Thời hiệu khởi kiện Đối chiếu tại hồ sơ vụ án thì ngày quyền và lợi của Công ty TNHH Kim Lân bị xâm hại là từ ngày hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của công ty Nhật
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn học: Kỹ năng của luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án dân sự
Hồ sơ : LS.DS.13 B5.TH2-DA3/KDTM Giáo viên hướng dẫn : Ths.Đặng Thị Tám
Họ và tên: Nguyễn Tuấn Khải Ngày sinh: 24/01/1997
Lớp: F Khóa: 23.2
Số báo danh: 381
Trang 2I.TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1.Nội dung vụ án
- Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân (“Kim Lân”) và Công ty TNHH Nhật Linh (“Nhật Linh”) ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 01/2012/NLBN- KL về mua
bán hàng hóa (Hợp Đồng 01).
- Ngày 09/5/2016, Kim Lân gửi thông báo yêu cầu Nhật Linh ngay lập tức thanh toán
số tiền 3.270.212.570 đồng
- Ngày 17/5/2016, tại buổi làm việc để giải quyết số nợ còn tồn đọng, Nhật Linh cam kết sẽ thanh toán cho Kim Lân như đúng thỏa thuận
- Ngày 10/7/2016, Kim Lân khởi kiện Nhật Linh ra tòa án nhân dân (TAND) huyện
Thuận Thành, Bắc Ninh
- Tại văn bản ghi ý kiến ngày 22/8/2016, Nhật Linh có ý kiến phản bác, yêu cầu tòa án:
1 Buộc Kim Lân chấm dứt hành vi sử dụng trái phép khu nhà ăn, niêm phong giữ nguyên trạng khu sản xuất
2 Ký xác nhận vào biên bản thống kê tài sản
3 Nhật Linh sẽ thanh toán nợ cho Kim Lân sau khi hoàn tất công việc trên
- Ngày 03/9/2016, các bên tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại TAND huyện Thuận Thành Hai bên giữ nguyên quan điểm của mình, Kim Lân đồng ý ký danh sách thống kê tài sản nếu Nhật Linh cung cấp đầy đủ giấy tờ sở hữu hợp pháp đối với tài sản
- Ngày 17/11/2016, Nhật Linh gửi yêu cầu phản tố yêu cầu Kim Lân hoàn trả toàn bộ tài sản của Nhật Linh trên đất của Kim Lân
- Ngày 26/12/2016, TAND huyện Thuận Thành ra Quyết định số 12/2016/QĐXXST-KDTM đưa vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Kim Lân và Nhật Linh ra xét xử
2 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chứng cứ chứng minh
Theo hồ sơ thể hiện thì Công ty TNHH Kim Lân khởi kiện Công ty TNHH Nhật Linh ra Tòa án nhân dân huyên Thuận Thành yêu cầu hai vấn đề sau:
- Thứ nhất, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ kiện đòi nợ tiền hàng giữa Công ty Kim Lân với Công ty Nhật Linh Yêu cầu này có cơ sở theo như phân tích về thẩm quyền của Tòa án ở trên
- Thứ hai, yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Nhật Linh có trách nhiệm thanh toán
số nợ gốc và lãi chậm thanh toán cho Công ty TNHH Kim Lân theo lãi suất quy định của nhà nước, tổng số tiền là: 3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai nghìn năm trăm bảy mươi đồng) và lãi suất theo quy định pháp luật
Chứng cứ chứng minh :
Chứng cứ xác minh tư cách pháp nhân của hai công ty:
Trang 3- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH Kim Lân;
- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH Nhật Linh;
Chứng cứ liên quan đến việc ký kết, thực hiện hợp đồng và làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán:
- Hợp đồng nguyên tác số 01/2015/NLBN-KL ký ngày 02/01/2015 giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh;
- Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016;
- Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/08/2016;
- Công văn đề nghị thanh toán số 0506 ĐN/CV ngày 09/05/2016;
- Các hóa đơn GTGT;
- Các phiếu nhập kho;
- Bảng kê tính lãi;
- Uỷ nhiệm chi về việc trả tiền của Công ty TNHH Nhật Linh
3 Thời hiệu khởi kiện
Đối chiếu tại hồ sơ vụ án thì ngày quyền và lợi của Công ty TNHH Kim Lân bị xâm hại là
từ ngày hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của công ty Nhật Linh theo Biên bản đối chiếu xác nhận công nợ vì hết thời hạn trả nợ mà Công ty Nhật Linh vẫn không thực hiện thanh toán cho Công ty Kim Lân đối là ngày 26/02/2015 (Sau ngày hai bên lập Biên bản đối chiếu xác nhận công nợ vào ngày 25/02/2015) Ngày 10/7/2015 Công ty TNHH Kim Lân khởi kiện Công ty TNHH Nhật Linh ra Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành là còn thời hiệu khởi kiện Theo qui định tại Điều 319 Luật thương mại năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm
4 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
Theo nội dung hồ sơ thể hiện, Công ty Kim Lân đòi Công ty Nhật Linh trả tiền hàng hóa còn nợ phát sinh từ Hợp Đồng Nguyên Tắc ký ngày 02/01/2015 Cho nên đây là tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định tại Khoản 1, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
5.Tư cách đương sự
Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân
Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Anh Tuấn - Chức vụ: Giám đốc
Địa chỉ trụ sở chính: Cụm công nghiệp Thanh Khương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Linh - Chức vụ: Giám đốc
Địa chỉ trụ sở chính: Cụm công nghiệp Thanh Khương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Trang 46.Thẩm quyền
Căn cứ vào thỏa thuận giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh trong Hợp đồng tại Điều 5 quy định như sau “Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có những mâu thuẫn hay tranh chấp xảy ra, hai bên phải cùng nhau thỏa thuận giải quyết thỏa đáng, chân tình bằng văn bản Nếu không thỏa thuận được, hai bên sẽ nhờ đến Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội, phán quyết của Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội sẽ là quyết định cuối cùng và bắt buộc hai bên phải thi hành.”
Như vậy, tranh chấp phát sinh giữa hai công ty nếu không thể được giải quyết bằng con đường thỏa thuận đàm phán thì Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay không tồn tại cơ quan tài phán mang tên Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội trong thỏa thuận trọng tài giữa các bên Như vậy, thỏa thuận trọng tài này giữa 02 bên không thể thực hiện được căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 20/3/2014 hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại như sau: “Điều 4 Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 Luật TTTM Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 Luật TTTM là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
1 Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.” Căn cứ Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm năm 2010 quy định về trường hợp Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài như sau: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.”
Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh thuộc Tòa án vì thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được Đối chiếu thêm các quy định về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án để xác định Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành thụ lý giải quyết có đúng thẩm quyền không
- Thứ nhất, về thẩm quyền theo cấp Tòa: Căn cứ tại Điểm b, Khoản 1, Điều 35 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về Kinh doanh, thương mại.” Như vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này
- Thứ hai, về thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ tại Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm” Qua nội dung hồ sơ thì bị đơn là Công ty TNHH Nhật Linh có địa chỉ trụ sở tại Cụm công nghiệp Thanh
Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh
Trang 5Do đó thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh như hồ sơ thể hiện là đúng quy định của pháp luật
II KẾ HOẠCH XÉT HỎI CỦA LUẬT SƯ
1 Hỏi đại diện theo ủy quyền của bị đơn (ông Nguyễn Tiến Công)
1 Bị đơn cho Hội Đồng Xét Xử biết là công ty Nhật Linh và công ty Kim Lân hợp tác làm ăn với nhau khi nào?
2 Phương thức và thời hạn mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn được quy định trong hợp đồng nguyên tắc số 01 là gì?
Trang 63 Bị đơn cho Hội Đồng Xét Xử biết là bị đơn đã nhận được hàng hóa theo thỏa thuận chưa?
4 Vậy sau khi nhận hàng thì bị đơn đến nay vẫn chưa thanh toán cho nguyên đơn đúng không?
5 Trong hợp đồng nguyên tắc giữa nguyên đơn và bị đơn có điều khoản nào quy định việc thanh toán sẽ được thực hiện sau khi nguyên đơn đã ký vào bản xác nhận kiểm
kê tài sản trên đất không?
6 Vậy căn cứ vào đâu bị đơn lại yêu cầu nguyên đơn ký vào danh mục kiểm kê tài sản rồi mới thanh toán khoản nợ?
7 Theo biên bản đối chiếu công nợ lập ngày 25 tháng 02 năm 2016, hai bên xác nhận công nợ tính đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015, tổng số tiền là: 3.250.319.430 VNĐ có đúng hay không?
8 Bị đơn căn cứ vào biên bản đối chiếu công nợ ngày 08 tháng 5 năm 2016 để xác định số tiền bị đơn nợ nguyên đơn đúng không?
9 Trong biên bản đối chiếu công nợ ngày 08 tháng 5 năm 2016 ghi rằng “số công nợ tính đến thời điểm đến hết ngày 30/04/2013” đúng không?
10 Nguyên do từ đâu mà khi chưa được sự đồng ý từ phía nguyên đơn, bị đơn đã xây dựng nhà xưởng và lắp đặt trang thiết bị trên đất của nguyên đơn?
11 Số tài sản mà bị đơn cho rằng đang để lại trên đất của nguyên đơn bao gồm 1 máy phát điện, nhà kho 3 tầng và 1 xe ô tô Isuzu 54V-9063, đúng không?
12 Bị đơn có bằng chứng nào để chứng minh những tài sản mà bị đơn để lại trên đất của nguyên đơn là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình hay không?
13 Trong bản tự khai ngày 23 tháng 8 năm 2016, bị đơn cho rằng chính công ty mình
đã góp vốn vào công ty Kim Lân, đầu tư tiền để xây dựng nhà xưởng, kho tàng, và các hạ tầng cơ sở khác, vậy bị đơn có bất kỳ chứng cứ nào về việc mình đã góp vốn vào công ty Kim Lân hay không?
14 Vậy tại sao tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày
03 tháng 9 năm 2016, bị đơn lại không giao nộp chứng cứ này?
2 Hỏi đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà Kiều Thị Hải Vân)
1 Nguyên đơn cho biết nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là gì?
2 Hiện tại bị đơn còn nợ nguyên đơn bao nhiêu tiền?
3 Nguyên đơn đã có những động thái hay hành động nào nhằm nhắc nhở và yêu cầu bị đơn liên quan đến việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán hay không?
4 Thông qua các công văn mà nguyên đơn đã gửi cho bị đơn thì động thái bị đơn như thế nào?
5 Các bên có thỏa thuận hợp tác để bị đơn xây dựng trên đất của nguyên đơn không? Nếu không có thỏa thuận thì lý do gì khiến nguyên đơn chấp nhận để bị đơn xây dựng trên đất của mình?
6 Đối với các tài sản của bị đơn hiện đang trên đất của nguyên đơn thì hai bên đã thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết hay chưa?
Trang 7CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT ÁP DỤNG
- Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Luật thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
III LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội Đồng Xét Xử!
Thưa vị đại diện Viện Kiểm Sát tham gia phiên tòa!
Thưa vị luật sư đồng nghiệp!
Tôi là luật sư Nguyễn Tuấn Khải, đến từ văn phòng luật sư ABC thuộc Đoàn Luật Sư Thành phố Hồ Chí Minh Tại phiên tòa ngày hôm nay, với sự yêu cầu của nguyên đơn và đồng ý của quý tòa, tôi tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là công ty TNHH Kim Lân (công ty Kim Lân), người khởi kiện công ty TNHH Nhật Linh Bắc Ninh (công ty Nhật Linh), liên quan đến tranh chấp kinh doanh thương mại đã được quyết định đưa ra xét xử theo Quyết Định số 12/2016/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 12 năm 2016
Trước khi Hội Đồng Xét Xử tiến hành nghị án, tôi xin phép phát biểu một số quan điểm pháp lý để bảo vệ cho người khởi kiện như sau:
Qua phần trình bày của các bên và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, xét thấy đã thể hiện rõ nội dung tranh chấp, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung vụ án Để bắt đầu cho phần trình bày của mình, trước tiên, tôi khẳng định có tồn tại hợp đồng mua bán giữa nguyên đơn và bị đơn, trong đó bị đơn nợ tiền hàng và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ này
Cụ thể, từ năm 2008 đến tháng 4 năm 2016, công ty Kim Lân và công ty Nhật Linh có hợp tác làm ăn với nhau trong việc sản xuất hàng hóa linh kiện, thiết bị điện Trong quá trình làm ăn trao đổi hàng hóa, hai bên thanh toán theo phương thức gối đầu là Kim Lân sẽ bàn giao hàng theo đúng số lượng và chất lượng mà Nhật Linh yêu cầu, cùng với các chứng từ thanh toán, sau đó, Nhật Linh sẽ trả dần cho Kim Lân trong thời hạn sáu tháng kể từ khi nhận được hàng và giấy tờ liên quan
Trong số các hợp đồng mà hai bên đã ký, có hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBK-KL ngày 02 tháng 01 năm 2015 (Hợp Đồng 01), với nội dung về điều khoản thanh toán như sau:
“Công ty Nhật Linh có nghĩa vụ phải thanh toán cho công ty Kim Lân tiền hàng của từng đơn hàng cho công ty Kim Lân trong vòng sáu tháng kể từ ngày công ty Kim Lân cung cấp đầy đủ các chứng từ thanh toán (phiếu nhập kho, báo giá chi tiết, giấy đề nghị thanh toán, và hoá đơn giá trị gia tăng)” Việc bàn giao hàng hoá theo yêu cầu của từng đơn đặt hàng nói riêng và theo quy định của Hợp Đồng 01 nói chung đã được công ty Kim Lân nghiêm túc
Trang 8tuân thủ, thể hiện ở các bút lục số 15, 16, 17, 19, 20, từ 22 đến 26, 28 và 29 Đây là các phiếu nhập kho do chính công ty Nhật Linh lập
Ngoài ra, mặc dù sau khi hoàn tất nghĩa vụ giao hàng, công ty Kim Lân đã kịp thời gửi cho công ty Nhật Linh các giấy tờ liên quan đến đơn hàng để công ty Nhật Linh thực hiện việc thanh toán, công ty Nhật Linh đã không ít lần trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình Điều này được thể hiện ở bút lục số 27 – Biên bản đối chiếu công nợ do Kim Lân và Nhật Linh cùng lập và ký xác nhận ngày 25 tháng 02 năm 2016, ghi nhận số nợ của Nhật Linh đối với Kim Lân là 3.250.319.430 đồng Việt Nam; và bút lục số 31 – Công văn đòi nợ
số 0506ĐN/CV cho Kim Lân gửi cho Nhật Linh, đề ngày 09 tháng 5 năm 2016
Bên cạnh đó, tại bút lục số 33 – Biên bản làm việc giữa Kim Lân và Nhật Linh ngày 17 tháng 5 năm 2016, ông Nguyễn Tiến Công (Phó Tổng Giám Đốc đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của Nhật Linh) cũng đã thừa nhận Nhật Linh đang nợ tiền hàng và cam kết sẽ trả cho Kim Lân
Có thể thấy, việc Nhật Linh không có ý kiến phản đối đối với Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25 tháng 02 năm 2016, đối với Công văn đòi nợ số 0506ĐN/CV ngày 09 tháng 5 năm
2016 và đối với Biên bản làm việc ngày 17 tháng 5 năm 2016 đã chứng tỏ phía Nhật Linh hoàn toàn thừa nhận về mối quan hệ bạn hàng với Kim Lân, thừa nhận đang nợ tiền hàng đối với Kim Lân và Nhật Linh đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ đó Căn cứ Điều 4.2 của Hợp đồng thì Bên mua có trách nhiệm thanh toán cho Bên bán sau khi Bên bán hoàn tất việc giao hàng theo Điều 2 của Hợp đồng Căn cứ vào các văn bản ký xác nhận nợ, Công ty Nhật Linh phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 3.270.212.570 đồng cho Công ty Kim Lân Đây là số công nợ cuối cùng mà đã được công ty Kim Lân gửi thông báo đến Công ty Nhật Linh thông qua công văn số 0506ĐN/CV ngày 09/05/2016 Việc Công ty Nhật Linh cố tình trì hoãn, không thực hiện việc trả tiền hàng cho Công ty Kim Lân là trái với quy định của pháp luật, không tôn trọng các thỏa thuận của các bên, gây thiệt hại rất lớn cho Công ty Kim Lân trong việc kinh doanh và xoay vòng vốn Công ty Nhật Linh liên tục mượn lý do Công
ty Kim Lân không ký vào danh mục tài sản để trì hoãn việc trả nợ là vô lý, điều mà hai bên không không hề thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc của các bên, xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của Công ty Kim Lân
Thứ hai về yếu cầu trả tiền lãi phát sinh do việc chậm thanh toán Theo Luật Thương mại năm 2005, Điều 306, trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng thì bên
bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả Theo Điểm 4 Điều 4.2 Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015 thì “Trong trường hợp bên mua thanh toán cho bên bán trễ hạn theo Điều 2 của hợp đồng, (nếu không thỏa thuận, hoặc thông báo trước với bên bán) thì bên mua phải chịu lãi suất 10% tháng trên toàn bộ giá trị của phần chưa thanh toán.” Do đó, Nhật Linh phải có nghĩa vụ thanh toán lãi suất cho Kim Lân theo quy định của pháp luật cũng như theo thỏa thuận Hợp đồng Ở đây, nguyên đơn tạm tinh tiền lãi cho số tiền chậm trả của công ty Nhật Linh tính đến thời điểm nộp đơn là
Trang 9250.000.000 đồng Số tiền trên sẽ được tính chính xác cho đến thời điểm vụ án được giải quyết
Thứ ba tôi cho rằng lập luận của phía bị đơn và luật sư của bị đơn liên quan đến hợp đồng góp vốn giữa công ty Kim Lân và công ty Nhật Linh là hoàn toàn không có căn cứ, bởi các
lẽ sau đây:
1 Căn cứ Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Doanh Nghiệp (GCNĐKDN) số 2300336011, cấp lần đầu ngày 12 tháng 6 năm 2008, đăng ký thay đổi lần thứ bảy ngày 15 tháng 5 năm 2013 của công ty Nhật Linh, danh sách thành viên góp vốn của công ty Nhật Linh bao gồm công
ty TNHH Nhật Linh (Địa chỉ trú sở chính tại Dốc Đoàn Kết, Vĩnh Hưng, Quận Hoàng Mai,
TP Hà Nội) (Nhật Linh Hà Nội), ông Nguyễn Chí Linh, và bà Nguyễn Huyền Phương Có thể thấy, không hề có tên công ty Kim Lân hay bất kỳ bên liên quan nào của công ty Kim Lân được ghi nhận là thành viên góp vốn của công ty Nhật Linh
2 Căn cứ bút lục số 45 – Văn bản ghi ý kiến của Nhật Linh ngày 22 tháng 8 năm 2016, Nhật Linh có nhắc đến hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 (Hợp Đồng 288), và Giấy Chứng Nhận Đầu Tư số 21121/000088 do Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bắc Ninh cấp vào ngày 17 tháng
10 năm 2008 (Giấy Chứng Nhận Đầu Tư)
Tuy nhiên, đính kèm theo văn bản ghi ý kiến, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 03 tháng 9 năm 2016 và qua phiên xét hỏi ngày hôm nay, Nhật Linh đều không đưa ra được Hợp Đồng 288 cũng như Giấy Chứng Nhận Đầu Tư mà Nhật Linh đã nhắc đến
3 Theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, cụ thể là Điều 29 Luật Doanh Nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 (Luật Doanh Nghiệp), thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo các quy định sau:
- Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty
Giả sử có tồn tại việc công ty Kim Lân có dùng 11.735.4 m2 đất cùng toàn bộ tài sản, công trình xây dựng trên đất để góp vốn xây dựng nhà máy LiOA như lập luận của công ty Nhật Linh, thì việc góp vốn này chỉ hoàn tất khi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đối với tài sản trên đất đã được chuyển từ công ty Kim Lân sang cho công ty Nhật Linh Trong khi, thực tế cho thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với 11.735.4 m2 đất vẫn ghi nhận công ty Kim Lân là chủ sử dụng hợp pháp 11.735.4 m2 đất này
Nói tóm lại, hoàn toàn không có căn cứ để khẳng định công ty Kim Lân có góp vốn vào công ty Nhật Linh hay bất kỳ dự án nào của công ty Nhật Linh
Trang 10Thứ tư, bác yêu cầu phản tố của công ty Nhật Linh vì trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng dân sự 2015
Căn cứ vào thông báo số 30/TB-TA ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành thì phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải diễn ra vào ngày 03/9/2016 Tuy nhiên, đến ngày 17/11/2016 thì Công ty Nhật Linh mới có yêu cầu phản tố (BL 69), vậy mà Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành nghiễm nhiên chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Hành vi trên của thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng Bởi lẽ, khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” Như vậy, để yêu cầu phản tố được chấp nhận thì phía bị đơn phải đưa ra yêu cầu của mình trước thời điểm mở phiên họp còn trong trường hợp này yêu cầu phản tố của phía bị đơn Công ty Nhật Linh được đưa ra sau phiên họp mà vẫn được Toà án chấp nhận là vi phạm pháp luật về tố tụng dân sự
Từ việc Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành chấp nhận đơn phản tố của bị đơn và căn cứ vào Đơn đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BL 83) yêu cầu Tòa án niêm phong và kê biên toàn bộ tài sản của Công ty Nhật Linh đầu tư trên đất Công ty Kim Lân, Tòa án đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản trên đất của Công ty Kim Lân (có danh mục tài sản kèm theo) chưa hợp lý, bởi vì đối tượng đang tranh chấp ở đây là tiền chứ không phải công trình đầu tư trên đất Tuy nhiên, vì Tòa án đã chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn trái quy định pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do vậy việc
kê biên phong tỏa tài sản tại Công ty Kim Lân là sai, tác động không tốt làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trên đây là toàn bộ những ý kiến và quan điểm của tôi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là công ty Kim Lân
Mong Hội Đồng Xét Xử xem xét và đưa ra phán quyết công bằng, đúng pháp luật
Tôi xin chân thành cảm ơn Hội Đồng Xét Xử đã lắng nghe
IV NHẬN XÉT VỀ BUỔI DIỄN ÁN
1 Thư ký phiên tòa:
- Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, tuân theo quy định về pháp luật tố tụng dân sự
- Giọng nói to, rõ
- Tác phong, trang phục phù hợp
- Phần trình bày còn vấp
2 Thẩm phán phiên tòa:
- Thẩm phán được phân công thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình: tuân theo đúng trình tự tham gia tại phiên tòa; có nghiên cứu và nắm rõ nội dung hồ sơ vụ án
- Giọng nói rõ, nhưng chưa dứt khoác