tổ chức cho học sinh hoạt động thông qua đó học sinh vừa tự lực nắm các tri thức, kĩ năng mới, đồng thời được rèn luyện về phương pháp tự học, được tập dượt phương pháp nghiên cứu
- Về hình thức tổ chức dạy học
Trang 6Đều rất linh hoạt thường dùng bàn ghế cá nhân, có thể bố trí thay đổi linh hoạt cho phù hợp với hoạt động học tập trong tiết học, thậm chí theo yêu cầu sư phạm của từng phần trong tiết học Nhiều bài học được tiến hành trong phòng thí nghiệm, ngoài trời, tại Viện bảo tàng hay cơ sở sản xuất…
- Về đánh giá
Đều giúp học sinh hiểu và tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng phần trong chương trình học tập, chú trọng bổ khuyết những mặt chưa đạt được so với mục tiêu trước khi bước vào một phần mới của chương trình
Tính ưu việt của mô hình người học đồng sáng tạo so với mô hình lấy HS làm trung tâm
Có thể nói cả hai mô hình dạy học trên đều đã quan tâm nhu cầu và khả năng của người học, đáp ứng tốt hơn đến tính cá thể của người học Tuy nhiên, ở mô hình
người học đồng sáng tạo có nhiều điểm ưu việt hơn trên phương diện cá thể hóa và chủ động hóa quá trình tự đào tạo của người học, không những thế nó còn giúp chính người
dạy có điều kiện học hỏi lại kinh nghiệm của người học, từ đó hiểu biết người học sâu sắc hơn Qua nghiên cứu tài liệu, thì có thể thấy ưu điểm của mô hình người học đồng sáng tạo thể hiện rõ nhất trên các mặt sau:
- Thứ nhất, về nội dung học tập: học sinh được quyền thảo luận với giáo viên về
nội dung học tập phù hợp nhất với nhu cầu và năng lực của mình cũng như trình tự và logic phát triển của nội dung học tập đó Nghĩa là ngay từ quá trình tiếp cận đầu tiên với môn học/học phần học sinh có quyền bàn bạc hơn thế nữa học còn là người ra quyết định lựa chọn cuối cùng với một số học phần không bắt buộc.
- Thứ hai, về kế hoạch học tập: học sinh là người tự lập kế hoạch học tập với
tiến trình, thời hạn trong phạm vi giới hạn cho phép của môn học và người dạy.
- Thứ ba, về hình thức học tập: Đây là điểm khác biệt lớn học sinh được quyền
lựa chọn hình thức học tập phù hợp nhất với khả năng của mình và những nhu cầu phát triển bản thân của cá nhân Tất nhiên, hình thức học tập đó sẽ dẫn đến một sản phẩm học tập tương ứng được sự đồng ý của giáo viên Đó có thể là một bài báo cáo, một bộ phim ngắn, cuốn cẩm nang…
- Thứ tư, về đánh giá kết quả học tập, học sinh là người chịu trách nhiệm cao
nhất về khả năng chiếm lĩnh nội dung học tập đã thỏa thuận từ trước Phản hồi từ người học khác (bao gồm cả giáo viên) khi thụ hưởng thành quả tìm hiểu của của cá nhân đó
có ý nghĩa rất quan trọng để người học tự hoàn thiện mình chứ không có ý nghĩa xếp hạng Hơn nữa, các sản phẩm học tập còn có thể có tính ứng dụng trực tiếp hoặc được công bố rộng rãi để nhận phản hồi từ môi trường thực tế.
Bảng so sánh sau đây sẽ làm rõ hơn những ưu điểm của mô hình dạy học đồng sáng tạo so vớicác mô hình được đề xuất trước đó:
Tiêu chí Dạy học truyền
thống
Dạy học lấy người học làm trung tâm
Dạy học mà người học đồng sáng tạo Người quyết Giáo viên Giáo viên Giáo viên đề xuất – học
Trang 7Giáo viên tạo các nhiệm vụ để học sinh thực hiện chiếm lĩnh kiến thức
Học sinh đề xuất kế hoạch chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng
Học sinh quyết định hình thức học tập và giảng dạy lại kiến thức lĩnh hội
Đánh giá
Giáo viên là người duy nhất
Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Học sinh chịu trách nhiệm cao nhất, giáo viên, bạn cùng học, cộng đồng phản hồi cho sản phẩm của học sinh
Ảnh hưởng
Chi phí đào tạo thấp thấp nhưng người học thụ động phụ thuộc nhiều vào giáo viên
Nhu cầu và trình độ của người học được quan tâm nhưng giáo viên vẫn là người có quyền quyết định
Người học thể hiện vai trò chủ động học theo nhu cầu
và năng lực, giáo viên có quá trình học ngược để hiểu học viên hơn
3.1.3 Phạm vi ứng dụng của mô hình đồng sáng tạo
Có thể khẳng định rằng trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và tri thức thì vài trò của người thầy khó có thể là người quyết định cung cấp cho học sinh loại kiến thức nào mà nên là người hướng dẫn học sinh làm thế nào để chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng học sinh mong muốn có Do đó, mô hình người học đồng sáng tạo theo thời gian chắc chắn sẽ có ưu thế để áp dụng rộng rãi với nhiều điều kiện học tập, nhiều cấp bậc học, môn học khác nhau.
Tuy nhiên, cần thiết phải nói thêm rằng, trong điều kiện thi cử được chuẩn kiến thức và kĩ năng cụ thể hiện nay của nước ta, thì việc đào tạo để có được một chất lượng đồng đều là cần thiết
Đối với những phần kiến thức bắt buộc và có xuất hiện trong kì thi thì riêng phần nội dung phải giảm tính tự quyết của học sinh, còn các phần khác của mô hình này như chọn hình thức học tập, lập kế hoạch dạy học, giảng dạy và đánh giá vẫn hoàn toàn có thể thực hiện
Tuy nhiên, ở một số học phần có tính linh hoạt cao về chủ đề học tập và kĩ năng cần đạt thì nội dung, hình thức học cần được thể hiện một cách uyển chuyển để đáp ứng với nhu cầu và trình độ của từng học sinh Cụ thể, qua sự tìm hiểu nghiên cứu và thực
Trang 8nghiệm của chúng tôi, thì mô hình này hoàn toàn có thể áp dụng trong dạy học địa lý địa phương ở chương trình phổ thông
3.1.4 Những lợi ích khi áp dụng mô hình người học đồng sáng tạo
Lợi ích của quan hệ hợp tác học tập của mô hình đồng sáng tạo là rất rõ ràng:
- Đối với giáo viên thì mô hình này có lợi ích là:
• Học sinh ý thức về mục đích học tập
• Giáo viên – học sinh – bạn cùng nhóm làm việc cùng nhau vì mỗi cá nhân và lợi ích chung
• Học sinh “dạy” cho học sinh là cách để hiểu hơn công việc của giáo viên
• Giao tiếp với giáo viên với vai trò đồng cấp đã giúp cải thiện môi trường học đường theo nhiều cách
• Học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên điều gì họ muốn và điều gì giúp họ học tốt hơn
• Giáo viên và học sinh giúp đỡ lẫn nhau
• Học sinh được trao quyền chủ động hoàn toàn giúp kích thích sự phấn khởi học tập
• Nâng cao hiệu quả quản lý lớp học của giáo viên
• Giáo viên biết cách tiếp cận và hợp tác với học sinh
• Giáo viên hiểu rõ điểm mạnh và điểm yếu của cá nhân
• Giáo viên không phải phỏng đoán những gì học sinh biết và hiểu
- Đối với học sinh
• Hiểu cách học
• Biết được tầm quan trọng của giao tiếp / đối thoại với giáo viên
• Hiểu biết về mục đích học tập
• Kết nối nhiều hơn với trường học
• Hiểu các phương pháp sư phạm
• Tự nhận thức về cách hành vi học tập ảnh hưởng đến các học sinh khác trong lớp học
- Đối với mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh
• Phá vỡ rào cản giữa học sinh và giáo viên
• Xây dựng mối quan hệ và giao tiếp thuận lợi
• Tăng sự tôn trọng cho giáo viên
• Giáo viên và học sinh dễ tiếp cận nhau hơn
Trang 9• Học sinh đánh giá cao nỗ lực của giáo viên và mục đích chuyên môn và đạo đức 3.2 Sử dụng mô hình đồng sáng tạo trong dạy học
3.2.1 Quy trình áp dụng mô hình
Bước 1: Giáo viên và học sinh cùng thảo luận về những nội dung học tập
Giáo viên sẽ hỏi học sinh về nội dung họ muốn thực hiện để hình thành một kĩ năng nào đó theo yêu cầu của môn học (ví dụ kĩ năng sử dụng bản đồ chẳng hạn), cho học sinh một vài lựa chọn liên quan (ví dụ thông qua thực địa, hướng dẫn du lịch, thuyết trình hoặc tạo cẩm nang…)
Cho phép học sinh chọn một chủ đề yêu thích, lựa chọn tài liệu đọc sẽ phát cho lớp và quyết định không gian thực hiện bài tập trước khi đến lớp.
Bước 2: Học sinh lựa chọn hình thức học tập
Với chủ đề/nội dung học tập đã lựa chọn, học sinh được quyền chọn một hình thức học tập phù hợp với khả năng, mong muốn của mình.
Bước 3: Học sinh lên kế hoạch học tập
Học sinh được yêu cầu viết kế hoạch học tập nội dung đã chọn để tạo ra sản phẩm học tập tương ứng
Kế hoạch học tập này có sự tư vấn của giáo viên để đảm bảo hiệu quả và tiến độ học tập Tuy nhiên, học sinh chỉ thực sự lên kế hoạch của mình khi sự tư vấn của giáo là vừa đủ và vẫn đảm bảo được việc học sinh biết họ đang học cái gì, bằng cách nào, cần phải gì, tại sao phải làm việc đó, làm ở đâu và khi nào cho nội dung học tập mà họ lựa chọn (what, how, how well, why, where, and when to learn) Điều này bao gồm học sinh được thiết kế chương trình giảng dạy, lập kế hoạch cho ngày học, đồng sáng tạo thiết kế không gian học tập mới, hoặc các hoạt động học tập xây dựng dựa trên kinh nghiệm, hiểu biết, ý tưởng và ý kiến của học sinh.
Bước 4: Học sinh giảng dạy lại nội dung đã học tập
Học sinh “dạy” lại cho giáo viên và học sinh khác nội dung mà mình lĩnh hội được Để tiết học được hiệu quả, học sinh được đề nghị chuẩn bị bài thuyết trình, tài liệu đã tích lũy được và phát trước tài liệu đọc cho lớp nhằm tăng tính phản biện của người nghe.
Bước 5: Giáo viên – bạn cùng học phản hồi đánh giá
Trong mô hình đồng sáng tạo, giáo viên và học sinh cùng là người đánh giá Tuy nhiên, ngay cả tiêu chí đánh giá lẫn nhau như thế nào là một kết quả tốt cũng được trao quyền thiết lập tiêu chí cho học sinh, bằng chính cách nhìn nhận của học sinh Quá trình giáo viên hướng dẫn học sinh đánh giá lẫn nhau có thể thông qua hướng dẫn các nhiệm
vụ ví dụ dưới đây.
Do quy trình làm việc như trên nên phương pháp dạy học phù hợp nhất với mô hình này là phương pháp dạy học Dự án Tuy nhiên ở mô hình này, phương pháp dạy
Trang 10học Dự án khác với Dự án trong mô hình lấy người học làm trung tâm ở chỗ: Dự án do học sinh hoàn toàn chủ động về nội dung, kế hoạch, phân công, sản phẩm, đánh giá Khi được giao hoàn toàn chủ động, các năng lực của học sinh được phát huy hiệu quả nhất và là nền tảng cho sự sáng tạo.
Ví dụ về việc giáo viên trao quyền đánh giá bạn cùng lớp cho học sinh thông qua
các bước hướng dẫn sau:
Mục tiêu: “Hãy tạo một phiếu đánh giá các bạn trong lớp học với những tiêu chí
của riêng em đề xuất”
Câu hỏi gợi ý:
Học sinh được đánh giá loại A (xuất sắc) thường làm gì trước, trong và sau buổi thảo luận? Câu hỏi tương tự cho học sinh loại B (tốt), loại C (trung bình), loại D (yếu) Liệt kê tiêu chí đánh giá cho mỗi xếp loại học sinh trên.
Nhiệm vụ 1 (20 phút):
- Liệt kê tiêu chí cho xếp loại A
- Làm việc cá nhân trước, sau đó làm việc nhóm tổng hợp lại 5 tiêu chí quan trọng nhất của mối bạn đối với một học sinh xếp loại A
- Bảng dưới đây liệt kê kết quả tổng hợp ý kiến cá nhân các thành viên của nhóm cho tiêu chí đánh giá một bạn học sinh xếp loại A
Đúng giờ
Có trình bày
Không sử dụng điện thoại di động trong lớp
Không sử dụng máy tính xách tay trong lớp
Ghi chép
Tham gia vào các hoạt động
Quan tâm bài giảng
Hăng hái
Nhắc nhở thành viên khác
Tập trung
Đóng góp vào thảo luận trên lớp
Đưa ra nhận xét sâu sắc và đặt câu hỏi
Nói ít nhất một lần mỗi tiết Tương tác với ý
tưởng của các bạn
Chuẩn bị trước tiết học Nhận xét có liên quan nội dung học Nhận xét có tích khích lệ
Chuẩn bị bài đọc về nội dung trình bày trước cho lớp
Làm việc với những người khác trong nhóm làm việc
Hỗ trợ trong việc di chuyển lớp học thảo luận cấp độ bề mặt
Hoàn thành nhiệm vụ ngoài giờ lên lớp Công việc chu đáo
Lãnh đạo trong công việc nhóm và lớp
Có thảo luận Lắng nghe bạn bè Tôn trọng người xung quanh trong tiết học
Trang 11Kết quả làm việc có thể thể hiện như bảng dưới đây:
Loại xuất sắc (A): có trình bày và đúng giờ, không sử dụng điện thoại trong lớp, hoàn
thành phần việc của mình trước bài học, có quan sát, đặt câu hỏi với người giảng và phần đọc được phát, quan tâm và chú ý đến tài liệu cũng như ý tưởng của người dạy, lắng nghe cẩn thận, xây dựng thảo luận và thúc đẩy tranh luận giải quyết vấn đề, tạo sự liên hệ về những khác biệt giữa các khái niệm, áp dụng tài liệu học tập cho mọi buổi trải nghiệm
Loại tốt (B): có trình bày và đúng giờ, không sử dụng điện thoại trong lớp, hoàn thành
phần việc của mình trước bài học, hiểu biết cơ bản về bài giảng/bài đọc trước, đóng góp vào việc thảo luận nhưng không đóng góp vào việc giải quyết vấn đề, không tìm ra
sự liên hệ giữa các phần giảng/tài liệu cho trước, phản hồi bài giảng chỉ ở nội dung bề mặt
Loại trung bình (C): có trình bày và đúng giờ nhưng chưa thực sự thấu hiểu nội dung
và chưa chuẩn bị bài, tham gia bài giảng một cách miễn cưỡng, bị động khi hoạt động nhóm, thụ động khi nghe giảng, hiểu nội dung sơ sài, không hoàn thành bài tập được giao
Loại yếu (D): vắng mặt thường xuyên hoặc không tập trung trong giờ (ngủ gật, uể oải,
làm bài tập môn khác, nhắn tin trong lớp, nói chuyện riêng), không tham gia (không trả lời được câu hỏi, không phản hồi được bài giảng), không chuẩn bị cho các hoạt động trên lớp, không hiểu nội dung học, quan điểm của người giảng cũng như tài liệu được phát
Có thể thấy học sinh có quyền quyết định cao nhất ngay từ việc xây dựng tiêu chí để đánh giá lẫn nhau Giáo viên chỉ xây dựng quy trình để tạo điều kiện học sinh làm việc chứ không đưa ra đánh giá trên chủ quan của mình Sự dân chủ trong đánh giá này đem lại lợi ích rất rõ ràng:
+ thứ nhất: học sinh hiểu và nắm rất chắc như thế nào là một học sinh được cả lớp đánh giá cao,
+ thứ hai: sự thống nhất ý kiến cá nhân rồi ý kiến nhóm để ra bản tiêu chí cuối cùng giống như một quá trình tự cam kết thực hiện
3.2.2 Áp dụng mô hình trong dạy học Địa lý
- Đặc thù bộ môn Địa lý: Nhiều nội dung có tính linh hoạt cao, khả năng liên hệ
thực tiễn tốt (cả phần đại cương và Việt Nam, cả nội dung tự nhiên và kinh tế xã hội) Đặc biệt hiện nay, các nhà trường đã được tạo điều kiện hơn trong việc chủ động bố trí
Trang 12lại và phân phối chương trình thì việc áp dụng mô hình rất dễ dàng Đối với một số chủ
đề chính hoặc các nội dung không bao hàm nhiều kiến thức mới, chủ yếu là tìm kiếm thông tin, tổng hợp thông tin hay những nội dung có liên quan đến kinh nghiệm học tập của học sinh, giáo viên có thể dành nhiều thời gian hơn để sử dụng mô hình này
- Sự phù hợp của bộ môn với mô hình học tập:
Do những đặc thù trên, nên bộ môn cũng có những yêu cầu đối với phương pháp dạy học:
+ Yêu cầu phương pháp có khả năng khai thác, tận dụng tối đa hiểu biết của cá nhân về các nội dung học
+ Phương pháp tạo điều kiện cho người học thể hiện nhiều kĩ năng liên quan đến thực tế, đặc biệt là thực địa, tiếp xúc cộng đồng, từ dó có thể rèn luyện tư duy lãnh thổ.
+ Phương pháp cho phép người tham học được phản biện kiến thức lẫn nhau, rèn luyện tư duy phản biện – một trong những kĩ năng cần thiết để có sự sáng tạo.
+ Quá trình chuẩn bị cũng giúp học sinh rèn luyện các năng lực chuyên biệt (số liêu, bảng, biểu, bản đồ, biểu đồ) và các năng lực chung: hợp tác, thuyết trình, công nghệ thông tin… thông qua phương pháp dạy học dự án chủ động.
Với những yêu cầu như trên đối chiếu với phần giới thiệu và ưu điểm mô hình người học đồng sáng tạo, chúng tôi mạnh dạn đề xuất với các bạn đồng nghiệp áp dụng mô hình này vào dạy học các nội dung tích hợp, liên môn, địa phương không chỉ
bộ môn Địa lý mà còn cả các bộ môn khác Phần thực nghiệm sẽ cho thấy mô hình đã tạo ra kết quả khả quan về tiến bộ của người học cả về kiến thức và kĩ năng.
- Một số nội dung gợi ý để áp dụng mô hình này vào dạy học:
Như chúng tôi đã phân tích ở trên, mô hình người học đồng sáng tạo có nhiều ưu thế trong việc thỏa mãn nhu cầu và năng lực của người học, giúp cá nhân hoá việc học Tuy nhiên, do đặc thù thi cử hiện nay, và mới thử nghiệm nên chúng tôi mới chỉ áp dụng mô hình này ở phần địa lý địa phương sách giáo khoa cơ bản 12
Nhưng như đã phân tích kĩ trong tài liệu, mô hình người học đồng sáng tạo ở nước ta hiện nay có thể bỏ qua bước 1, tức là bước thỏa thuận nội dung học, các bước còn lại vẫn có thể tiến hành bình thường
Chúng tôi cho rằng những phần kiến thức có đặc thù sau đây sẽ có điều kiện áp dụng mô hình này:
- Phần kiến thức không có quá nhiều kiến thức chuyên sâu, kiến thức hàn lâm, học thuật chuyên ngành
- Phần kiến thức có kiến thức học thuật nhưng hầu hết trong đó học sinh đã nắm được, và chỉ chứa ít khái niệm học thuật mới.
- Phần kiến thức tận dụng được hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân của học sinh
- Phần kiến thức có nhiều ứng dụng trực tiếp trong cuộc sống, đặc biệt là liên quan đến các ứng dụng khoa học thường thức hoặc môn nghệ thuật.
Sau đây, là những phần đề nghị của chúng tôi về những nội dung có thể áp dung
mô hình đồng sáng tạo
Trang 13 Phần địa lí tự nhiên đại cương 10: đây là phần khó, nhiều kiến thức mới, tuy nhiên nếu áp dụng mô hình người học đồng sáng tạo thì khả năng ghi nhớ sẽ cao hơn Cơ sở để áp dụng là tuy kiến thức đại cương nhưng vẫn hoàn toàn có thể liên hệ thực tiễn biểu hiện của tự nhiên ở địa phương Do đó, người học vẫn có điều kiện dạy cho nhau Chúng tôi cũng đưa ra khuyến nghị những phần có thể
áp dụng mô hình, nên áp dụng bao nhiêu bước trong quy trình và gợi ý về hình thức tổ chức.
Phần địa lí kinh tế - xã hội đại cương 10: Trừ phần khái niệm, thuật ngữ liên quan đến dân cư, kinh tế thì các phần kiến thức nên để học sinh dạy nhau đặc biệt là phần các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành Việc tận dụng ví dụ phong phú từ hiểu biết của học sinh vừa tạo điều kiện các em tìm hiểu thực tế, vừa giúp ví dụ gần gũi với kinh nghiệm thực tế của người học.
Số tiết
Nội dung
áp dụng
mô hình người học đồng sáng tạo
Số bước áp dụng
Hình thức tổ chức gợi ý
HỌC KÌ I PHẦN 1: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CHƯƠNG I: BẢN ĐỒ
1
Tiết 1; Bài 2: Một
số phương pháp
biểu hiện các đối
tượng địa lí trên
bản đồ
HS lựa chọn một bản đồ phù hợp với nội dung phương pháp biểu hiện để thuyết trình
Tất cả
HS chọn lĩnh vực (giao thông, thời tiết, quân sự ) để nêu vai trò bản đồ
CHƯƠNG 2:
Trang 14VŨ TRỤ, HỆ QUẢ CÁC CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT
Trừ bước 1
Hs “kể” cho các bạn các hiện tượng thực tế liên quan đến nhịp ngày đêm, giờ, lệch
hướng
5
Tiết 6; Bài 6: Hệ
quả chuyển động
Quay xung quanh
Mặt Trời của Trái
Đất.
2
- Hệ quả chuyển động quay quanh mặt trời của trái đất
Trừ bước 1
HS sưu tầm ảnh/video về sự
đổ bóng lúc giữa trưa của các địa điểm khác nhau trên thế giới – lý giải, mô tả mùa ở các vùng vĩ độ khác nhau, biểu hiện ngày đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và theo
vĩ độ CHƯƠNG 3:
CẤU TRÚC TRÁI ĐẤT CÁC QUYỂN CỦA LỚP VỎ ĐỊA LÍ
Thực địa và chỉ ra cá loại phong hóa, trình bày trên lớp
lí giải nguyên nhân
Thực địa và chỉ ra cá loại phong hóa, trình bày trên lớp
lí giải nguyên nhân
HS tìm các biểu đồ khí hậu, hoặc bản tin dự báo thời tiết minh chứng cho quy luật
HS dạy phân biệt các loại gió
tại địa phương
Tìm các địa điểm trên cùng vĩ độ/kinh độ chứng minh lượng mưa khác nhau, lí giải
Trang 15quyển Mưa nguyên nhân
Tất cả
Lựa chọn và trình bày đặc điểm của một sông lớn trong top 10 thế giới, phân tích nhân tố ảnh hưởng chế độ
Mô tả về một chuyến thực địa
rừng địa phương CHƯƠNG IV: MỘT SỐ QUY LUẬT CỦA LỚP VỎ ĐỊA LÍ
Điều tra, thu thập chứng cứ
về biểu hiện của quy luật thống nhất và hoàn chỉnh tại
địa phương
23
Tiết 24; Bài 21:
Quy luật địa đới
và quy luật phi
địa đới.
Tìm bằng chứng cho thấy các nước cùng khoảng vĩ độ có biểu hiện thien nhiên cơ bản giống nhau
Trang 16 Phần địa lí 12: ngoài phần địa lí địa phương thì vùng kinh tế là nội dung có nhiều điều kiện cho học sinh thể hiện hiểu biết thực tế và vốn kinh nghiệm cá nhân Ngoài ra, xét theo đặc thù kiến thức có thể áp dụng mô hình người học đồng sáng tạo thì không chỉ môn Địa lý mà mà các môn khoa học xã hội như Lịch Sử, Ngoại ngữ, Giáo dục công dân cũng có những lợi thế để vận dụng tốt.
3.3 Thực nghiệm
3.3.1 Mục đích và ý nghĩa của thực nghiệm.
Thực nghiệm là khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài nói riêng và trong dạy học nói chung Ở đây, thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của mô hình người học đồng sáng tạo thông qua các bài học bộ môn Địa lý Quá trình này cũng cho phép khai thác được hiệu quả của các mô hình dạy học khác đang thực hiện tại trường THPT chuyên Lê Hồng Phong và hiệu quả của chúng đối với nhu cầu học tập của học sinh hiện nay.
3.3.3 Nội dung thực nghiệm
Trong chương trình Địa lí lớp 12, nội dung Địa lý địa phương là nội dung tạo khả
năng cho học sinh có thể vận dụng tối đa kiến thức thực tiễn đồng thời có sự tự do nhất định về chương trình nên chúng tôi đã chọn nội dung này để thực nghiệm, cụ thể:
- Nội dung có tính linh hoạt cao
Nội dung địa lý địa phương được giảng dạy ở phần cuối của chương trình địa phổ thông lớp 9 và lớp 12 nhằm mục đích chuẩn bị những hiểu biết cơ bản về địa phương cho người lao động trẻ, tạo cơ hội đóng góp thiết thực cho quê hương.
Trong phần địa lý địa phương 12, nội dung được dành 2 tiết trên lớp Tiết 1 dành cho việc giáo viên hướng dẫn để học sinh chuẩn bị viết báo cáo Tiết 2 là thời gian để khớp các phần báo cáo của các nhóm thành nội dung hoàn chỉnh về tổng quan địa lí địa phương.
Đây được đánh giá là nội dung có tính linh hoạt cao vì:
+ Mặc dù có cấu trúc bài tìm hiểu kiến thức giống nhau nhưng mỗi địa phương lại có một kết quả bài báo cáo khác nhau
+ Trong phần hướng dẫn của sách giáo đã có hướng mở trao một phần quyền tham gia bài học cho học sinh Đó là cho phép học sinh được làm một trong các chủ đề cho sẵn theo cấu trúc được gợi ý và sản phẩm là bài trình bày.
- Phạm vi áp dụng rộng
Địa lí địa phương là một nội dung không có kiến thức sẵn trong sách giáo khoa nhưng lại có cấu trúc nội dung mà địa phương nào cũng có thể áp dụng để dạy học sinh
để tìm hiểu chính nơi mình sinh sống.
- Có ý nghĩa thực tiễn cao
Trang 17Thông qua tiết địa lý địa phương, học sinh sẽ nắm vững hơn về vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính, cũng như đặc điểm về tự nhiên và tài nguyên của địa phương mình.
Ngoài ra, địa lý địa phương còn giúp học sinh nắm được đặc điểm dân cư, lao động và kinh tế - xã hội của tỉnh, các ngành kinh tế trọng điểm, thế mạnh của địa phương mình; giúp học sinh có những quan điểm đúng đắn trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, nhận thức được các thế mạnh mà địa phương có thể mang lại Từ
đó, kích thích niềm tự hào của học sinh đối với địa phương, tạo động lực để các em cố gắng trong học tập và rèn luyện để xây dựng quê hương, đất nước.
- Là một phần khó dạy đối với giáo viên
Quá trình dạy học địa lý địa phương còn hình thức, chưa mang lại hiệu quả cao trong dạy và học, chưa kích thích, tạo hứng thú đối với học sinh trong khi nếu biết cách thì đây thực sự là nội dung hấp dẫn, phát huy được nhiều năng lực của học trf Nguyên nhân do chưa có tài liệu mang tính hệ thống, tài liệu giảng dạy giáo viên phải tự tìm hiểu, sắp xếp từ các nguồn khác nhau Giáo viên thường phải dạy chay vì thiếu tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, các bảng số liệu về tình hình kinh tế - xã hội địa phương do chưa được trang bị trong trường học Vì vậy, đây cũng là yếu tố thiếu thuyết phục đối với học sinh
Các em học sinh chỉ tiếp thu một chiều từ giáo viên làm tiết học không thực sự sinh động Cần phải lưu ý rằng khi học về địa lí địa phương thì bản thân học sinh đa phần là người bản địa chắc chắn sẽ có những hiểu biết nhất định Giáo viên truyền đạt không tới sẽ dễ dẫn đến việc người nghe nhàm chán hoặc là thậm chí nói không đúng bản chất đặc thù văn hóa bản địa Do vậy, mà không tạo ra được ấn tương riêng, từ đó dẫn đến hiệu quả dạy và học không cao.
- Yêu cầu của nội dung với phương pháp dạy học và khả năng đáp ứng của mô
- Kế hoạch bài học của giáo viên khi áp dụng mô hình người học đồng sáng tạo
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi đã sưu tầm, tổng kết các giáo án dạy địa lí địa phương của các đồng nghiệp khác trên cả nước và nhận thấy có một số mẫu giáo án điển hình Các kế hoạch bài học đều thể hiện sự tâm huyết của giáo viên, tuy nhiên nếu xem xét kĩ chúng tôi vẫn thấy thiếu vắng vai trò chủ động của học sinh và sự quá tải hay
Trang 18độc thoại của giáo viên Việc so sánh sự khác biệt giữa các kế hoạch bài học này và với
kế hoạch bài học theo mô hình người học đồng sáng tạo sẽ cho thấy rõ sự khác biệt trong việc chuyển giao nhiệm vụ, quá trình hoạt động của học sinh, mối quan hệ thầy trò và hiệu quả của mô hình.
+ Thứ nhất là kế hoạch bài học mà giáo viên nắm toàn quyền chủ động sưu tầm, tổng hợp kiến thức về địa phương và truyền đạt lại cho học sinh
Mẫu 1
+ Kế hoạch bài học thứ hai là giáo viên cho học sinh tiếp cận tài liệu trên lớp, từ
đó đặt các câu hỏi gợi mở để học sinh chiếm lĩnh tri thức.
Mẫu 2
Ngày soạn:………
Ngày giảng:………
ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
HÀ GIANG
I MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 Kiến thức: Học sinh nắm được
+ Vị trí và diện tích của tỉnh Hà Giang
+ Điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Hà Giang
2 Kỹ năng: Đọc và phân tích lược đồ
3 Thái độ: Yêu quê hương, đất nước.
4 Định hướng phát triển năng lực: tư duy tổng hợp lãnh thổ, video, phân tích số liệu, liên hệ
thực tế, hình thanh thuyết trình, nhóm, cá nhân
III HOẠT ĐỘNG LÊN LỚP:
1.Kiểm tra bài cũ:(5’)
? Tại sao Cát Bà có điều kiện thích hợp phát triển tổng hợp các ngành kinh tế biển?
?Vai trò của biến và đảo đối với kinh tế chính trị nước ta ?
Trang 192 Bài mới:
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung kiến thức
*HĐ1: Tìm hiểu về vị trí địa lí Hà Giang (10’)
? Quan sát bản đồ TN VN cho
biết HG nằm ở vùng nào/ nước ta?
? Quan sát bản đồ TNHG xác
định vị trí của tỉnh HG?
+ Giáp các tỉnh nào trong nước?
+ Có đường bờ biển không?
? Nêu ý nghĩa của vị trí địa lí
trong việc phát triển KT-XH?
- GV Đưa ra số liệu về S của tỉnh
- HS khác nhận xét, bổ sung
- HS khác nhận xét, bổ sung
- S : 7884 Km2
* HĐ2: Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên của tỉnh Hà Giang (25’)
- GV: N/c thông tin trong sách giáo
- Giao nhiệm vụ cho các N
- Sau thảo luận yêu cầu các N báo
cáo kết quả, N khác nhận xét bổ sung
- Báo cáo kết quả
- Nhận xét
- Nghe, ghi bài
II.Điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên.
Bắc Mê, Tx Hà Giang, Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình
Đặc điểm địa
hình
Địa hình hiểm trở, núi cao sắc nhọn, nhiều vách núi dựng đứng, độ cao TB từ 1000-1600m
xen kẽ là các thung lũng
và hang động
Địa hình bị cắt xẻ dữdội dạng vòm hoặc nửa vòm, xen kẽ là các dạng địa hình dốc, độ cao TB
từ 900-1000m
Địa hình thấp sườn thoải, xen kẽ là các thunglũng tương đối bằng phẳng, độ cao TB 80-400m
? Quan sát bản đồ TN tỉnh HG và kết hợp với
sự hiểu biết của bản thân hãy cho biết đặc điểm
sông ngòi HG?
+ Kể tên các dòng sông?
+ Sông ở HG chủ yếu có nhiệm vụ gì?
? Nêu đặc điểm khí hậu của tỉnh Hà Giang?
? ĐKTN của tỉnh HG có ảnh hưởng gì đến
đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh?
- Quan sát bản đồ
- 1 HS trả lời
-HS khác nhận xét, bổ sung
- 1 HS trả lời
-HS khác nhận xét, bổ
2 Thủy văn.
- Mật độ sông tương đối dày
- Sông có độ nông, sâu không đồng đều, độ dốc lớn nhiều thác ghềnh, ít thuận lợi cho giao thông, thủy lợi
>23,90C
Trang 20? Qua bài học các em đã nắm được những
- GV: Y/c chia nhóm học tập thảo luận
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm
+ Nêu đặc điểm vùng đất trên CN đá vôi?
+ Nêu đặc điểm vùng đất núi cao phía Tây?
+ Nêu đặc điểm vùng đất đồi núi thấp?
? Sau thảo luận y/c đại diện N báo cáo kết
-HS khác nhận xét, bổ sung
- Trả lời
- 1 HS trả lời
-HS khác nhận xét, bổ sung
- 1 HS trả lời
-HS khác nhận xét, bổ sung
- Trả lời
- Thực hiện
- Nhận nhiệm vụ + N1+2+N3+4+N5+6
- Báo cáo kết quả
- Nhận xét
- Nghe, ghi bài
- 1 HS trả lời
-HS khác nhận xét, bổ sung
- Trả lời
- Liên hệ bản thân
- 1 HS trả lời
-HS khác nhận xét, bổ sung
- 1 HS trả lời
+ Chế độ mưa tương đối lớn, độ ẩm cao
+ Hướng gió thổi Đông Nam
4 Tài nguyên khoáng sản.
- Hà Giang là địa bản có tiềm năng và triển vọng lớn về khoáng sản: Sắt ( Tùng Bá- Bắc Mê), Vàng (Bắc Quang) Ăng-ti-mon (Yên Minh)
5 Thổ nhưỡng.
- Thổ nhưỡng phong phú với 9 nhóm đất chính
* Vùng đất phát triển trên cao nguyên đá vôi
- Hình thành trên đá vôi, địahình Caxtơ, đất đỏ xám hoặc vàng sẫm thích hợp trồng ngô vàmột số cây dược liệu khác
* Vùng đất núi cao phía Tây
-Đặc điểm đất chua, tầng đất TB, có thành phần cơ giới nhẹ nên dễ bị rửa trôi, bạc màu, khả năng giữ nước kém=> thích hợp trồng cây họ đậu
* Vùng đất đồi núi thấp thuộc sông lô
-Tầng đất dày, tơi xốp, thoáng khí thích hợp trồng cây
CN ngắn ngày, cây ăn quả, cây lương thực
6 Tài nguyên sinh vật
* Rừng là thế mạnh kinh tế chủ yếu và có ý nghĩa lớn vào
KT và bảo vệ MT
- S rừng thuộc loại lớn (Năm 2001:573126 ha, chiếm 72,7% S tự nhiên)
- Kiểu rừng á nhiệt đới
* Tài nguyên động vật.
- Động vật khá phong phú với các loài như: lợn rừng, nai, khỉ
- Là tỉnh miền núi nên không có thế mạnh phát triển thủy sản, nhưng lại tìm thấy nhiều loại thủy sản quý hiếm :
Cá Dầm Xanh, Anh Vũ, Chép, sứt mũi
3 Củng cố:(3’)
Hs lên bảng chỉ tên lược đồ giới hạn tỉnh Hà Giang ? Xđ các mỏ khoáng sản trên địa bàn?
4 Hướng dẫn bài tập về nhà: (2’)
Trang 21Về nhà học và làm bài tập ở cuối bài
- Phát triển các kĩ năng phân tích bản đồ, biểu đồ, số liệu thống kê
- Biết cách thu thập, xử lí các thông tin, viết và trình bày báo cáo về một vấn đề của địa lí địaphương
- Bước đầu biết tổ chức hội thảo khoa học
3 Thái độ:
- Tăng thêm tình yêu quê hương, ý thức xây dựng và bảo về quê hương
II PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
- Các bản đồ tự nhiên, dân cư, kinh tế của tỉnh (thành phố) nơi HS đang sống
- Các tài liệu về tỉnh (thành phố), bản văn, số liệu thống kê, tranh ảnh,
- Giấy, bút các loại, thước kẻ
- Các bản tóm tắt báo cáo, sơ đồ, biểu bảng của các nhóm học sinh
III HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC:
1 Kiểm tra bài cũ:
Câu 1: Hãy nêu các đặc điểm của vùng kinh tế trọng điểm Tại sao nước ta phải hình thành cácvùng kinh tế trọng điểm?
Câu 2: Trình bày quá trình hình thành và phạm vi lãnh thổ của các vùng kinh tế trọng điểm?
2 Bài mới:
CHUẨN BỊ VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ ĐỊA LÍ TỈNH CAO BẰNG
A Phân công nhóm nghiên cứu
4 Danh mục các nguồn thu thập tài liệu về chủ đề chọn :
- Tài liệu địa lí địa phương:
- Niên giám thống kê năm gần nhất :
- Các nguồn tài liệu khác liên quan như : kết quả các cuộc điều tra về tự nhiên, dân cư, kinh tế, cácbáo cáo hàng năm của các cơ quan địa phương
Trang 225 Tên phần việc nhiệm vụ được phân công :
6 Xử lí tài liệu: Tuỳ thuộc yêu cầu của từng chủ đề
C Viết báo cáo
a) Đề cương chi tiết: 3 phần cơ bản
Mở đầu: Ý nghĩa, mục đích, lịch sử nghiên cứu, hạn chế vấn đề nghiên cứu:
Nội dung: Theo chủ đề được phân công
Kết luận: Những kết quả nghiên cứu đạt được
b) Nội dung viết báo cáo: 5 chủ đề trong SGK
Sau đây là gợi ý tổng quát cách tiến hành một chủ đề
Chủ đề 1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính
ổ (Trả lời một số câu hỏi sau : Ở vùng nào ? Giáp những tỉnh / thành phố nào?
Diện tích bao nhiêu (km2) ?) :
Chú ý : Nên vẽ lược đồ hành chính về tỉnh / thành theo chủ đề nghiên cứu
XÂY DỰNG BẢN TỔNG HỢP VỀ ĐỊA LÍ TỈNH HOẶC THÀNH PHỐ
1 Nội dung bản tổng hợp về địa lí tỉnh hoặc thành phố
Bản tổng hợp cần có 6 nội dung Điền kết quả sưu tầm, xử lí số liệu theo chủ đề phù hợp vớitừng nội dung trong bảng sau :
ĐỊA LÍ TỈNH/ THÀNH PHỐ
Học tên học sinh :
Lớp
Trường
2 Thực hiện chủ đề chọn / được phân công
Chủ đề 1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính
Chủ đề 2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1 Địa hình : Những đặc điểm chính của địa hình; ảnh hưởng của địa hình tới sự phân bố dân cư và
sự phát triển kinh tế - xã hội
2 Khí hậu : Các nét đặc trưng về khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, sự khác biệt giữa cácmùa ); ảnh hưởng của khí hậu tới sản xuất (đặc biệt là sản xuất nông nghiệp) và đời sống
3 Thuỷ văn: Mạng lưới sông ngòi: Đặc điểm chính của sông ngòi (hướng dòng chảy, chế độ
Trang 23nước ); Vai trò của sông ngòi với đời sống và sản xuất; Hồ : Các hồ lớn Vai trò của hồ; Nước ngầm :Nguồn nước ngầm Khả năng khai thác Chất lượng nước đối với đời sống và sản xuất.
4 Thổ nhưỡng : Các loại thổ nhưỡng Đặc điểm của thổ nhưỡng Sự phân bố thổ nhưỡng ý nghĩacủa thổ nhưỡng đối với sản xuất
Chủ đề 3 Đặc điểm dân cư và lao động
1 Sự gia tăng dân số
Số dân : Tỉ lệ gia tăng tự nhiên qua các năm
Gia tăng cơ giới.Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự biến động dân số Tác động của gia tăng dân số tớiđời sống và sản xuất
2 Kết cấu dân số : Đặc điểm kết cấu dân số ( kết cấu dân số theo giới tính, kết cấu dân số theo độtuổi, kết cấu dân số theo lao động, kết cấu dân tộc) Ảnh hưởng của kết cấu dân số tới sự phát triển kinh
5 Tiểu kết : Đánh giá chung
Chủ đề 4 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1 Đặc điểm chung :
Nhận định chung về trình độ phát triển kinh tế của địa phương so với cả nước
Tình hình phát triển kinh tế trong những năm gần đây, đặc biệt là trong thời kì Đổi mới
Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế Thế mạnh kinh tế của địa phương
Chủ đề 5 Địa lí một số ngành kinh tế chính
a) Công nghiệp (kể cả tiểu, thủ công nghiệp)
Vị trí của ngành công nghiệp trong nền kinh tế địa phương
Cơ cấu ngành công nghiệp :Cơ cấu theo hình thức sở hữu; Cơ cấu theo ngành (chú ý tới các ngànhcông nghiệp then chốt)
Sự phân bố công nghịêp (chú ý tới các khu công nghiệp tập trung)
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Phương hướng phát triển công nghiệp
b) Nông nghiệp (gồm cả thuỷ sản và lâm nghiệp)
Vị trí của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế địa phương
Cơ cấu ngành nông nghiệp :
Trang 24+ Ngành trồng trọt : Tỉ trọng của ngành trồng trọt trong sản xuất nông nghiệp.Sự phát triển và phân
bố của các loại cây trồng chính
+ Ngành chăn nuôi : Sự phát triển và phân bố của ngành chăn nuôi
+ Ngành thuỷ sản : Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản (sản phẩm, sự phân bố )
+ Ngành lâm nghiệp : Khai thác lâm sản; Bảo vệ rừng và trồng rừng
Phương hướng phát triển nông nghiệp
c) Dịch vụ :
Vị trí của ngành dịch vụ trong nền kinh tế địa phương
Giao thông vận tải : các loại hình vận tải Các tuyến đường giao thông chính Sự phát triển giaothông vận tải
Bưu chính viễn thông
Thương mại : Nội thương Hoạt động xuất - nhập khẩu
Du lịch : Các trung tâm du lịch Sự phát triển của ngành du lịch
Hoạt động đầu tư của nước ngoài
d Bảo vệ tài nguyên và môi trường
a) Những dấu hiệu suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường ở địa phương
b) Biện pháp
e Phương hướng phát triển kinh tế :
Định hưởng chính;
Một số chỉ tiêu chủ yêu về : phát triển kinh tế, phát triển xã hội, bảo vệ môi trường địa phương
+ Thứ tư là kế hoạch bài học áp dụng mô hình người học đồng sáng tạo Mô hình này được thực hiện thông qua phương pháp dạy học dự án, việc bàn bạc và chuyển giao nhiệm vụ đều có sự thống nhất lớn giữa giáo viên và học sinh (phụ thuộc vào 90% nguyện vọng của học sinh), việc thực hiện nhiệm vụ hoàn toàn của học sinh, việc đánh giá bao gồm 3 bên: giáo viên, học sinh tham gia, học sinh khác được tham dự trong việc trình bày sản phẩm của học sinh.
- Phân tích số liệu, biểu đồ, bản đồ
- Tổng hợp và lựa chọn thông tin
- Làm việc nhóm
- Liên hệ thực tiễn
Trang 253, Về phẩm chất năng lực
- Năng lực chuyên biệt: làm việc với số liệu thống kê, tư duy lãnh thổ, liên hệ thực tiễn…
- Năng lực chung: tự giác làm việc độc lập, công nghệ thông tin, hợp tác, tính toán, thuyết trình – báo cáo, tư duy sáng tạo, tự đánh giá được bản thân…
II, CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS
- Máy chiếu, máy tính, sổ tay ghi chép, máy ảnh – quay phim
III, TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1, Hoạt động 1: Giáo viên và học sinh bàn bạc và lựa chọn chủ đề học tậpGiáo viên nêu các kĩ năng và năng lực
chuyên biệt, năng lực chung cần đạt của
bài học (mục I – 2, 3) để học sinh tự lựa
chọn các chủ đề về địa lý địa phương
nhằm rèn luyện các kĩ năng, năng lực đó,
bao gồm: tự nhiên, dân cư xã hội, ngành
nông nghiệp, ngành công nghiệp, ngành
du lịch của tỉnh Nam Định
Hs lựa chọn chủ đề học tập
Sau một hồi bàn bạc, HS thấy hứng thú với chủ đề du lịch tỉnh Nam Định vì nhận thấy ở chủ đề này sẽ tìm hiểu được tất cả các nội dung về Địa lý tỉnh Nam Định
đã nêu ở trên, đồng thời việc trải nghiệm diễn ra phong phú sẽ giúp phát huy các n.ăng lực cần thiết Thêm vào
đó, đây là ngành còn chưa phát triển ở Nam Định, các
em đều hy vọng sẽ góp phần quảng bá đến nhiều người.
GV cho học sinh lựa chọn tài liệu học tập,
giới thiệu các tài liệu học sinh có thể tìm
hiểu thêm
Học sinh chọn tài liệu bao gồm: Mạng internet, Địa lý
tỉnh Nam Định (Bùi Thị Nhiệm), tham vấn người dân…
GV cho học sinh lựa chọn không gian học
tập
Không gian học tập trước khi đến lớp trình bày sản
phẩm: họp nhóm bằng video call ứng dụng facebook,
học tập thực địa các điểm khu lịch tỉnh Nam Định.
2, Hoạt động 2: Học sinh lựa chọn hình thức học tập mong muốn
Giáo viên đưa ra một số hình thức học tập
cho học sinh lựa chọn để phù hợp với chủ
3, Hoạt động 3: Học sinh lên kế hoạch học tập
Giáo viên cho học sinh viết các nội dung
phục vụ cho chủ đề đã chọn để lên khung
kế hoạch học tập
GV gợi ý bổ sung thêm các nội dung cho
hoàn chỉnh
Hs viết các nội dung cần phục vụ cho chủ đề học tập
Du lịch Nam Định, sau đó bàn bạc và hoàn chỉnh
- Tài nguyên du lịch Nam Định + Tài nguyên du lịch tự nhiên + Tài nguyên du lịch nhân văn
- Các thuận lợi khác cho phát triển du lịch + Dân cư, lao động
+ Thị trường + Cơ sở vật chất cơ sở hạ tầng + Chính sách…
- Hiện trạng:
+ Số lượt khách + Tổng doanh thu
- Phương hướng
Học sinh bổ sung nội dung
- Vị trí địa lý
- Nguyên nhân hiện trạng phát triển
Giáo viên cho học sinh lên kế hoạch học
tập, yêu cầu HS phải đạt được những nội
dung sau trước khi lên kế hoạch:
- HS biết mình muốn học gì - what
Học sinh lên kế hoạch học tập khi đảm bảo các nội dung sau:
- Học sinh biết mình hứng thú và mong muốn tìm hiểu
về Du lịch Nam Định
Trang 26- HS biết mình học điều đó bằng cách nào
- how
- HS biết mình cần phải làm gì - how
well
- HS biết tại sao cần phải làm - why
- HS biết mình học ở đâu - where
Giáo viên giúp bổ sung thêm một số điểm
nếu HS chưa biết đến
- HS biết mình sẽ thực hiện các nhiệm vụ
khi nào - when
Giáo viên chốt thời gian cần hoàn thành
công việc vào thứ 5, gợi ý học sinh nên
sớm họp nhóm và soạn kế hoạch bài
giảng để tập giảng.
- Học sinh biết mình sẽ học bằng hình thức nhóm,thông qua trải nghiệm thực tế, sau đó giảng lại cho cácbạn trong lớp và giáo viên
- Học sinh biết mình cần phải phân công công việc cho
cá nhân, tổ chức đi trải nghiệm thực tế, thu thập hìnhảnh, video, số liệu thống kế, soạn kế hoạch bài giảng
- Học sinh biết mình cần phải làm những việc đó bởiđây là quê hương, là nơi gắn liền với tuổi thơ, với giađình các em nên các em hiểu rất rõ và mong muốn pháttriển, thông qua việc tìm hiểu và giảng giải về nơi này,các em còn được tiếp xúc với người dân, được thửthách bản thân với việc hoàn thành các phần việc vềcông nghệ thông tin, thu thập và xử lý số liệu, thuyếtgiảng…
- Học sinh biết mình cần học thông qua trải nghiệm ởnhững nơi có: cha mẹ, hàng xóm, quê hương, các điểm
du lịch của tỉnh: đền Trần, Phủ Dày, núi Ngăm, nhà thở
đổ, bãi biển Hải Thịnh
- Học sinh lựa chọn ngày chủ nhật để đi trải nghiệm và thứ 6 để thu thập thông tin từ các cơ quan, tổ chức
=> Học sinh lên khung thời gian và phân công nhiệm
vụ cho thành viên
4, Hoạt động 4: Học sinh giảng lại nội dung đã học tập
Giáo viên đọc lại kế hoạch bài giảng, bài thuyết
trình của học sinh định giảng cho giáo viên và cả
lớp, chỉnh sửa, chuẩn hoá lại các nội dung,
- Học sinh và giáo viên bàn bạc để chỉnh sửa lại các nội dung cần giảng
- Học sinh chuẩn bị bài thuyết trình và các tài liệu để phát cho người tham dự để tăng tính phảnbiện của người nghe
Bài thuyết trình của học sinh về Du lịch Nam
Định (phụ lục 1)
Bài giảng của học sinh về Du lịch Nam Định
(phụ lục 2)
5, Hoạt động 5: Giáo viên, bạn cùng học phản hồi, đánh giá
Giáo viên cho học sinh trong nhóm thiết lập các
tiêu chí đánh giá lẫn nhau với các câu hỏi gợi ý:
Học sinh được đánh giá loại A (xuất sắc) thường
làm gì trước, trong và sau buổi thảo luận? Câu
hỏi tương tự cho học sinh loại B (tốt), loại C
(trung bình), loại D (yếu) Liệt kê tiêu chí đánh
giá cho mỗi xếp loại học sinh trên.
- Các học sinh thiết lập tiêu chí đánh giá bằng cách liệt kê các yêu cầu
Kết quả tổng hợp:
Học sinh xuất sắc đảm bảo các tiêu chí sau:
1, Đúng giờ
2, Có trình bày
3, Không sử dụng điện thoại di động trong lớp
4, Không sử dụng máy tính xách tay trong lớp
5, Ghi chép
6, Tham gia vào các hoạt động
7, Quan tâm bài giảng
8, Hăng hái