1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện pháp luật hình sự việt nam về tội phạm sở hữu trí tuệ

113 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ (10)
  • 1.2. Khái quát hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ (12)
    • 1.2.1. Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (13)
    • 1.2.2. Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (22)
  • 1.3. Pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ (26)
    • 1.3.1. Sơ lƣợc lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (26)
    • 1.3.2. Khái quát về tội phạm sở hữu trí tuệ (29)
  • 1.4. Pháp luật hình sự một số nước về tội phạm sở hữu trí tuệ (31)
    • 1.4.1. Pháp luật hình sự Hoa Kỳ về tội phạm sở hữu trí tuệ (31)
    • 1.4.2. Pháp luật hình sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tội phạm sở hữu trí tuệ 31 CHƯƠNG 2: TỘI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT (36)
  • 2.1. Các quy định về tội phạm sở hữu trí tuệ trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (44)
    • 2.1.1. Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170) 39 2.1.2. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a) (44)
    • 2.1.3. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) (50)
  • 2.2. Phân biệt tội phạm sở hữu trí tuệ với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (56)
    • 2.2.1. Phân biệt tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với tội tuyên truyền chống nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88) (56)
    • 2.2.2. Phân biệt tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 253) (57)
    • 2.2.3. Phân biệt tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình, các ấn phẩm khác (Điều 271) (58)
    • 2.2.4. Phân biệt tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) (60)
    • 2.2.5. Phân biệt tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với tội lừa dối khách hàng (Điều 162) (61)
    • 2.2.6. Phân biệt tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với các tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156, 157, 158) (62)
  • 2.3. Tình hình thực thi pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ 60 1. Tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và thực trạng xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật hình sự (65)
    • 2.3.2. Những bất cập trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam vào việc xử lý các tội phạm sở hữu trí tuệ (69)
  • 2.4. Đánh giá sự phù hợp của pháp luật hình sự Việt Nam với các Điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật hình sự (77)

Nội dung

Trong lĩnh vực hình sự, có thể kể đến các đề tài sau “Định tội danh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Bộ luật hình sự 1999” – Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật K25, n

Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ

Tài sản thường được nhắc đến dưới hai hình thức là hữu hình và vô hình Và vì lẽ

Khái niệm “vô hình” được xem như hình thức tồn tại thứ hai của tài sản và đã nhận được sự quan tâm đáng kể từ giới nghiên cứu trong các lĩnh vực liên quan Theo Ủy ban thẩm định giá quốc tế, dựa vào hình thức xuất hiện, tài sản vô hình được phân loại thành hai nhóm: một là các quyền và mối quan hệ giữa các bên, trong đó các tài sản vô hình được lập thành nhóm như uy tín, danh tiếng; hai là tài sản trí tuệ.

Tài sản trí tuệ không tự nhiên xuất hiện mà là kết quả của quá trình đầu tư sáng tạo nghiêm túc; chủ sở hữu như nghệ sĩ, tác giả và nhà phát minh đang phải đối mặt với nguy cơ xâm phạm quyền lợi khi không thể bảo vệ tác phẩm bằng khóa hay hàng rào vật lý, khiến ngày càng nhiều kẻ trục lợi từ lao động trí tuệ mà không tốn chi phí Điều này sẽ làm giảm động lực sáng tạo bởi người ta chỉ đầu tư cho sáng tạo khoa học, công nghệ và nghệ thuật khi biết công sức và chi phí bỏ ra được công nhận và bảo vệ Vì vậy Nhà nước cần can thiệp bằng việc ban hành pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm bảo hộ, khuyến khích và tạo động lực cho tiến bộ khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật thông qua việc trao cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ các độc quyền nhất định và cho phép họ khai thác tài sản trí tuệ của mình, đồng thời ngăn cấm các hành vi sử dụng, sao chép trái phép.

6 không có sự đồng ý và không có sự bồi hoàn xứng đáng cho họ.Các độc quyền này đƣợc gọi chung là quyền sở hữu trí tuệ

Việt Nam công nhận quyền sở hữu trí tuệ qua hệ thống văn bản pháp lý đa dạng Hiến pháp năm 1992 quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác, đồng thời Nhà nước bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp Bộ luật dân sự 2005 dành riêng một chương để quy định quyền sở hữu trí tuệ Đến lượt mình, Luật Sở hữu trí tuệ ban hành năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) ghi nhận một cách khá đầy đủ các khía cạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng (Điều 4, khoản 1).

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu

Quyền liên quan đến quyền tác giả là tập hợp các quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Các quyền này bảo vệ lợi ích của người biểu diễn, người sản xuất và người phát sóng, cho phép họ kiểm soát và khai thác các hình thức thể hiện và truyền tải nội dung, bao gồm quyền sao chép, phân phối, trình diễn công khai và phát sóng qua các nền tảng khác nhau.

Quyền sở hữu công nghiệp là tập hợp các quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh do chính họ sáng tạo hoặc sở hữu, đồng thời bao gồm quyền chống cạnh tranh không lành mạnh để bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu.

Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu

Nhƣ vậy, theo pháp luật Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự, hàm chứa các nội dung liên quan đến quan hệ về quyền sở hữu đối với các tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo của các chủ thể đƣợc pháp luật quy định bảo hộ

Chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ Theo quy định tại [25, Điều 4, khoản 6], đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được xác định rõ và bao gồm các quyền và tài sản trí tuệ được bảo hộ theo pháp luật.

Trong hệ thống quyền sở hữu trí tuệ, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được xem là đối tượng quyền tác giả Bên cạnh đó, các yếu tố như cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa cũng là đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả Việc xác định rõ hai nhóm đối tượng này giúp bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo và các tổ chức sản xuất, đồng thời quy định phạm vi sử dụng và nghĩa vụ liên quan đến việc sao chép, phát sóng và phổ biến tác phẩm.

Trong hệ thống quyền sở hữu công nghiệp, các đối tượng chủ yếu được bảo hộ bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý; những đối tượng này tạo nền tảng bảo vệ sáng tạo và thương hiệu, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp khai thác tối đa giá trị của các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường.

Vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch (là đối tƣợng quyền đối với giống cây trồng) [25,Điều 3]

Các tài sản trí tuệ đóng vai trò đưa công nghệ vào cuộc sống bằng cách cho ra đời nhiều sản phẩm mang tính khoa học và nâng cao chất lượng đời sống tinh thần thông qua các sản phẩm văn hóa Vì vậy, pháp luật về sở hữu trí tuệ thiết lập cơ chế để nhiều đối tượng ngoài chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có cơ hội tiếp cận và sử dụng các tài sản trí tuệ Cụ thể, Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của pháp luật.

Khái quát hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ

Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Khi tài sản ra đời, chủ sở hữu đã có các quyền nhất định đối với tài sản đó—quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt—được xem như một quyền tự nhiên của con người Tuy nhiên, đặc tính của tài sản trí tuệ làm cho các quyền này dễ bị xâm phạm, vì vậy Nhà nước dùng pháp luật để bảo hộ và bảo vệ các quyền ấy Cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giúp làm rõ khái niệm tài sản trí tuệ, đồng thời cho thấy pháp luật ghi nhận các quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là nền tảng của chế định bảo hộ.

1.2.1.1 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng Điều ƣớc quốc tế

Sức mạnh sáng tạo của con người đã trở thành động lực dẫn đến sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp vào những năm tám mươi, khi hàng loạt phát minh và sáng chế được ra đời và ứng dụng rộng rãi Sự khởi sắc này không chỉ nâng cao năng suất mà còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất và mở ra cơ hội kinh tế mới Từ đó, sáng tạo không chỉ ghi dấu trong từng phát minh mà còn định hình các ngành công nghiệp, tạo nền tảng cho công nghiệp hiện đại và sự phát triển bền vững của xã hội.

Hoạt động mua bán quyền sở hữu trí tuệ xuyên biên giới diễn ra mạnh mẽ, song song với đó nạn xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phổ biến và gây ra hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt đối với các tập đoàn đa quốc gia Nhận thức được thực tế này, các quốc gia đã ngồi lại với nhau để đưa ra các cam kết mang tính toàn cầu về quyền sở hữu trí tuệ, trong đó quy định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được chú trọng nhất Nhiều điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ lần lượt ra đời nhằm thiết lập khung pháp lý thống nhất, tăng cường hợp tác và thúc đẩy một môi trường thương mại toàn cầu an toàn và công bằng.

 Công ƣớc Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, ngày 09/09/1886 (Công ƣớc Berne);

 Công ƣớc Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không đƣợc phép bản ghi âm của họ, ngày 29/10/1971;

 Công ước liên quan đến việc phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình truyền qua vệ tinh ngày 21/05/1974 (Công ƣớc Brussels);

 Công ƣớc Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp, ngày 20/03/1883 (Công ƣớc Paris);

 Công ƣớc quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới, thông qua ngày 02/12/1961 và đƣợc sửa đổi tại Geneva ngày 10/11/1972, 23/10/1978, 19/03/1991 (Công ƣớc UPOV);

 Công ước quốc tế về bảo hộ những người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình (công ƣớc Rome), ngày 26/10/1961;

 Công ƣớc toàn cầu về bản quyền (đƣợc sửa đổi tại Paris ngày 24/07/1971);

 Hiệp định các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) năm 1994;

 Hiệp ƣớc của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) ngày 20/12/1996;

 Hiệp ƣớc Luật nhãn hiệu hàng hóa, ngày 27/10/1994;

 Hiệp ƣớc WIPO về Quyền tác giả (WCT) ngày 20/12/1996;

 Thỏa ƣớc Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, ban hành ngày 14/04/1891, sửa đổi qua các năm 1900, 1925, 1934, 1957, 1967, và thay đổi ngày 02/10/1979;

Các điều ước đa phương khác và các điều ước song phương giữa các quốc gia với nhau

Công ước Paris và Công ước Berne là hai điều ước quốc tế đầu tiên về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặt nền tảng cho việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan trên phạm vi toàn cầu Việt Nam đã trở thành thành viên của cả hai công ước này, gia nhập công ước Paris từ năm 1981 và sau đó gia nhập công ước Berne, mở đường cho sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam được aligned với chuẩn mực quốc tế.

Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được ký kết ngày 20/3/1883 tại Paris và được sửa đổi năm 1967 tại Stockholm Năm 1994, các quy định của Công ước đã được dẫn chiếu trong Hiệp định TRIPS và hình thành chuẩn mực cơ bản của WTO về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Công ước áp dụng cho các đối tượng gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và chống cạnh tranh không lành mạnh Công ước đề cập đến nguyên tắc đối xử quốc gia, quyền ưu tiên đối với các đối tượng được bảo hộ và quy định các tiêu chuẩn bảo hộ chung mà tất cả các nước thành viên phải tuân thủ.

Quyền ưu tiên trong Công ước Paris cho phép người nộp đơn, trên cơ sở nộp đơn yêu cầu hợp lệ đầu tiên tại một nước thành viên, có thể yêu cầu bảo hộ tại bất kỳ nước thành viên nào của Công ước trong một thời hạn nhất định: 12 tháng đối với sáng chế và mẫu hữu ích, 06 tháng đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp Các đơn nộp sau sẽ được xem như đã nộp cùng ngày với ngày nộp đơn yêu cầu đầu tiên nên người nộp có thể bảo hộ ở nhiều nước khác nhau mà không phải nộp đồng thời ở nước xuất xứ và các nước khác; họ có thời gian từ 06 tháng đến 12 tháng để quyết định nên nộp đơn ở nước nào và tiến hành thủ tục ở các nước đã chọn [4, Điều 4]

The Berne Convention was signed in Bern, Switzerland, in 1886, revised in Paris in 1889, revised again in Berlin in 1908, finalized in Bern in 1914, and amended in Rome.

Công ước điều chỉnh các đối tượng quyền tác giả gồm các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật, được hình thành từ năm 1928 và đã được bổ sung lần lượt tại Brussels (1948), Stockholm (1967), Paris (1971) và bổ sung thêm năm 1979 Công ước ghi nhận các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc bảo hộ đương nhiên, nguyên tắc bảo hộ độc lập và các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, cùng thời hạn bảo hộ đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật.

Dù có nhiều Điều ước quốc tế điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định Các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) là điều ước được các quốc gia quan tâm hàng đầu vì nó tập trung vào khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ TRIPS được ký kết ngày 15/04/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 Khi Việt Nam được công nhận là thành viên của WTO, nước ta cũng trở thành thành viên của TRIPS, qua đó nâng cao cam kết và chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên trường quốc tế.

Hiệp định TRIPS chứa các quy định về quyền sở hữu trí tuệ nằm trong hệ thống các quy tắc thương mại quốc tế của WTO Mục tiêu của Hiệp định là thúc đẩy sự bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời đưa ra các quy định chung về các biện pháp và thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ Các quy định này được thiết kế để bảo đảm các biện pháp thực thi không gây cản trở cho các hoạt động thương mại hợp pháp.

Hiệp định TRIPS được xem là hiệp định đa phương toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ, yêu cầu các nghĩa vụ nội dung dựa trên các công ước cơ bản của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Công ước Paris, Công ước Berne và Hiệp ước IPIC về thiết kế bố trí mạch tích hợp phải được tuân thủ Hiệp định TRIPS bổ sung thêm một số nghĩa vụ quan trọng nhằm điều chỉnh các vấn đề mà các công ước trên chưa quy định hoặc quy định chưa phù hợp Đối tượng điều chỉnh của TRIPS bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giống cây trồng mới, thiết kế bố trí mạch tích hợp và thông tin bí mật, đồng thời ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh.

Quyền tác giả bảo hộ đối tượng là cách thể hiện chứ không bảo hộ các ý tưởng, trình tự, phương pháp vận hành hoặc khái niệm toán học Điều này có nghĩa là chỉ các hình thức thể hiện cụ thể mới được bảo hộ, còn ý tưởng và nguyên lý phía sau sẽ không bị hạn chế Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, chương trình máy tính được bảo hộ như một tác phẩm văn học theo Công ước Berne, với sự bảo vệ đối với mã nguồn, lời văn và cấu trúc phần mềm Cơ sở dữ liệu cũng được xem xét để bảo hộ tùy theo luật pháp hiện hành, nhấn mạnh sự sáng tạo trong cách chọn lọc và sắp xếp thông tin.

Điều 12 được bảo hộ theo quyền tác giả, bất kể ở dạng đọc bằng máy tính hay ở dạng hình thức khác Kể cả trường hợp bản thân các dữ liệu không được bảo hộ, việc lựa chọn và sắp xếp các dữ liệu được xem là sáng tạo trí tuệ và đủ điều kiện để được bảo hộ.

Có thể cho phép đăng ký các dấu hiệu vô hình như âm thanh hoặc mùi vị làm nhãn hiệu, và khả năng đăng ký được xem xét dựa trên cơ sở sử dụng; tuy nhiên, việc sử dụng thực sự nhãn hiệu không được coi là điều kiện bắt buộc để nộp đơn, và đơn đăng ký chỉ có thể bị từ chối nếu ý định sử dụng không được thực hiện ít nhất sau 3 năm kể từ ngày nộp đơn.

1.2.1.2 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật quốc gia - Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Để có đƣợc cơ hội trở thành thành viên thứ 150 của WTO, Việt Nam cũng đã có những nổ lực đáng kể trong việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ Luật sở hữu trí tuệ 2005 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009) là đạo luật quy định chi tiết về cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Theo đó, điều kiện bảo hộ cụ thể đối với từng quyền nhƣ sau: Đối với quyền tác giả:

Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Xác lập quyền cho các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ là bước khởi đầu và không đủ để ngăn chặn các hành vi xâm phạm Chính vì lý do này, bên cạnh ghi nhận các quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, các Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia rất chú trọng đến việc xây dựng cơ chế xử lý đối với các hành vi cố ý xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

1.2.2.1 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng Điều ƣớc quốc tế: Điều ước quốc tế thể hiện tiếng nói chung của các quốc gia trước các nhu cầu bức thiết của cộng đồng quốc tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh Với quy mô của mình, Điều ƣớc quốc tế trở hành công cụ hiệu quả trong việc kêu gọi các quốc gia khác trở thành thành viên, nhờ đó, những quy phạm mang tính chất quốc tế sẽ đƣợc nội luật hóa đi vào pháp luật quốc gia, qua đó tạo sự thống nhất trong chính sách chung về quyền sở hữu trí tuệ giữa các nước

Theo Công ước Paris, hàng hóa mang nhãn hiệu hoặc tên thương mại bị sử dụng trái phép sẽ bị thu giữ khi nhập khẩu vào các nước thành viên nếu nhãn hiệu hoặc tên thương mại đó được bảo hộ hợp lý; khi luật quốc gia không quy định biện pháp thu giữ hàng hóa nhập khẩu, nước đó có thể áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu hoặc thu giữ hàng hóa trong nội địa và các biện pháp khác phù hợp mà luật quốc gia áp dụng đối với các trường hợp tương tự với công dân của mình; việc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các chỉ dẫn sai lệch về nguồn gốc của hàng hóa cũng được phép thu giữ khi nhập khẩu.

Theo Điều 10 của Công ước Paris, các quốc gia thành viên có trách nhiệm bảo đảm bằng công cụ pháp lý phù hợp ngăn chặn hiệu quả các hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý; đồng thời, họ cũng phải thiết lập các biện pháp cho phép các liên đoàn, hiệp hội và các tổ chức đại diện cho các nhà sản xuất, thương nhân tham gia vào quá trình bảo vệ và thực thi quyền sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

18 các nhà công nghiệp được kiện tại Tòa án hoặc trước các cơ quan Nhà nước nhằm mục đích ngăn chặn các hành vi kể trên

Công ước Berne ghi nhận quyền của tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và cho phép họ khởi kiện những người vi phạm trước tòa án Mọi tác phẩm hợp pháp có thể bị tịch thu tại các quốc gia thành viên nơi tác phẩm gốc được bảo hộ Những bản sao nhập từ quốc gia nơi tác phẩm không còn được bảo hộ hoặc đã ngừng bảo hộ vẫn được bảo vệ theo cơ chế này Công ước cho phép quốc gia thành viên được áp dụng các biện pháp lập pháp hoặc hợp pháp nhằm cho phép, kiểm soát hoặc cấm lưu hành, trình diễn hoặc triển lãm những tác phẩm hoặc sản phẩm xâm phạm quyền tác giả.

Khác với các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ khác, Hiệp định TRIPS đã đưa ra một cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ hoàn chỉnh ở phần III, tập trung vào nhóm thủ tục và biện pháp chế tài dân sự, hành chính, quy định về các biện pháp tạm thời và các yêu cầu đặc biệt liên quan đến kiểm soát biên giới, cùng với các thủ tục hình sự Theo đó, các chế tài dân sự và hành chính được quy định gồm lệnh cấm của tòa án, bồi thường thiệt hại và các hình phạt khác như tiêu hủy hàng hóa xâm phạm, xử lý vật liệu và thiết bị được dùng để sản xuất hàng hóa xâm phạm, cũng như buộc tiêu thụ hàng hóa xâm phạm ngoài kênh thương mại.

Các biện pháp tạm thời được sử dụng để ngăn chặn hành vi xâm phạm và ngăn chặn hàng hóa xâm phạm xâm nhập vào các kênh thương mại, bao gồm cả hàng hóa xâm phạm đã nhập khẩu vào hệ thống phân phối nội địa, đồng thời đảm bảo an toàn chứng cứ liên quan đến hành vi bị nghi ngờ xâm phạm Tuy nhiên, Hiệp định cũng quy định các biện pháp bảo đảm chống lạm dụng các biện pháp tạm thời, như quyền của các cơ quan xét xử ra lệnh cho người nộp đơn trả cho bị đơn một khoản bồi thường thỏa đáng đối với bất kỳ thiệt hại nào đã gây ra trong quá trình áp dụng các biện pháp đó.

Các biện pháp kiểm soát biên giới được áp dụng đối với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa xâm phạm bản quyền, ngoại trừ hàng nhập khẩu song song hoặc hàng hóa mang theo trong hành lý cá nhân ở tính chất phi thương mại được xem như linh kiện nhỏ hoặc hàng hóa xuất khẩu/quá cảnh Để tránh lạm dụng, Hiệp định cho phép cơ quan có thẩm quyền yêu cầu nộp đơn và cung cấp vật bảo đảm hoặc bảo chứng đủ để bảo vệ bị đơn và các cơ quan có thẩm quyền, nhằm ngăn chặn sự lợi dụng hệ thống Người nhập khẩu và người nộp đơn phải được thông báo nhanh chóng về việc tạm giữ hàng hóa trong vòng thời hạn quy định.

10 ngày mà chủ thể quyền không khởi kiện thì hàng hóa sẽ được thông quan bình thường,

Các chế tài được áp dụng bao gồm lệnh buộc tiêu hủy hoặc tiêu thụ ngoài kênh thương mại đối với hàng hóa xâm phạm; đồng thời, các chế tài dân sự cũng được áp dụng cho các biện pháp kiểm soát biên giới.

Theo Hiệp định TRIPS, thủ tục hình sự đòi hỏi áp dụng chế tài hình sự tối thiểu đối với hành vi xâm phạm bản quyền và hành vi cố ý giả mạo nhãn hiệu hàng hóa ở quy mô thương mại Chế tài được áp dụng là phạt tù hoặc phạt tiền, và có các biện pháp xử lý hàng xâm phạm cũng như nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng xâm phạm.

Hiệp định không yêu cầu thiết lập một hệ thống xét xử riêng cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ độc lập với hệ thống xét xử để thực thi pháp luật nói chung Nó cũng không đòi hỏi phân bổ nguồn lực giữa việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và việc thực thi pháp luật nói chung.

1.2.2.2 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật quốc gia - Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ rất toàn diện Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), có hai nhóm biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: một là các biện pháp tự bảo vệ dành cho các chủ thể quyền, và hai là các biện pháp thực thi được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là việc các chủ thể áp dụng các biện pháp công nghệ và biện pháp ngăn ngừa hành vi xâm phạm, đồng thời yêu cầu tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi và cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; đồng thời yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm và khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Nhóm các biện pháp thực thi từ phía cơ quan Nhà nước gồm:

Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự.

Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, hoặc do tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâm phạm hoặc do cơ quan có thẩm quyền chủ động phát hiện Để xử lý các hành vi này, Chính phủ ban hành các văn bản sau: Nghị định 47/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định 97/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Nghị định 57/2005/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 172/2007/NĐ-CP.

Pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ

Sơ lƣợc lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Quyền tác giả là loại quyền phát sinh sớm nhất vì nó liên quan đến các tác phẩm văn học, nghệ thuật và ra đời cùng với sự phát triển của công nghệ in ấn Khi việc in ấn và sao chép tác phẩm diễn ra ngày càng phổ biến, quyền tác giả được hình thành như một khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của người sáng tác và khuyến khích sự đổi mới sáng tạo Quyền tác giả cho phép tác giả kiểm soát việc sao chép, phân phối và trình diễn tác phẩm, đồng thời giúp duy trì chất lượng và đa dạng của văn học, nghệ thuật Trong thời đại số, hệ thống bản quyền cũng phải thích nghi với các hình thức lan truyền trực tuyến, vẫn giữ được cân bằng giữa quyền lợi của tác giả và quyền tiếp cận của công chúng.

Việc sao chép sách trở nên dễ dàng khiến việc kiểm soát tác phẩm của tác giả gặp khó khăn và từ đó nhu cầu bảo vệ quyền tác giả được đặc biệt chú trọng Trên thế giới, Anh là nước đầu tiên ban hành luật về quyền tác giả, mở đường cho sự hình thành và phát triển quyền sở hữu trí tuệ, tiếp theo lần lượt là Pháp và Đức Cùng với sự tiến bộ của công nghệ lưu trữ và truyền thông, phạm vi bảo hộ cho các tác phẩm dưới dạng quyền tác giả ngày càng phong phú và rộng rãi hơn Đồng thời, luật về sở hữu công nghiệp lần đầu tiên trên thế giới cũng xuất hiện ở Anh từ thế kỷ XVII với Đạo luật Elizabeth I về sáng chế.

Pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam ra đời muộn so với nhiều nước khác Tại miền Nam năm 1957 đã có Luật thương hiệu; năm 1958 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành thể lệ thương phẩm và thương hiệu Đến năm 1976, Việt Nam gia nhập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) Ngày 14 tháng 12 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HĐBT quy định về nhãn hiệu hàng hóa.

Việc sử dụng luật hình sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận muộn trong Bộ luật hình sự năm 1985, tại Điều 126 về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế và các sáng kiến cải tiến kỹ thuật cũng như hợp lý hoá sản xuất, sáng chế, phát minh Người vi phạm chiếm đoạt hoặc có hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm khoa học, văn hoá, nghệ thuật hoặc đối với các sáng kiến cải tiến kỹ thuật và hợp lý hoá sản xuất, sáng chế, phát minh sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền tới 100.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Có thể thấy Bộ luật hình sự năm 1985 quy định các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng chưa thực sự khoa học và hợp lý Các đối tượng được bảo vệ gồm tác phẩm khoa học, văn hóa và nghệ thuật; sáng kiến cải tiến kỹ thuật và hợp lý hóa sản xuất; sáng chế, phát minh Tuy nhiên, quyền sở hữu công nghiệp vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, và dấu hiệu về hành vi phạm tội còn thiếu rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng điều luật này vào thực tiễn.

Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhận thức về sở hữu trí tuệ ngày càng được nâng cao và pháp luật hình sự cũng dành sự quan tâm thích đáng hơn cho đối tượng quyền sở hữu trí tuệ Bộ luật hình sự 1999 ra đời, tách Điều 126 của Bộ luật hình sự 1985 thành tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171); đồng thời bổ sung tội phạm vi phạm quy định cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170).

Điều 131 quy định tội xâm phạm quyền tác giả thuộc chương các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, áp dụng cho chủ thể đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Nếu hành vi chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chủ thể của tội này phải là người đã bị xử phạt hành chính về các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà vẫn vi phạm Khách thể trực tiếp là quyền nhân thân và quyền sở hữu đối với tác phẩm được bảo hộ Hành vi khách quan được mô tả trong điều luật bao gồm chiếm đoạt quyền tác giả, mạo danh tác giả, sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm, công bố hoặc phổ biến tác phẩm bất hợp pháp Hậu quả là yếu tố cấu thành tội phạm và được phân thành mức độ từ nghiêm trọng tới rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, là các tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 131.

Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, quy định cụ thể cách xác định hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng dựa trên các tiêu chí lợi nhuận thu được, thiệt hại vật chất gây ra cho chủ thể quyền và giá trị của hàng hóa vi phạm Tội xâm phạm quyền tác giả được thực hiện với lỗi cố ý Hình phạt áp dụng cho tội phạm này có thể là phạt tiền (từ 20 triệu đến 200 triệu đồng), cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù (từ 06 tháng đến 03 năm).

Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) Tội phạm này thực hiện với lỗi cố ý vì mục đích kinh doanh, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là chủ thể thường Xâm phạm các đối tƣợng sau: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn

24 hiệu hàng hóa, tên gọi, xuất xứ hàng hóa, hoặc các đối tƣợng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam Các dấu hiệu khác tương tự như tội xâm phạm quyền tác giả

Việt Nam tham gia WTO và trở thành thành viên của các điều ước quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ, đặc biệt Hiệp định TRIPs, buộc pháp luật sở hữu trí tuệ nước này phải thích nghi với chuẩn mực mới Do đó, luật hình sự Việt Nam đã có nhiều sửa đổi đáng kể trong lần sửa đổi năm 2009 Trong lần sửa đổi này, tội vi phạm quy định cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170) được giữ nguyên cấu thành; tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được bổ sung bằng Điều 170a và thay thế Điều 131 Theo Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12 về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, kể từ ngày 01/01/2010 sẽ không xử lý hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả được nêu tại Điều 131 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) cũng được đổi mới để phù hợp với các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên.

Khái quát về tội phạm sở hữu trí tuệ

Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm vẫn phổ biến và được cộng đồng quốc tế xem là vấn đề cần có cơ chế hình sự để xử lý nghiêm minh Việc hình sự hóa các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được xem là xu thế tất yếu nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và sự ổn định của trật tự xã hội Để nhấn mạnh vai trò của luật hình sự, bài viết dùng khái niệm “tội phạm sở hữu trí tuệ”, định nghĩa đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ quản lý quyền sở hữu trí tuệ do Nhà nước ban hành.

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm sở hữu trí tuệ nhƣ sau:

Khách thể của tội phạm sở hữu trí tuệ:

Khách thể của tội phạm sở hữu trí tuệ là các quan hệ xã hội về quyền sở hữu trí tuệ, phát sinh trong giai đoạn xác lập hoặc giai đoạn thực hiện các quyền, nghĩa vụ mà Luật sở hữu trí tuệ ghi nhận cho chủ thể liên quan Thông qua việc xâm phạm các quan hệ xã hội này, tội phạm sở hữu trí tuệ xâm phạm khách thể chung của xã hội gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, và xâm phạm các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Đối tượng tác động của tội phạm sở hữu trí tuệ là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (như các tác phẩm, nhãn hiệu,…) hoặc hoạt động bình thường của các chủ thể tham gia vào quan hệ quyền sở hữu trí tuệ.

Mặt khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ:

Hành vi khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ có thể được thực hiện dưới hai hình thức: hành động phạm tội hoặc không hành động phạm tội Nó bao gồm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, như quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng, cùng với các hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể là dấu hiệu bắt buộc trong một số trường hợp phạm tội, có thể là thiệt hại vật chất gây ra cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc thiệt hại phi vật chất như trật tự quản lý của Nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; để xác định trách nhiệm hình sự dựa trên dấu hiệu này, cần chứng minh hành vi khách quan xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian và giữa hành vi với hậu quả có mối quan hệ nội tại, tất yếu (mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả).

Ở một số trường hợp, mặt khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ còn bao gồm các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về tư cách chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, nội dung và giới hạn các quyền được bảo hộ Những quy định này xác định ai được công nhận là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ, phạm vi bảo hộ quyền và những giới hạn pháp lý đối với việc khai thác, sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ Ví dụ, luật quy định quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, cùng với các chế định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm.

Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định các trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố mà không cần xin phép và không phải trả tiền nhuận bút, thù lao Cụ thể, tác phẩm có thể được trích dẫn ngắn hoặc tham khảo cho mục đích thông tin, tin tức, phê bình, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học, miễn là việc sử dụng phù hợp với bản chất tác phẩm và không ảnh hưởng đến quyền lợi của tác giả Người dùng phải ghi rõ tên tác giả, nguồn gốc và không lạm dụng để lồng ghép nội dung, không sao chép toàn bộ tác phẩm, và không làm thay đổi ý nghĩa hoặc mục đích ban đầu Các quy định này nhằm cân bằng quyền lợi của tác giả với nhu cầu phổ biến kiến thức, giúp báo chí, giáo dục và nghiên cứu dễ tiếp cận thông tin mà vẫn tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

Chủ thể của tội phạm sở hữu trí tuệ:

Chủ thể phạm tội sở hữu trí tuệ thường là chủ thể bình thường, nhưng trong một số trường hợp lại là chủ thể đặc biệt Ví dụ điển hình là những người có chức vụ, quyền hạn trong quá trình cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Mặt chủ quan của tội phạm sở hữu trí tuệ:

Tội phạm sở hữu trí tuệ được thực hiện với lỗi cố ý Người thực hiện nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật bảo hộ Họ hiểu rằng hành vi đó sẽ gây thiệt hại cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này, nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, có thể mong muốn hoặc ít nhất chấp nhận hậu quả.

Người thực hiện các tội phạm sở hữu trí tuệ thường có mục đích kinh doanh và thu lợi, nhưng điều này không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm.

Dựa vào các dấu hiệu trên, tội phạm sở hữu trí tuệ trong Bộ luật hình sự hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định thành các tội danh cụ thể, mỗi tội danh được nêu rõ trong các điều khoản tương ứng nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm.

Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a);

Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170);

Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171);

Pháp luật hình sự một số nước về tội phạm sở hữu trí tuệ

Pháp luật hình sự Hoa Kỳ về tội phạm sở hữu trí tuệ

Hoa Kỳ là một trong những nước có nền khoa học phát triển bậc nhất thế giới Tài sản trí tuệ tạo ra nguồn lợi nhuận khổng lồ cho nền kinh tế và đóng vai trò then chốt trong đổi mới công nghệ Vì vậy, hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và phát triển tài sản trí tuệ nhận được sự quan tâm đầu tư từ cả khu vực công và khu vực tư nhân nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Điều này thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng trưởng kinh tế và mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp và nhà sáng chế.

Pháp luật hình sự Hoa Kỳ áp dụng các mức hình phạt rất nghiêm khắc đối với các tội phạm sở hữu trí tuệ dựa trên nguyên tắc tương xứng giữa hành vi và hậu quả; đây là lý do giải thích vì sao các hành vi sao chép, làm giả, phát tán hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ lại bị trừng phạt nặng Mục tiêu của quy định này là răn đe, bảo vệ quyền sáng tạo và thị trường hợp pháp, đồng thời đảm bảo sự công bằng cho người sáng tạo và doanh nghiệp liên quan.

Về bản quyền ở Hoa Kỳ, Điều 506 Luật Bản quyền năm 1976 quy định hình phạt hình sự đối với vi phạm bản quyền; theo đó, người xâm phạm quyền tác giả một cách cố ý để phục vụ mục đích thu lợi nhuận thương mại hoặc đạt được mục tiêu tài chính cá nhân có thể bị phạt tù theo quy định tại Điều 2319 của 18 U.S.C Nếu hành vi sao chép hoặc phân phối, trong bất kỳ khoảng thời gian 180 ngày nào, ít nhất 10 bản sao hoặc bản ghi của một hoặc nhiều tác phẩm được bảo hộ và giá trị bán l retail trên 2.500 USD, sẽ bị phạt tù tối đa 5 năm, hoặc phạt tiền, hoặc kết hợp cả hai; nếu vi phạm lần thứ hai hoặc vi phạm tiếp diễn sẽ bị phạt tù tối đa 10 năm hoặc phạt tiền, hoặc kết hợp cả hai Những trường hợp vi phạm còn lại sẽ bị phạt tù tối đa 1 năm hoặc phạt tiền, hoặc kết hợp cả hai hình phạt.

Theo Điều 506, bất kỳ ai có ý định lừa dối in ký hiệu quyền tác giả hoặc cụm từ có ý nghĩa tương tự lên bất kỳ đồ vật nào và biết đó là sự lừa dối, phân phối cho công chúng hoặc nhập khẩu để phân phối cho công chúng các đồ vật mang ký hiệu hoặc từ ngữ ấy sẽ bị phạt tối đa 2.500 USD.

Bên cạnh đó, các hành vi gian lận như xóa bỏ ký hiệu quyền tác giả và gian lận trong trình bày nội dung sẽ bị xem là vi phạm hình sự Cụ thể, hành vi xóa bỏ ký hiệu quyền tác giả nhằm trốn tránh trách nhiệm hoặc trình bày thông tin sai lệch để lừa dối người đọc có thể bị xử lý hình sự và chịu các hình phạt theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu.

Những người có ý định lừa dối và cố ý xóa bỏ hoặc sửa đổi ký hiệu quyền tác giả trên bản sao của một tác phẩm được bảo hộ sẽ bị phạt tối đa 2.500 USD.

Người nào gian dối trong việc trình bày sự thật về tư liệu được sử dụng trong việc nộp đơn đăng ký quyền tác giả hoặc trong bất kỳ tuyên bố bằng văn bản nào được nộp liên quan đến đơn đăng ký đó sẽ bị phạt không quá 2.500 USD.

Những hành vi phá vỡ hệ thống bảo vệ bản quyền có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các Điều 1202–1205 của Luật số 17, với mức phạt tù lên đến 5 năm; đối với trường hợp tái phạm, mức phạt có thể tăng lên đến 10 năm tù.

Đối với hành vi tiếp nhận các dịch vụ cáp trái phép, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 553 của Luật số 47 Mức phạt tù áp dụng từ 6 tháng đối với cá nhân sử dụng, đến 2 năm khi hành vi nhằm thu lợi nhuận thương mại, và có thể lên đến 5 năm tù khi tái phạm.

Điều 2319 quy định rằng hành vi ghi âm và buôn bán bản ghi âm và các băng video âm nhạc của các buổi biểu diễn nhạc sống khi không được phép là hành vi vi phạm pháp luật Theo điều luật này, người nào không được sự đồng ý của người trình diễn hoặc những người trình diễn, biết rõ mục đích thu lợi nhuận hoặc thu lợi cá nhân khác, và thực hiện các hành vi ghi âm, lưu trữ, phát tán hoặc buôn bán các bản ghi âm và băng video này mà chưa được sự cho phép sẽ phải chịu xử lý theo quy định của pháp luật.

Ghi âm hoặc ghi hình buổi trình diễn nhạc sống trên các bản sao hoặc bản ghi, hoặc nhân bản các bản sao hoặc bản ghi của buổi trình diễn đó từ việc ghi buổi trình diễn không được phép.

 Truyền hoặc phổ biến khác tới công chúng các âm thanh hoặc các âm thanh và hình ảnh của buổi trình diễn nhạc sống;

Phân phối hoặc đưa ra phân phối, bán hoặc chào bán, cho thuê, mời thuê hoặc buôn bán bất kỳ bản sao hoặc bản ghi được tạo ra trái phép, bất kể sự ghi đó xảy ra tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hay không, sẽ bị phạt tù không quá 5 năm hoặc phạt tiền hoặc cả hai hình phạt Nếu vi phạm lần thứ hai hoặc tái phạm sau đó thì sẽ bị phạt tù không quá 10 năm, hoặc bị phạt tiền, hoặc cả hai hình phạt.

Liên quan quyền sở hữu công nghiệp

Buôn bán hàng hóa, dịch vụ giả theo Điều 2320 của Điều luật số 38 sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù lên tới 10 năm; trong trường hợp tái phạm, hình phạt có thể lên tới 20 năm Cụ thể, hành vi cố ý lưu thông hoặc cố ý làm cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ giả và cố ý sử dụng nhãn hiệu giả mạo trên hàng hóa, dịch vụ hoặc kết hợp với các yếu tố giả khác sẽ bị xử lý hình sự nghiêm minh.

Hành vi cố ý gắn nhãn giả hoặc cố ý lưu thông nhãn, bản vá lỗi, giấy dán, giấy gói, phù hiệu, biểu tượng, huy chương, hộp, thùng chứa và các vật có nhãn khác mà người thực hiện biết rõ nhãn giả có khả năng gây nhầm lẫn hoặc lừa dối khách hàng sẽ bị xử phạt; đối với cá nhân, mức phạt tiền tối đa 2.000.000 USD hoặc bị phạt tù tối đa 10 năm, hoặc cả hai; nếu hành vi không do cá nhân thực hiện thì phạt tiền tối đa 5.000.000 USD; trong trường hợp tái phạm, người phạm tội là cá nhân sẽ bị phạt tiền tối đa 5.000.000 USD hoặc bị phạt tù tối đa 20 năm, hoặc cả hai; nếu chủ thể phạm tội không phải là cá nhân thì phạt tiền tối đa 15.000.000 USD.

Người phạm tội còn phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu và các nạn nhân khác của hành vi phạm tội

Người thực hiện hành vi vi phạm nhãn hiệu có thể biết hoặc không biết rằng nhãn hiệu bị giả mạo đã được đăng ký tại Hoa Kỳ, nhưng họ vẫn thực hiện hành vi nhằm thu lợi từ nhãn hiệu này Lợi nhuận ở đây được hiểu là các khoản thu được hoặc dự kiến nhận được từ bất kỳ hoạt động nào có giá trị liên quan đến nhãn hiệu bị giả mạo.

Pháp luật hình sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tội phạm sở hữu trí tuệ 31 CHƯƠNG 2: TỘI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT

Trung Quốc có chế độ chính trị và nền kinh tế – xã hội khá gần gũi với Việt Nam, nên các khía cạnh pháp lý liên quan đến sở hữu trí tuệ cũng có những điểm tương đồng đáng chú ý Đối với tội phạm sở hữu trí tuệ, Bộ luật hình sự của Trung Quốc dành một phần riêng từ Điều 213 đến Điều 220 để quy định rõ các hành vi phạm pháp và mức xử phạt trong lĩnh vực này.

Song song với Bộ luật hình sự, các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc đóng vai trò vô cùng quan trọng, hướng dẫn chi tiết cấu thành tội phạm đối với từng loại tội phạm sở hữu trí tuệ Đối với quyền tác giả và quyền liên quan, Điều 217 của Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định những hành vi khách quan sau đây, nếu thực hiện với lỗi cố ý thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phục chế và phát hành các tác phẩm văn học, âm nhạc, điện ảnh, truyền hình, video, phần mềm máy tính và các tác phẩm khác mà chưa có sự đồng ý của tác giả là hành vi bị cấm Việc bảo vệ quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ giúp ngăn chặn sao chép trái phép và đảm bảo quyền lợi của tác giả cũng như người sáng tạo.

 Xuất bản sách, báo thuộc bản quyền của người khác;

 Chƣa đƣợc sự đồng ý của tác giả băng ghi âm, băng ghi hình mà xuất bản, phát hành băng ghi âm, ghi hình này;

 Sao chép, bán ra các tác phẩm giả mạo những tác phẩm nổi tiếng của người khác;

Người thực hiện các hành vi trên nhằm mục đích lợi nhuận và tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 30.000 RMB, hoặc có các tình tiết nghiêm trọng kèm theo, sẽ bị phạt tù tới 3 năm hoặc bị bắt giam và phạt tiền, hoặc bị phạt tiền về tội xâm phạm quyền tác giả.

 Tổng giá trị thương mại bất chính lớn hơn 50.000 RMB;

Việc sao chép và phân phát với số lượng trên 1.000 bản sao các tác phẩm viết, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm tranh, chương trình truyền hình hoặc các tác phẩm nghe nhìn khác, hoặc sao chép phần mềm máy tính và các tác phẩm khác, mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, là hành vi vi phạm bản quyền nghiêm trọng Những hành động này xâm phạm quyền tác giả và có thể bị xử lý bằng các biện pháp pháp lý phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích của người sáng tạo và các chủ sở hữu quyền tác giả.

Trong trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích tư lợi và tổng giá trị thu lợi bất chính vượt quá 150.000 RMB, hoặc có những tình tiết đặc biệt nghiêm trọng sau đây, họ sẽ bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm và bị phạt tiền về tội xâm phạm quyền tác giả.

 Tống giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 250.000 RMB;

Sao chép và phân phối trên 5.000 bản sao các tác phẩm viết, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm tranh, chương trình truyền hình và các tác phẩm nghe nhìn khác, cùng với phần mềm máy tính hoặc các sản phẩm khác, mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả và có thể phải chịu các biện pháp xử lý pháp lý.

Luật hình sự Trung Quốc coi hành vi tiêu thụ sản phẩm phục chế từ các hành vi vi phạm quyền tác giả là tội phạm khi được thực hiện nhằm mục đích kinh doanh Theo Điều 218 Bộ luật hình sự, người tiêu thụ vì mục đích kinh doanh những sản phẩm sao chép phục chế biết rõ vi phạm quyền tác giả được ghi nhận tại Điều 217; nếu tổng giá trị thu lợi bất chính vượt quá 100.000 RMB thì họ sẽ bị phạt tù không quá ba năm, hoặc bị bắt giam và phạt tiền, hoặc bị phạt tiền về tội bán các tác phẩm sao chép xâm phạm quyền tác giả.

Lưu ý về khái niệm "không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả" là các trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả không cho phép sử dụng, hoặc các tài liệu về sự cho phép bị sửa đổi, hoặc phạm vi cho phép bị vượt quá Những trường hợp này cho thấy giới hạn trong quyền sử dụng nội dung và nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu rõ điều kiện cấp phép Việc nhận diện đúng các giới hạn này giúp đảm bảo việc sử dụng nội dung tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ và tránh vi phạm.

Phạm tội xâm phạm quyền tác giả và đồng thời bán hàng hóa được sản xuất từ hành vi xâm phạm sẽ chỉ bị truy cứu về tội xâm phạm quyền tác giả theo Điều 217; tuy nhiên, nếu người phạm xâm phạm quyền tác giả và cố ý bán các tác phẩm sao chép do người khác bằng hành vi xâm phạm quyền tác giả thì họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng và áp dụng một hình phạt chung cho các tội đã thực hiện Đối với quyền sở hữu công nghiệp

Trung Quốc đã hình sự hóa nhiều hành vi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký và Điều 213 quy định tội giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký quyền sở hữu với lỗi cố ý, khi các hành vi sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc có sự khác biệt không đáng kể có thể nhận biết được so với nhãn hiệu đã đăng ký, dẫn đến nhầm lẫn cho người tiêu dùng đối với hàng hóa cùng loại mà không có sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu; các trường hợp này có thể bị phạt tù tối đa 3 năm hoặc bị bắt giam và phạt tiền, hoặc chỉ bị phạt tiền.

 Tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 30.000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 30.000 RMB;

Làm giả nhiều hơn 2 nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký, với tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 30.000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 20.000 RMB, cùng với các trường hợp nghiêm trọng khác.

Nếu thuộc các trường hợp sau thì sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và bị phạt tiền:

 Tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 25000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 150.000 RMB;

Làm giả hơn hai nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký, với tổng giá trị thương mại bất hợp pháp vượt quá 150.000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính vượt quá 100.000 RMB.

 Thuộc các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác

Lưu ý, hành vi “sử dụng” được nêu tại Điều luật này được hiểu là hành vi dùng nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký hoặc nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký bị giả mạo trên sản phẩm hàng hóa, đóng gói hàng hóa và các container, trên các hướng dẫn sử dụng đối với người dùng và trên các tài liệu giao dịch hàng hóa, hoặc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký hoặc nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký bị giả mạo cho hoạt động quảng cáo, rao hàng, trưng bày và các hoạt động kinh doanh khác.

Trường hợp phạm tội giả mạo hàng hóa đồng thời bán các hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo sẽ chỉ bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội giả mạo nhãn hiệu theo Điều 213; tuy nhiên, nếu hành vi phạm tội gồm giả mạo hàng hóa và cố ý bán các hàng hóa mang nhãn hiệu bị làm giả bởi người khác thì người phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm tương ứng với từng hành vi và áp dụng chung một hình phạt cho các tội đã thực hiện Theo Điều 214 của Bộ luật hình sự Trung Quốc, tội bán hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo nhãn hiệu đã đăng ký được quy định, và tội này chỉ được thực hiện với lỗi cố ý; người phạm đã bán các hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo các nhãn hiệu đã đăng ký có tổng giá trị mua bán trên 50.000 RMB thì bị phạt tù 3 năm, hoặc bị bắt giam và bị phạt tiền, hoặc bị phạt tiền.

Nếu tổng giá trị mua bán lớn hơn 250.000 RMB thì người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và bị phạt tiền

Các quy định về tội phạm sở hữu trí tuệ trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Phân biệt tội phạm sở hữu trí tuệ với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tình hình thực thi pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ 60 1 Tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và thực trạng xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật hình sự

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ƣớc Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, ngày 09/09/1886 Khác
2. Công ƣớc Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không đƣợc phép bản ghi âm của họ, ngày 29/10/1971 Khác
3. Công ước liên quan đến việc phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình truyền qua vệ tinh ngày 21/05/1974 (Công ƣớc Brussels) Khác
4. Công ƣớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, ngày 20/03/1883 Khác
5. Công ƣớc quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới, thông qua ngày 02/12/1961 và đƣợc sửa đổi tại Geneva ngày 10/11/1972, 23/10/1978, 19/03/1991 (Công ƣớc UPOV) Khác
6. Công ước quốc tế về bảo hộ những người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình (công ƣớc Rome), ngày 26/10/1961 Khác
7. Công ƣớc toàn cầu về bản quyền (đƣợc sửa đổi tại Paris ngày 24/07/1971) Khác
8. Hiệp định các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) năm 1994 Khác
9. Hiệp định giữa Chính phủ cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ năm 1999 Khác
10. Hiệp định giữa Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả năm 1997 Khác
11. Hiệp định giữa nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại, sở hữu trí tuệ (BTA) năm 2001 Khác
13. Hiệp ƣớc WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) ngày 20/12/1996 Khác
14. Hiệp ƣớc WIPO về Quyền tác giả (WCT) ngày 20/12/1996 Khác
15. Thỏa ƣớc Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, ban hành ngày 14/04/1891, sửa đổi qua các năm 1900, 1925, 1934, 1957, 1967, và thay đổi ngày 02/10/1979;Văn bản quy phạm pháp luật Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w