1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các quy định về tội tham nhũng trong quốc triều hình luật việt nam và kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật hình sự việt nam hiện nay

113 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 741,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Thị Sơn chủ biên, gồm 16 công trình của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, như: Quốc triều hình luật và những giá trị lập pháp; Quan chế triều Lê qua Quốc triều hình luậ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ NINH

CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI THAM NHŨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ NINH

CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI THAM NHŨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số : 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN HIỂN

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thị Ninh

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 7

3 Mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn 11

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 12

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài 13

6 Kết cấu của luận văn 13

CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI, NỘI DUNG CHÍNH VÀ TƯ TƯỞNG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 15

1.1 Hoàn cảnh ra đời và nội dung của Quốc triều hình luật 15

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời 15

1.1.2 Khái quát nội dung chính của Quốc triều hình luật 20

1.2 Tư tưởng phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật 23

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI THAM NHŨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 27

2.1 Khái quát các quy định về tội phạm tham nhũng trong Quốc triều hình luật 27

2.2 Cấu thành tội phạm 31

2.2.1 Chủ thể 33

2.2.2 Khách thể 40

2.2.3 Mặt khách quan 44

Trang 5

2.2.4 Mặt chủ quan 51

2.3 Hình phạt 52

CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ KINH NGHIỆM LẬP PHÁP TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 70

3.1 Tư tưởng, quan điểm của nhà cầm quyền 70

3.2 Kỹ thuật lập pháp 72

3.3 Nội dung quy định về tội tham nhũng 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Kiến nghị 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 93

Phụ lục 1: Các điều luật quy định các hành vi tham nhũng trong 93

Quốc triều hình luật 93

Trang 7

Bảng 2.2 Một số hình phạt áp dụng cho các tội về tham nhũng

Bảng 2.3 Một số hành vi tham nhũng có mức xử tử trong

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta, tình trạng tham nhũng hiện nay đang trong một chiều hướng phát triển và đã trở thành một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ Trước kia, tham nhũng chỉ dừng ở những hành vi tiêu cực của một số

ít cán bộ, đảng viên hư hỏng, thoái hóa biến chất, hành vi mang tính chất nhỏ

lẻ của những người có chức vụ quyền hạn của nhà nước Ngày nay, cùng với

sự ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường, và những nguyên nhân khác, tham nhũng không còn là một hiện tượng nhỏ lẻ mà trở thành tệ nạn và được nhìn nhận như một vấn đề hệ trọng của quốc gia Do đó việc hoàn thiện các quy định pháp luật để quá trình phòng, chống tham nhũng đạt hiệu quả là một vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay

Xét trong các triều đại phong kiến Việt Nam, nạn tham nhũng đều hiện diện ở các mức độ khác nhau, đã có các quy định về phòng chống tham nhũng

để tạo cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh phòng chống tham nhũng Trong số các bộ luật trong thời kỳ phong kiến của nước ta, thì Quốc triều hình luật có thể coi là bộ luật tiêu biểu nhất Nó chứa đựng những giá trị văn hóa, văn minh của đất nước và con người Việt Nam Riêng trong lĩnh vực lập pháp, bộ Quốc triều hình luật mãi mãi là niềm tự hào của các thế hệ người Việt Nam vì

nó không chỉ là đỉnh cao của thành tựu xây dựng pháp luật phong kiến Việt Nam mà còn là đỉnh cao của lĩnh vực này ở Đông Nam Á và châu Á thời đại phong kiến [37, tr.24] Kết quả nghiên cứu các giá trị tiến bộ của Quốc triều hình luật không chỉ đóng góp vào việc bảo tồn, kế thừa và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, truyền thống pháp luật ở nước ta hiện nay mà còn giúp chúng ta rút ra được những kinh nghiệm và bài học to lớn trong quá trình xây dựng và ban hành pháp luật, cải cách hành chính, tư pháp và đặc biệt là công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay

Trang 9

Bộ Quốc triều hình luật gồm có 6 quyển, chia làm 13 chương với tổng

cộng 722 điều, trong đó có không ít điều luật có nội dung liên quan đến

phòng chống tham nhũng Trừ chương Thông gian, Đấu tụng, Bộ vong, 10

chương còn lại đều có các quy định xử phạt các hành vi tham ô, chiếm đoạt

của công Theo thống kê, trong Quốc triều hình luật có tất cả 78 điều luật trực

tiếp liên quan đến chế tài xử phạt các hành vi tham ô, nhận hối lộ của quan lại Các điều luật trên, nội dung phản ánh về các hành vi tham nhũng của quan lại khá đa dạng, như: tổng quan về việc trừng phạt tội người nhận hối lộ, người đưa hối lộ; thượng cấp nhận hối lộ mà bao che, dung túng cho cấp dưới; hoành hành nhũng nhiễu lương dân để lấy tiền của; nhận hối lộ mà dung túng tội phạm; nhận tiền đút lót mà miễn binh dịch cho người; ăn cắp tài vật của công; vơ vét hoặc ăn bớt của công Quốc triều hình luật không chỉ quy định chặt chẽ, rõ ràng các hành vi quan lại lợi dụng chức vụ, quyền hạn

để vụ lợi, tham nhũng mà quy định rõ ràng các hình thức xử lý nghiêm khắc ứng mỗi hành vi, tùy theo tính chất, mức độ và sự đóng góp của các quan lại đối với triều đình Những quy định về vấn đề tham nhũng trong Quốc triều hình luật chính là những giá trị to lớn mà chúng ta có thể tham khảo để hoàn thiện các quy định về Các tội phạm về tham nhũng trong luật hình sự Việt Nam hiện nay

Hiện nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về Quốc triều hình luật, đặc biệt là vấn đề phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật và về tội phạm tham nhũng trong các bộ luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ Các nghiên cứu về Quốc triều hình luật đã chỉ ra được các điểm tiến

bộ của Quốc triều hình luật và những giá trị của nó trong quá trình xây dựng đất nước ta hiện nay, trong đó có đấu tranh phòng, chống tham nhũng Các công trình nghiên cứu về tội phạm tham nhũng cũng chỉ ra cho người đọc những hiểu biết về loại tội phạm này và cả những biện pháp để nâng cao hiệu

Trang 10

quả phòng, chống tham nhũng Tuy nhiên, có không nhiều các công trình nghiên cứu sâu về mối liên hệ và những giá trị kế thừa của các quy định về tội phạm tham nhũng trong Quốc triều hình luật vào quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam Trên cơ sở này, tôi quyết định lựa chọn đề tài:

“Các quy định về tội tham nhũng trong Quốc triều hình luật Việt Nam và kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay” làm luận

văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Ở nước ta, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về Quốc triều hình luật và các tội phạm tham nhũng

*Các công trình nghiên cứu về Quốc triều hình luật được kể đến như sau:

- Nhóm các công trình chuyên khảo:

Công trình chuyên khảo Quốc triều hình luật, lịch sử hình thành, nội dung và giá trị do TS Lê Thị Sơn chủ biên, gồm 16 công trình của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, như: Quốc triều hình luật và những giá trị lập pháp; Quan chế triều Lê qua Quốc triều hình luật; Vấn đề hình phạt trong Quốc triều hình luật; Nội dung và giá trị của những quy định về các tội phạm cụ thể trong Quốc triều hình luật; Những nội dung cơ bản của tố tụng hình sự trong Quốc triều hình luật…

Cuốn sách Bộ luật Hồng Đức di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam do nhà nghiên cứu Lê Đức Tiết biên soạn và được xuất bản năm 2010,

đã nghiên cứu Quốc triều hình luật trên ba phương diện: (i) Những tư tưởng lớn về trị quốc an dân trong quá trình soạn thảo và thực thi Bộ luật Hồng Đức; (ii) Bộ luật Hồng Đức với tác dụng là định hướng, là hành lang pháp lý cho việc soạn thảo, thực thi luật tục của các dân tộc; (iii) Kế thừa và phát huy kinh nghiệm soạn thảo, thực thi Bộ luật Hồng Đức vào sự nghiệp hoàn thiện pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [15, tr.15]

Trang 11

Ngoài ra còn có một số công trình có đề cập đến Quốc triều hình luật, như công trình của nhà bác học Lê Quý Đôn và của nhà sử học Phan Huy Chú, các chuyên khảo, giáo trình về lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam của các tác giả như: Nguyễn Thị Việt Hương, Vũ Thị Phụng, Nguyễn Ngọc Hòa…

- Kỷ yếu hội thảo cấp quốc gia:

+ Kỷ yếu hội thảo cấp quốc gia Lê Thánh Tông (1442-1497) - Con người và sự nghiệp nhân dịp kỷ niệm 500 năm ngày mất của vua Lê Thánh Tông do nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1997, gồm 33 bài viết của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, như: Một số vấn đề về sự điều chỉnh của pháp luật nhà Lê trong Quốc triều hình luật + Kỷ yếu hội thảo quốc gia về Quốc triều hình luật, những giá trị lịch

sử và đương đại góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam do Nhà xuất bản tư pháp xuất bản năm 2008, gồm 22 bài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau, tiêu biểu như công trình: Quốc triều hình luật –công trình mang đậm bản sắc văn hóa pháp lý và tính nhân văn của dân tộc Việt Nam của GS.TS Lê Minh Tâm; Các quy định về phòng, chống tham nhũng trong Bộ Quốc triều hình luật và những bài học cho công cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay của TS.Nguyễn Văn Thanh + Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp Quốc gia về Cải cách pháp luật và xây dựng bộ máy nhà nước dưới triều vua Lê Thánh Tông – Những giá trị lịch sử

và đương đại do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2017, bao gồm 16 bài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý ở các lĩnh vực khác nhau, tiêu biểu như công trình: Quốc triều hình luật trong dòng chảy của văn hóa pháp lý Việt Nam của TS Dương Thị Thanh Mai; Quốc triều hình luật – Một mẫu mực về pháp điển hóa trong thời kỳ phong kiến Việt Nam và bài học cho công tác pháp điển hóa, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp ở nước ta của GS.TS

Trang 12

Trần Ngọc Đường; Quy định về tội phạm và hình phạt trong Quốc triều hình luật từ góc nhìn đương đại của TS Nguyễn Sơn; Bài học về phòng, chống tham nhũng dưới triều vua Lê Thánh Tông của TS Nguyễn Văn Thanh… + Các công trình đăng tạp chí khoa học: một số công trình tiêu biểu như: Tìm hiểu tư tưởng giữ nước của Lê Thánh Tông trong Quốc triều hình luật của nhà nghiên cứu Vũ Quang Lộc và Nguyễn Hữu Phúc đăng trên tạp chí Lịch sử quân sự số 8/2007; Quá trình xây dựng Quốc triều hình luật hay Luật hình triều Lê, xét từ góc độ đa dạng văn hóa và đối thoại giữa văn hóa Đại Việt và văn hóa Trung Hoa thời Trung đại của tác giả Phạm Xuân Nam đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 8 (376)/2007; Khảo cứu về quy định chống tham nhũng trong “Quốc triều hình luật” của tác giả Phan Ngọc Huyền đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 5/2015

- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài:

Trong số các công trình nghiên cứu về Quốc triều hình luật của các học giả nước ngoài có một số công trình tiêu biểu như: Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII của GS.Yu Insun; Hệ thống luật pháp triều Lý và triều Tràn của Việt Nam và mối quan hệ giữa Đường luật và Lê Triều hình luật của

GS Yu Insun…

* Đối với các nghiên cứu về tội phạm tham nhũng, có một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu qua các thời kỳ như sau:

- Về giáo trình, sách chuyên khảo, các sách bình luận: Giáo trình Luật

Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần các tội phạm, Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Lê Cảm

chủ biên; Sách chuyên khảo: Tìm hiểu các tội phạm về tham nhũng, ma tuý

và xâm phạm tình dục đối với người chưa thành niên, Nguyễn Ngọc Điệp,

Đoàn Tấn Minh, Nxb Công an nhân dân, 1998; Tìm hiểu pháp luật về chống tham nhũng, lợi dụng chức vụ xâm phạm lợi ích Nhà nước và quyền lợi công

Trang 13

dân, Nguyễn Mạnh Hùng, Nxb Sự Thật, 1992; Những giáo trình, sách

chuyên khảo, sách bình luận này sẽ trang bị cho người đọc những kiến thức chung, cơ bản về loại tội phạm tham nhũng

- Các bài báo khoa học có đề cập đến tội tham nhũng như: Một số ý

kiến hoàn thiện quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Nguyễn

Đình Bính, Tạp chí Kiểm sát, VKSNDTC, số 09/2008; Các giải pháp nâng

cao hiệu quả phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, Phạm Mạnh Khải, Tạp

chí Thanh tra chính phủ, Số 11/2009 Đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm về tham nhũng đã được đăng trên các tạp chí chuyên ngành Các công trình này chủ yếu phân tích các quy định của Bộ luật Hình

sự Việt Nam về tội phạm về tham nhũng, phân tích các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đối với từng tội danh tham nhũng và các hình thức trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với các tội danh này và đề ra những giải pháp phòng, chống tội phạm về tham nhũng

- Các luận án tiến sĩ luật học có các đề tài liên quan của các tác giả: Trần Đăng Vinh, Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt

Nam hiện nay, 2012; Trần Văn Đạt, Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam, 2012 Ở cấp độ luận văn thạc sĩ có các đề tài của các

tác giả: Hoàng Anh Tuyên, Phòng ngừa các tội phạm về tham nhũng ở Việt

Nam; Trương Quốc Hưng, Quy định về phòng, chống tham nhũng trong Bộ

luật Quốc triều hình luật và bài học rút ra đối với công cuộc phòng, chống

tham nhũng hiện nay, Hà Nội, 2011; Ngọ Duy Hiểu, Đổi mới tư duy pháp lý

về đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay Những luận

văn, luận án này ở những góc độ khác nhau đã nghiên cứu về tội phạm tham nhũng ở những khía cạnh chung, những vấn đề lý luận, tình hình tham nhũng

và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cũng như việc đổi mới tư duy trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam [20, tr.6]

Trang 14

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta đã

có nhiều công trình nghiên cứu về Quốc triều hình luật, đặc biệt là vấn đề phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật và về tội phạm tham nhũng trong các bộ luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ Tuy nhiên, có không nhiều các công trình nghiên cứu sâu về mối liên hệ và những giá trị kế thừa của các quy định về tội phạm tham nhũng trong Quốc triều hình luật vào

quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam Do đó đề tài luận văn “Các

quy định về tội tham nhũng trong Quốc triều hình luật Việt Nam và kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay” là đòi hỏi khách

quan, cấp thiết vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn với mục đích góp phần vào việc khai thác, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống pháp luật Việt Nam thời phong kiến vào quá trình hoàn thiện pháp luật hiện đại Luận văn sẽ chỉ ra các quy định chi tiết, cụ thể về tội tham nhũng trong Quốc triều hình luật, mối liên hệ và kế thừa giữa các quy định đó với các quy định về tội phạm tham nhũng trong các Bộ luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ, để từ

đó nhận thấy một cách tổng quan về những giá trị kế thừa và tham khảo từ Quốc triều hình luật vào quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam Đồng thời, có thể đề cập thêm cả các biện pháp khác để khắc phục những hạn chế, tồn tại nhằm hoàn thiện các quy định về các tội phạm tham nhũng trong pháp luật hình sự Việt Nam, với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng của nước ta hiện nay

3 Mục đích, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn

Trang 15

- Đề ra những giải pháp để hoàn thiện các quy định về Các tội phạm

tham nhũng trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quá trình hình thành Quốc triều hình luật, những quy phạm pháp luật của Quốc triều hình luật, những nhân tố

về tình hình xã hội tác động đến quan điểm, tư tưởng của nhà lập pháp thời

Lê sơ, cũng như những yêu cầu hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam hiện nay

để nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng của nước ta hiện nay

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định về tội tham nhũng trong Quốc triều hình luật và các Bộ luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp luận của triết học Mác Lênin về Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử mác-xít, chú trọng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp phổ biến và hiện đại khác như thống kê luật học, so sánh trong quá trình nghiên cứu để giải quyết vấn đề một cách toàn diện

Trang 16

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn góp phần làm phong phú thêm cơ

sở lý luận nhận thức về các giá trị truyền thống cũng như vai trò của truyền thống đối với hiện tại Luận văn góp phần vào việc khai thác, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống pháp luật Việt Nam Qua đó giúp chúng ta hiểu được mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, là cơ sở để vận dụng các giá trị truyền thống pháp luật vào quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện nay, để thúc đẩy sự phát triển phồn thịnh của đất nước

Cụ thể, luận văn đưa ra những nghiên cứu, phân tích, đánh giá về các quy định về tội tham nhũng trong Quốc triều hình luật, có liên hệ với tình hình xã hội nước ta thời kỳ phong kiến nhà Lê sơ, đặc biệt thời vua Lê Thánh Tông; Trên cơ sở đó phân tích những điểm tương đồng và cả những điểm khác biệt của Quốc triều hình luật và các Bộ Luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ trong các quy định về tội phạm tham nhũng Từ đó nêu các giải pháp

để kế thừa các điểm tiến bộ của Quốc triều hình luật vào quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam để nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay ở nước ta

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà nghiên cứu mà còn cả các nhà lập pháp, các cán

bộ giảng dạy pháp luật, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Hoàn cảnh ra đời, nội dung chính và tư tưởng phòng, chống

tham nhũng trong Quốc triều hình luật

Trang 17

Chương 2: Nội dung các quy định về tội tham nhũng trong Quốc triều

hình luật

Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam hiện

nay từ kinh nghiệm lập pháp trong Quốc triều hình luật

Trang 18

CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI, NỘI DUNG CHÍNH VÀ TƯ TƯỞNG

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 1.1 Hoàn cảnh ra đời và nội dung của Quốc triều hình luật

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời

Quốc triều hình luật hay dân gian quen gọi là Bộ luật Hồng Đức là bộ luật tiêu biểu cho các giá trị văn minh và văn hóa Việt Nam trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng ngàn năm của dân tộc “Quốc triều hình luật là một thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam Nó không chỉ là đỉnh cao so với những thành tựu pháp luật của các triều đại trước đó, mà còn

cả đối với bộ luật được biên soạn vào đầu thế kỷ XIX: Hoàng Việt luật lệ do Gia Long ban hành năm 1812” [36, tr.17] Đây là bộ luật được giới nghiên cứu cổ luật trong và ngoài nước đánh giá cao Tuy nhiên, “Việc xác định thời điểm khởi thảo Bộ luật này cũng như thời điểm tiêu biểu nhất cho sự hoàn chỉnh bộ luật này vẫn đang còn là một vấn đề chưa được khẳng định” [36, tr.13] và có nhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu Lý do là cả ba bản in ván khắc Quốc triều hình luật hiện còn lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) đều không có tựa đề, không ghi niên đại soạn thảo, người soạn thảo

Theo Đinh Gia Trinh cho rằng Quốc triều hình luật được ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497) trên cơ sở tập hợp có hệ thống các luật lệ của các vua Lê trước đó và có sửa đổi, bổ sung thêm một số điều khoản mới Ông gọi đó là Bộ luật 1483 [10, tr.155-156]

Nguyễn Quang Quýnh cho rằng Quốc triều hình luật được điển chế vào khoảng năm 1470 dưới triều vua Lê Thánh Tông [21, tr.82] Hiện tại, nhiều người vẫn thường gọi Bộ Quốc triều hình luật triều Lê là Bộ luật Hồng Đức

Trang 19

Ngoài ra, một số tác giả như Nguyễn Ngọc Huy, Yamamoto Tatsuro và Insun Yu lại cho rằng Quốc triều hình luật được soạn thảo ngay dưới triều vua

Lê Thái Tổ và được sửa đổi, bổ sung nhiều dưới triều vua Lê Thánh Tông [12]

Một số tác giả thuộc Viện Sử học Việt Nam cho rằng Quốc triều hình luật được khởi thảo sớm hơn, thậm chí từ năm 1928 dưới triều vua Lê Thái

Tổ Kiến giải này có vẻ hợp lý, bởi có nhiều căn cứ Thứ nhất, về các sự kiện lập pháp nhà Lê sơ, Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ: Năm 1449 “bổ sung mới vào hình luật chương Điền sản gồm 14 điều Trước kia, Thái Tổ định thực hiện phép quân điền, cho nên lược bỏ chương Điền sản Đến đây lại bổ sung vào” [7, tr.292] Phép quân điền được vua Lê Thái Tổ ban hành vào tháng 2 năm 1429, do đó câu trích trong sử cho thấy có thể từ năm 1428, vua Thái Tổ

đã ban bố Bộ luật đầu tiên của triều đại mình Cũng trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận tháng giêng năm 1428, Lê Thái Tổ “hạ lệnh cho các tướng hiệu

và các quan rằng từ xưa tới nay, trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn Cho nên học tập đời xưa đặt ra pháp luật là để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện, là ác, điều luật thì làm, điều chẳng lành thì tránh, chớ để đến nỗi phạm pháp” [7, tr.296]

Năm 1437, vua Lê Thái Tông ra chỉ dụ cho các quan đại thần, thái giám, hình quan rằng “phàm người xét án, cứ theo điều chính trong luật mà

xử đoán, điều luật và tội danh phải lấy ở hình luật, rồi trình lên quan đại thần, thái giám, đài quan và năm đạo công đồng xem qua, các quan ấy cho là phải thì sau mới xử đoán [8, tr.121] Điều này cho thấy Hình luật đã được ban hành vào thời Thái Tổ vì từ sau khi Thái Tổ mất (1433) đến năm 1437, Thái Tông không ban hành một bộ luật hình sự nào

Thứ hai, trong Quốc triều hình luật có một số điều khoản quy định về cấp hành chính địa phương là lộ, các chức quan trong cấp hành chính lộ và

Trang 20

các chức quan này đã được đặt ra từ triều vua Lê Thái Tổ [14, tr.46]

Ví dụ như tại điều 34 của Quốc triều hình luật có liệt kê tới 27 đơn vị hành chính lộ trong đó có một số lộ chỉ có dưới thời Trần mà không có dưới thời Lê sơ Dưới thời Trần, lộ là cấp hành chính địa phương trực thuộc trung ương và có 12 lộ Nhưng đến thời vua Lê Thái Tổ, ông đặt lộ là cấp hành chính trung gian dưới cấp đạo tương đương cấp phủ, trấn trên cấp châu, huyện Năm 1466, vua Lê Thánh Tông bỏ cấp hành chính lộ, quy định đơn vị hành chính địa phương dưới cấp đạo, trên cấp huyện là cấp phủ Tuy nhiên, trong Quốc triều hình luật vẫn có 27 điều khoản nhắc tới cấp lộ, lộ quan Do

đó, có thể thấy rằng những điều luật đó phải được ban hành trước thời Lê Thánh Tông [14, tr.46]

Hay một số chức quan đặt ra dưới thời Lê Thái Tổ đã bị đổi tên hoặc bị xóa bỏ duới triều Lê Thánh Tông vẫn xuất hiện trong một số điều khoản của Quốc triều hình luật Ví dụ như thời Lê Thái Tổ có các quan sảnh viện, nhưng đến năm 1466, các chức quan này đã bị vua Lê Thánh Tông bãi bỏ Tuy nhiên, trong Quốc triều hình luật vẫn có tới 25 điều khoản quy định trừng phạt các quan sảnh viện phạm tội khi đảm nhận chức vụ Thêm nữa, các chức quan tể tướng, quan thẩm hình viện cũng đã bị vua Lê Thánh Tông bãi bỏ từ năm 1466 nhưng cũng vẫn xuất hiện trong Quốc triều hình luật [14, tr.47]

Những điều nêu trên cho chúng ta thêm căn cứ rằng Quốc triều hình luật phần nhiều được ban hành từ thời vua Lê Thái Tổ

Thứ ba, so sánh về nội dung một số điều khoản trong Quốc triều hình luật với thực tiễn áp dụng pháp luật thời Lê sơ được ghi chép trong chính sử cũng cho ta thêm căn cứ về thời điểm ban hành bộ Quốc triều hình luật là thời vua Lê Thái Tổ Cụ thể, trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận, năm 1434, đầu bếp ở Thái miếu là Nguyễn Chú phạm tội ức hiếp mua hàng hóa bị đánh

80 trượng, thích chữ vào gáy, bị rao ba ngày cho mọi người biết Hành vi

Trang 21

phạm tội và các hình phạt được áp dụng trên trùng với nội dung điều 577 trong Quốc triều hình luật Năm 1435, có bảy tên ăn trộm tái phạm đều còn ít tuổi, Hình quan chiếu luật đều đáng xử chém, sau triều đình thấy vậy giết nhiều người quá nên chỉ xử chém hai tên, còn lại bị lưu đày Hành vi tái phạm tội ăn trộm và mức hình phạt xử chém mà hình quan chiếu theo trùng hợp với điều 429 trong Quốc triều hình luật Việc giảm án cho người ít tuổi có thể theo nguyên tắc chiếu cố theo tuổi ở điều 16 của Quốc triều hình luật Cũng trong năm 1435, Thái Quân Thực và Nguyễn Tông Trụ đi sứ sang nhà Minh mắc tội tiết lộ công việc triều chính với nước ngoài, đánh nhau làm nhục quân thể, tội đáng xử tử nhưng vì từng có công nên chỉ bị lưu hình Hành vi phạm tội và mức hình phạt nêu ra trong vụ án này trùng hợp với điều 79, điều 495 trong Quốc triều hình luật Mức án giảm nhẹ đối với Thái Quân Thực, Nguyễn Tông Trụ cũng cho thấy được áp dụng nguyên tắc chiếu cố theo bát nghị Các vụ án trên mặc dù xảy ra dưới thời Lê Thái Tông, nhưng các điều khoản trong Bộ luật phải được ban hành dưới thời Lê Thái Tổ Vì vua Thái

Tổ mất năm 1433, các vụ án chỉ xảy ra trong vòng một đến hai năm sau đó, lúc vua Thái Tông lên ngôi mới chỉ có 11 tuổi, trong thời hạn để tang vua cha

ba năm thì cũng không được thay đổi phép tắc của cha mình theo lễ nghi và quan điểm Pháp tiên vương của đạo Nho Đồng thời các mức hình phạt đó vẫn được giữ nguyên trong Bộ luật cho đến tận thời Lê Mạt [14, tr.48-49]

Với các phân tích trên, có thể nhận định rằng Quốc triều hình luật được ban hành vào năm 1428 dưới thời vua Lê Thái Tổ, ngay sau khi nhà vua vừa thiết lập triều đại

Mặc dù được ban hành sớm ngay từ năm 1428 nhưng nội dung của 722 điều khoản trong bản dịch mà chúng ta có hiện nay cho thấy Quốc triều hình luật là thành quả lập pháp của nhiều triều vua hậu Lê

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương

Trang 22

mục, Lịch triều hiến chương loại chí cho thấy rằng trước và sau khi lên ngôi, Thái Tổ đã ban hành những quy định về hình phạt và luật lệ kiện tụng, về chức tước các quan văn võ, về phân cấp hệ thống chính quyền địa phương, về việc hạn chế thế lực và sự lạm quyền của các đại thần, tướng hiệu, quan lại,

về việc lập sổ điền, sổ hộ, về việc cấm bỏ hoang ruộng đất Điều này thể hiện

sự quan tâm đặc biệt của Thái Tổ đến những lĩnh vực quan trọng nhất thời hậu chiến nhằm nhanh chóng thiết lập lại kỷ cương nhà nước, trật tự xã hội, củng cố địa vị và quyền lực của Hoàng đế, kiểm soát chặt chẽ đất đai và dân chúng Vua Lê Thái Tổ có những đóng góp tương đối trong việc ban hành Quốc triều hình luật [14, tr.50]

Dưới thời vua Thái Tông, ông cũng bổ sung vào Bộ luật một số điều khoản như Điều 502, Điều 507, Điều 513, Điều 527, Điều 683 [14, tr.52]

Dưới thời vua Nhân Tông (1442-1459) đã bổ sung vào Hình luật chương Điền sản gồm 14 điều Trong Quốc triều hình luật, 14 điều này được xếp vào một phần riêng thuộc chương 6 với tiêu đề “Điền sản mới tăng thêm”

Đặc biệt, vị vua có đóng góp lớn lao nhất cho việc hoàn thiện cơ bản Quốc triều hình luật chính là vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) – vị vua anh minh bậc nhất của triều Lê sơ Phần lớn các luật lệ ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông được tập hợp trong hai tập tư liệu là Thiên nam dư hạ tập và Hồng Đức thiện chính thư Khi so sánh các điều khoản trong Thiên nam dư hạ tập và Quốc triều hình luật cho thấy có 41 điều khoản được vua Thánh Tông đưa thêm vào Bộ luật Khi so sánh các điều khoản trong Hồng Đức thiện chính thư và Quốc triều hình luật cho thấy có 42 điều khoản được vua Thánh Tông đưa thêm vào Bộ luật Phần lớn các điều khoản được vua Thánh Tông đưa thêm vào Bộ luật đều nhằm củng cố chặt chẽ quan hệ vua tôi, lễ nghi Nho giáo trong gia đình, đồng thời hướng tới điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong

Trang 23

đó có sự kết hợp hài hòa giữa luật với lễ nghi và tư tưởng Nho giáo Điều đó hoàn toàn phù hợp với đường lối cai trị đức chủ - pháp bổ được xây dựng trên nền tảng tư tưởng Nho giáo của ông nhằm xây dựng một nhà nước an dân, ổn định kinh tế - xã hội

Sau vua Lê Thánh Tông, bộ luật vẫn tiếp tục được sửa đổi, bổ sung ở các triều vua nhà Lê sơ sau đó

Tổng kết lại, Quốc triều hình luật có thể được ban hành ngay thời Lê Thái Tổ và được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện qua các triều vua Lê sơ, trong

đó có đóng góp to lớn của vua Lê Thánh Tông dưới niên hiệu Hồng Đức

1.1.2 Khái quát nội dung chính của Quốc triều hình luật

Quốc triều hình luật gồm 722 điều, chia làm 6 quyển, 15 chương Cụ thể:

+ Quyển 1 có 2 chương: Danh lệ (49 điều), Cấm vệ (47 điều)

Chương Danh lệ: quy định về những vấn đề cơ bản về tội thập ác, về

ngũ hình, chế độ bát nghị, chuộc tội bằng tiền làm cơ sở để cho việc định chế tài xử phạt ở các chương điều khác;

Chương Vệ cấm: quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và

các tội xâm hại đến hoàng thành, cung điện, tài sản và tính mạng của vua, hoàng tộc;

+ Quyển 2 có 2 chương: Vi chế (144 điều), Quân chính (43 điều)

Chương Vi chế: quy định về hình phạt đối với các hành vi sai trái của

quan lại, các tội phạm về chức vụ;

Chương Quân chính: quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái

của tướng, sĩ, các tội vi phạm về quân ngũ, kỉ luật quân đội;

+ Quyển 3 có 3 chương: Hộ hôn (58 điều), Điền sản (59 điều), Thông gian (10 điều)

Chương Hộ hôn: quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân, gia đình và

Trang 24

các tội liên quan đến các lĩnh vực này;

Chương Điền sản: quy định về sở hữu, mua bán, tranh chấp ruộng

đất, vấn đề thừa kế, hương hỏa và các tội phạm có liên quan;

Chương Thông gian: quy định về các tội phạm tình dục, các chế tài

xử phạt tội gian dâm, cưỡng dâm, xâm hại thân thể người phụ nữ;

+ Quyển 4 có 2 chương: Đạo tặc (54 điều), Đấu tụng (50 điều)

Chương Đạo tặc: quy định về các tội trộm cướp, giết người và một số tội chính trị như phản nước hại vua;

Chương Đấu tụng: quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và các tội vu cáo, lăng mạ;

+ Quyển 5 có 2 chương: Trá nguỵ (38 điều), Tạp luật (92 điều)

Chương Trá ngụy: quy định các tội giả mạo, lừa dối;

Chương Tạp luật: quy định về các tội không thuộc các nhóm tội danh

thuộc các chương ở trên

+ Quyển 6 có 2 chương: Bộ vong (13 điều), Đoản ngục (65 điều)

Chương Bộ vong: quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các mức

hình phạt tương đương

Chương Đoản ngục: quy định về việc giam giữ, xét tụng các nghi can

và tội phạm

Quốc triều hình luật là một bộ “tổng luật” Nếu xét theo khoa học pháp

lý hiện đại, bộ luật này sẽ bao gồm các quy phạm pháp luật ở nhiều ngành luật khác nhau: luật hôn nhân – gia đình, luật dân sự, luật hành chính, luật hình sự, luật tố tụng… Tìm hiểu bộ luật, chúng ta thấy phạm vi điều chỉnh và

sự can thiệp của nó rất rộng, bao quát lên toàn bộ các mặt đời sống xã hội, từ những quan hệ trong gia đình đến những quan hệ trong làng xã, từ quan hệ vua tôi đến quan hệ vợ chồng cha con, mẹ con, từ các lĩnh vực kinh tế đến các lĩnh vực quản lí hành chính, ngoại giao, quân sự trong nước, …

Trang 25

Nội dung chủ yếu của bộ luật nhằm bảo vệ chế độ quân chủ triều Lê, bảo vệ tài sản và quyền thu tô thuế, bắt phu bắt lính của Nhà nước, bảo vệ trật

tự kỷ cương, bảo vệ các nguyên tắc về luân lý, đạo đức phong kiến…Bộ luật Hồng Đức có mô phỏng luật Tùy, Đường của Trung Quốc và kế thừa luật thời

Lý, Trần Nhưng Luật Hồng Đức chứa đựng nhiều giá trị phản ánh ý thức độc lập dân tộc mạnh mẽ của triều Lê, sự chăm lo của Nhà nước đối với chủ quyền và an ninh quốc gia, đối với những lợi ích cộng đồng như đê điều, thủy lợi, mùa màng và sự tôn trọng của Nhà nước đối với những phong tục tập quán, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Một số nguyên tắc, tinh thần cơ bản cũng như những quy định chặt chẽ của nó chứng tỏ các giá trị và tính độc lập sáng tạo của hoạt động lập pháp nhà Lê [1, tr.32]

Một số điểm tiến bộ của Quốc triều hình luật so với các bộ luật đương thời trong khu vực như:

Thứ nhất, Quốc triều hình luật đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Ví dụ như người con gái được quyền chia tài sản như con trai (Điều 388), trường hợp gia đình không có con trai, con gái trưởng được quyền thừa kế hương hỏa (Điều 391), khi gia đình phải phân chia tài sản thì tài sản

do hai vợ chồng gây dựng nên được chia đôi (Điều 374, Điều 375), trường hợp người chồng ruồng bỏ không đi lại với vợ trong 05 tháng thì người vợ có quyền bỏ chồng (Điều 308)

Thứ hai, về hình phạt thì hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhân nam

Thứ ba, các quy định trong Quốc triều hình luật thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê Bộ luật trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều, chặt phá cây cối và lúa má của người khác, tự tiện giết trâu, ngựa…

Thứ tư, Quốc triều hình luật thể hiện sự quan tâm và bảo vệ dân thường Trong Bộ luật có nhiều điều luật trừng phạt nghiêm khắc những

Trang 26

người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu thường dân

1.2 Tư tưởng phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì tham nhũng được hiểu là “là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn để sách nhiễu, tham ô, nhận hối lộ hoặc cố ý làm trái chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế - tài chính vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, xã hội” [19, tr.137]

Định nghĩa trên cũng tương ứng với Luật phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “Tham nhũng là hành vi của người có chức

vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” và “Vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng” Các hành vi tham nhũng được quy định theo Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 bao gồm: (i)Tham

ô tài sản; (ii)Nhận hối lộ; (iii)Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; (iv)Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì

vụ lợi; (v)Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; (vi)Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; (vii)Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; (viii)Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; (ix)Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; (x)Nhũng nhiễu vì vụ lợi; (xi)Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; (xii)Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi

Trang 27

Theo như Bộ luật hình sự năm 1985 thì tội phạm tham nhũng gồm có các tội như sau: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ; Tội giả mạo trong công tác; Tội nhận hối lộ; Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi Theo như Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội phạm tham nhũng gồm có các tội như sau: Tội tham

ô tài sản; Tội nhận hối lộ; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; Tội giả mạo trong công tác Bộ luật hình sự năm 2015 quy định các tội phạm tham nhũng bao gồm các tội tương

tự như Bộ luật hình sự năm 1999 tuy nhiên có quy định cụ thể, chi tiết hơn đối với từng tội để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, sự phát triển của đất nước

Như vậy, đối chiếu theo pháp luật hiện hành và một số tài liệu đề cập đến những vấn đề liên quan đến tham nhũng thời xưa, chúng ta có thể biết được ông cha ta thời xưa có quan điểm và nhìn nhận về vấn đề tham nhũng khá tương đồng so với cách nhìn nhận ngày nay Thông qua các chiếu chỉ của vua, các tấu sớ của các quan lại, các quy định pháp luật liên quan thì ta thấy được tham nhũng diễn ra chủ yếu ở những người có quyền hành, là những người lợi dụng chức tước, địa vị của mình trong quan trường, trong xã hội để thực hiện những hành vi làm giàu bất chính thông qua nhận hối lộ, tham ô tài sản của nhà nước… Dựa trên quan điểm về tham nhũng ở các quy định pháp luật hiện hành và các tài liệu về tham nhũng thời xưa, ta có thể thấy trong Quốc triều hình luật có nhiều nội dung quy định về hành vi tham nhũng Đó

có thể là hành vi quan lại nhận hối lộ, kết bè đảng, phe cánh doanh tư gây hại cho triều đình; nhận hối lộ làm trái pháp luật; quan cậy thế, hoành hành nhũng nhiễu lương dân để mưu đoạt lợi lộc; Nhận hối lộ mà dung túng tội

Trang 28

phạm; làm giả, sai lệch vụ án; Nhận tiền đút lót mà miễn binh dịch cho người, dung túng trong quân đội; Lợi dụng việc công để làm việc tư, ăn bớt, bòn rút của công Có khoảng 78 điều luật trong 13 chương Quốc triều hình luật có nội dung liên quan đến phòng chống tham nhũng Trừ các chương

Thông gian, Đấu tụng, Bộ vong, 10 chương còn lại đều có các quy định xử

phạt các hành vi tham nhũng Cụ thể từng hành vi tham nhũng sẽ được thể hiện chi tiết ở những phần sau

Các quy định về phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật thể hiện khá rõ tư tưởng phòng, chống tham nhũng một cách toàn diện, triệt

để của vua Lê Thánh Tông và triều đình phong kiến nhà Lê Sơ Tư tưởng phòng chống tham nhũng toàn diện đó được thể hiện ở những điểm như sau:

Thứ nhất, chủ động loại bỏ những viên quan lại có hành vi tham nhũng Điều này được thể hiện rõ ở những hình phạt áp dụng cho các viên quan phạm tội nhận hối lộ, tham ô, sách nhiễu…mà đã được đề cập ở những phần trên Tiêu biểu là Điều 138 quy định: “Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ một quan đến 9 quan thì xử tội biếm hay bãi chức, từ 10 quan đến 19 quan thì

xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém…” Đa phần các quan lại nhận hối lộ theo quy định trong Quốc triều hình luật sẽ chịu hình phạt biếm, bãi chức hoặc hình phạt nặng hơn

Thứ hai, xử lý nghiêm minh những người có hành vi tham nhũng Như phân tích ở những phần trên, đa phần các trường hợp, quan lại phạm tội tham nhũng bất kể thành phần xuất thân và công lao trước đó cùng học vị và chức vụ hiện tại đều bị xử lý nghiêm khắc Vụ án Lê Bô là một minh chứng điển hình trong việc xử lý nghiêm minh của vua Lê Thánh Tông đối với người có hành vi tham nhũng Các hành vi tham nhũng bị xử lý nghiêm khắc với các hình phạt nặng là thể hiện quan điểm của vua Lê Thánh Tông và một số vua nhà Lê sơ, cho rằng tham nhũng là tội ác cần được trừng trị đích đáng

Trang 29

Thứ ba, trong các điều quy định về tội tham nhũng ở Quốc triều hình luật có nhiều quy định khuyến khích sự tố cáo của dân đối với hành vi tham nhũng của đội ngũ quan lại đương thời như: “Người khỏe mạnh hối lộ hay kêu xin để tránh khỏi đi lính thì phải tội nặng, người nhận hối lộ mà tha cũng một tội, người đi xin giúp cho người khác khỏi đi lính bị tội nhẹ hơn hai bậc, người tố giác đúng sự thực thì có thưởng tùy theo việc lớn nhỏ” (Điều 170);

“Quan dân không theo chế độ ruộng đất mà lạm chiếm phần mình thì xử tội biếm hay đồ Người tố cáo ra đúng sự thực thì được 2 phần 10 số ruộng đất tố cáo” (Điều 372); “…Người quản giám tự ý đòi lấy trâu bò của cải, mà dung túng giấu giếm, thì xử tội biếm hay tội đồ và phải bồi thường gấp 3 lần tang vật và sung công, lại phạt tiền để thưởng cho người tố cáo như luật định” (Điều 451)…Những quy định trên thể hiện quan điểm coi việc chống tham nhũng là việc của toàn dân

Trang 30

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI THAM NHŨNG

TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

2.1 Khái quát các quy định về tội phạm tham nhũng trong Quốc triều hình luật

Như đã đề cập ở phần trên, trong Quốc triều hình luật có 78 điều luật quy định trực tiếp về tội phạm tham nhũng Các điều luật quy định trực tiếp

về tội tham nhũng được liệt kê theo các chương như sau:

Chương Vệ cấm: Điều 72; Điều 77; Điều 79; Điều 83; Điều 93 Tổng cộng có 5 điều luật

Chương Vi chế: Điều 114; Điều 120; Điều 138; Điều 163; Điều 169; Điều 170; Điều 172; Điều 173; Điều 174; Điều 176; Điều 179; Điều 184; Điều 185; Điều 186; Điều 192; Điều 197; Điều 204; Điều 206; Điều 207; Điều 218; Điều 224; Điều 225; Điều 226; Điều 229 Tổng cộng có 24 điều luật

Chương Quân chính: Điều 241; Điều 253; Điều 257; Điều 268; Điều 270; Điều 273; Điều 280; Điều 283 Tổng cộng có 8 điều luật

Chương Hộ hôn: Điều 295; Điều 302; Điều 304; Điều 311; Điều 325; Điều 326; Điều 327; Điều 328; Điều 336 Tổng cộng có 9 điều luật

Chương Điền sản: Điều 347; Điều 351; Điều 368; Điều 370; Điều 372 Tổng cộng có 5 điều luật

Chương Đạo tặc: Điều 451; Điều 452; Điều 459; Điều 461 Tổng cộng

có 4 điều luật

Chương Trá ngụy: Điều 524; Điều 525; Điều 544 Tổng cộng có 3 điều luật

Trang 31

Chương Tạp luật: Điều 558; Điều 562; Điều 569; Điều 571; Điều 575; Điều 577; Điều 578; Điều 594; Điều 626; Điều 636; Điều 639 Tổng cộng có

Như vậy, ta có thể thấy các điều luật quy định về hành vi tham nhũng được rải rác ở hầu hết các chương trong Quốc triều hình luật Các điều luật liên quan đến xử phạt hành vi tham nhũng của quan lại trong Quốc triều hình luật tập trung nhiều nhất ở chương Vi chế, tiếp đến là các chương Tạp luật,

“dung túng”, “lấy của hối lộ”, “nhận của hối lộ”, “ăn hối lộ”, “lấy tiền”, “ăn bớt”, “mượn riêng để dùng”, “vì thân tình hay thù oán mà cố ý làm sai sự thực”, “lấy súc vật tài sản của dân”, “đòi tiền”, “lấy tiền hay đồ vật”, “nhũng nhiễu”, “ăn tiền”, “chiếm đoạt”, “giấu những đồ vật của công”, …

+ Tuy một số hành vi có những nét tương đồng, nhưng nội hàm cũng có những điểm khác nhau so với các khái niệm ngày nay Biên độ nhìn nhận tham nhũng thời Lê sơ có phần rộng hơn so với hiện nay Đó không chỉ là sự

Trang 32

tham ô, nhũng lạm tiền của, hiện vật mà cả về mặt thời gian, sức lực hoặc tâm linh (lợi dụng tôn giáo để làm giàu) Ví dụ như những hành vi “sai công nhân làm việc tư cho mình”, “tự tiện bắt dân đinh làm đày tớ”, “người cai quản quân dân mà giả thác lễ cầu phúc, để lừa lấy tiền của quân dân”…đều được coi là những hành vi tham nhũng trong Quốc triều hình luật Hay khái niệm

“hối lộ” được hiểu rộng hơn so với khái niệm “hối lộ” trong BLHS hiện nay Người nhận hối lộ trong BLHS là người có chức vụ, quyền hạn Còn theo quan điểm nhà Lê sơ thì người nhận hối lộ đa phần vẫn chỉ đích danh vào đội ngũ quan lại nhưng cũng có một số trường hợp cho thấy đối tượng nhận hối lộ không chỉ ở đội ngũ quan lại là những người có chức vụ, quyền hạn mà có thể bất cứ người nào như: người thân thích của bị hại nhận của từ hung thủ để thỏa thuận, giải quyết việc riêng; tôi tớ của nhà công hầu (hoặc của công chúa) lộng quyền chủ mà làm những việc trái phép, ăn của hối lộ; người bắt được kẻ trộm ăn hối lộ mà tha…

+ Việc quy định hành vi phạm tội một cách tỷ mỷ, chi tiết cùng loại và mức hình phạt cho từng hành vi cụ thể là đặc thù của việc quy định tội phạm trong Quốc triều hình luật Nếu như luật hình sự hiện đại, tội phạm được quy định một cách khái quát, bao gồm các dấu hiệu chung đặc trưng của một nhóm các trường hợp phạm tội nhất định thì Quốc triều hình luật quy định tội phạm bằng cách miêu tả từng trường hợp phạm tội cùng với tất cả các tình tiết (nếu có) ảnh hưởng đến mức độ trừng phạt và mức hình phạt cụ thể cho trường hợp phạm tội đó Do cách quy định tội phạm cụ thể như vậy nên có nhiều trường hợp tương ứng với một tội phạm được quy định trong BLHS hiện đại thì trong Quốc triều hình luật nó lại được quy định ở nhiều điều khác nhau Ví dụ như tội nhận hối lộ, trong Quốc triều hình luật được quy định rải rác ở khoảng 22 điều, và mức độ trừng phạt nặng nhẹ ở các điều cho hành vi nhận hối lộ ở mỗi hoàn cảnh khác nhau là khác nhau Điều này cũng thể hiện

Trang 33

tính khái quát chưa cao trong kỹ thuật lập pháp, nhưng lại có ưu điểm, đặc biệt đặt trong thời điểm lịch sử đó mà chúng ta không thể phủ nhận được Đó

là tính cụ thể, phân hóa cao trong luật, làm cho việc áp dụng, kiểm tra, giám sát được tiến hành dễ dàng, đơn giản và chính xác, quan lại khi xét xử không thể tự ý tăng nặng hay giảm nhẹ hình phạt

+ Trong Quốc triều hình luật, các tội phạm tham nhũng không được quy định thành một chương và cũng không có các tội phạm tham nhũng độc lập Nhiều hành vi như “sách nhiễu”, “dung túng”, “lấy của hối lộ”, “nhận của hối lộ”, “ăn hối lộ”, “lấy tiền”….bị trừng trị cùng với các hành vi tội phạm nguồn Ví dụ như Điều 93 quy định “quân lính bắt được trộm cướp mà ăn hối

lộ thì cũng phải tội như trộm cướp” hay Điều 459 quy định “nếu ăn hối lộ mà tha thì bị xử giống kẻ phạm tội”… Đây là kỹ thuật lập pháp rất đáng lưu ý so với kỹ thuật lập pháp ngày nay

+ Có một điểm đáng lưu ý nữa trong Quốc triều hình luật là một điều luật thường quy định nhiều tội phạm khác nhau và tuy các tội phạm không xâm phạm cùng một khách thể nhưng chúng lại liên hệ chặt chẽ với nhau nên rất thuận tiện cho việc xét xử Sở dĩ nhà làm luật quy định nhiều tội phạm khác nhau trong cùng một điều luật vì họ phát hiện ra hành vi phạm tội cụ thể xảy ra có thể liên quan đến trách nhiệm của người khác Ví dụ như Điều 170 quy định: “Trong khi tuyển đinh tráng làm quan đội, mà xã quan bỏ hạng người bậc nhất, bậc nhì để lấy người quá kém và đem người hèn yếu sung quân, nếu lấy …từ sáu đến chín người thì bị giảo Nếu lộ nào giấu giếm nhiều đinh tráng thì quan lộ bị biếm hay bị cách chức; nếu ngăn trở và che giấu thì bị tội đồ hoặc lưu Người khỏe mạnh hối lộ hay kêu xin để tránh khỏi

đi lính thì phải tội nặng, người nhận hối lộ mà tha cũng một tội, người đi xin giúp cho người khác khỏi đi lính bị tội nhẹ hơn hai bậc…” Một điều luật trên quy định tới năm tội trong lĩnh vực tuyển đinh tráng làm quân đội như sau: 1)

Trang 34

Tội bỏ hạng người bậc nhất, bậc nhì để lấy người hèn yếu sung quân; 2) Tội giấu giếm đinh tráng; 3) Tội đưa hối lộ để tránh khỏi đi lính; 4) Tội nhận hối

lộ để không bắt người đưa hối lộ đi lính; 5) Tội đi xin giúp cho người khác khỏi đi lính Hầu hết các điều luật về các tội phạm tham nhũng liệt kê ở trên quy định nhiều hành vi phạm tội của những người có chức vụ, trong một điều luật có thể có nêu cả hành vi thuộc nhóm tội tham nhũng và có cả các hành vi thuộc nhóm tội phạm chức vụ khác theo quy định trong BLHS hiện hành Việc quy định trên có thể không khoa học nhưng ở một khía cạnh nào đó nó vẫn có điểm tích cực Với cách quy định này thì những hành vi có liên quan được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với hành vi phạm tội chính Do đó, nhà làm luật dễ dàng xác định mức hình phạt phù hợp với mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội liên quan so sánh với hành vi phạm tội chính và tránh bỏ lọt tội phạm

+ Nghiên cứu các quy định về tội phạm tham nhũng trong Quốc triều hình luật cũng cho thấy sự phân hóa TNHS, cụ thể như:

 Phân hóa giữa TNHS của người phạm tội do cố ý và do vô ý hay lỗi lầm, trong đó người phạm tội do vô ý bị xử nhẹ hơn phạm tội

do cố ý

 Phân hóa TNHS theo địa vị xã hội Cùng một hành vi phạm tội, người có địa vị xã hội cao thuộc đối tượng “Bát nghị” được hưởng chính sách hình sự ưu đãi

2.2 Cấu thành tội phạm

Theo quan điểm của pháp luật hiện đại, khi nghiên cứu về mặt cấu trúc,

tội phạm có đặc điểm chung là đều được hợp thành bởi những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể cho phép nghiên cứu độc lập với nhau Những yếu tố đó, theo khoa học luật hình sự Việt Nam là chủ thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và

Trang 35

khách thể của tội phạm Như vậy, tội phạm được hợp thành bởi 4 yếu tố Bất

cứ tội phạm nào, không phụ thuộc vào loại tội phạm cũng như mức độ nghiêm trọng đều được cấu thành từ 4 yếu tố đó [41, tr.75]

Tất cả các trường hợp phạm tội của tội phạm nhất định đều có những nội dung biểu hiện giống nhau ở cả bốn yếu tố Những biểu hiện giống nhau

đó được coi là những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng của tội phạm nhất định Khi quy định tội phạm trong luật, nhà làm luật phải sử dụng các dấu hiệu này để mô tả tội phạm Trong khoa học luật hình sự, sự mô tả này được gọi là cấu thành tội phạm [41, tr.79]

Có thể hiểu “CTTP là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý (khách quan và chủ quan) do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội

cụ thể là tội phạm, tức là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Nói cách khác, một cấu thành thành tội phạm cụ thể là tổng hợp các dấu hiệu khách quan và chủ quan bắt buộc, mà dựa vào các dấu hiệu đó, nhà làm luật có thể xác định được tính chất tội phạm và tính chất bị xử phạt hay còn gọi là tính chất bị xử lý về hình sự của hành vi nguy hiểm cho xã hội tương ứng bị luật hình sự cấm, đồng thời chỉ ra hình phạt tương ứng áp dụng với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm ấy [48, tr.339]

Khi đề cập đến tội phạm, chúng ta cũng phải quan tâm đến hình phạt Dưới góc độ lý luận chung về pháp luật, hình phạt là một trong những yếu tố cấu thành của quy phạm pháp luật hình sự bao gồm: Giả định, quy định và chế tài (hình phạt) Trong đó có chế tài hình sự -hình phạt là một bộ phận của quy phạm pháp luật hình sự nêu lên những biện pháp tác động mà Nhà nước

dự định (dự kiến) sẽ áp dụng đối với chủ thể nào không thực hiện đúng mệnh lệnh, yêu cầu của Nhà nước đã nêu ở phần quy định của quy phạm pháp luật hình sự [49, tr.305]

Trang 36

Như vậy, để làm rõ các quy định về tội phạm tham nhũng được quy định trong Quốc triều hình luật trên căn cứ khoa học, luận văn sẽ phân tích về tội phạm tham nhũng quy định trong Quốc triều hình luật dựa trên phân tích

lý luận cấu thành tội phạm và hình phạt, căn cứ là các điều luật được liệt kê ở trên

2.2.1 Chủ thể

Theo quan điểm của pháp luật hình sự hiện đại, khái niệm chủ thể của tội phạm được hiểu như sau: “Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm theo luật định khi thực hiện hành vi phạm tội” [34, tr.132]

Xét về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 12 BLHS hiện hành nước ta quy định: “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; 2 Người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều

123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248,

249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này” Điều này cho thấy độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong BLHS năm

2015 phải từ đủ 14 tuổi trở lên Nhưng độ tuổi phải chịu tội trong Quốc triều hình luật không được đề cập cụ thể, nhưng tại Điều 16 quy định: “Những người từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống cùng những người bị phế tật, phạm tội từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc tội bằng tiền, phạm tội thập ác thì không theo luật này Từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống cùng những người

bị ác tật, phạm tội phản nghịch, giết người đáng phải tội chết thì cũng phải tâu

để vua xét định, ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộc, còn ngoài ra thì không bắt tội Từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dầu có bị tội chết cũng

Trang 37

không hành hình, nếu có kẻ nào xui xiểm thì bắt tội kẻ xui xiểm, nếu ăn trộm

có tang vật thì kẻ nào chứa chấp tang vật ấy phải bồi thường Nếu ai xét ra tình trạng đáng thương, hay tài năng đáng tiếc thì đặc cách cho được khỏi thích mặt” Điều này cho thấy trong Quốc triều hình luật ngầm quy định độ tuổi tối thiểu bị xử lý hình sự là 7 tuổi trở lên Đồng thời, đối với người già và trẻ em đều có chính sách khoan hồng, thể hiện tính nhân đạo trong các quy định ở Quốc triều hình luật Như vậy, nếu so sánh với pháp luật hình sự hiện hành thì độ tuổi tối thiểu phải chịu TNHS được quy định trong Quốc triều hình luật là nhỏ hơn nhiều

Chủ thể của một số tội phạm ngoài năng lực trách nhiệm hình sự thì còn đòi hỏi thêm dấu hiệu đặc biệt khác bởi vì chủ thể chỉ có thể thực hiện được hành vi phạm tội của các tội này khi có các dấu hiệu đặc biệt đó Những chủ thể này được gọi là những chủ thể đặc biệt Ví dụ, chủ thể của các tội phạm về tham nhũng được quy định từ Điều 353 đến Điều 359 trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 là chủ thể đặc biệt, đó là những người có chức

vụ, mà cụ thể “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ” (Khoản 2- Điều 352 – BLHS năm 2015)

Đối chiếu với các quy định trong Quốc triều hình luật cho thấy rằng, phần lớn chủ thể của tội phạm tham nhũng được quy định trong Quốc triều hình luật cũng tương tự như trong pháp luật hình sự hiện đại, đó là chủ thể đặc biệt, là những người có quyền hành, có thể được gọi là “quyền cao chức trọng” trong xã hội phong kiến, như các quan lại, những người có trách nhiệm cất giữ của công

Cụ thể, chủ thể của các tội phạm về tham nhũng trong Quốc triều hình luật được liệt kê theo các chương như sau:

Trang 38

- Chương Vệ cấm: quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và các tội xâm hại đến hoàng thành, cung điện, tài sản và tính mạng của vua, hoàng tộc Trong đó có các tội phạm về tham nhũng mà chủ thể là những người như sau: Những người giữ cửa quan; Quan giữ đồn cửa sông; Sứ thần; Những cận thần (là bề tôi bên cạnh vua, chỉ quan nội giám, thị vệ); Quân lính đi tuần ban đêm;

- Chương Vi chế: quy định về sự trừng phạt đối với các hành vi sai trái của quan lại, các tội phạm về chức vụ Trong đó có các tội phạm về tham nhũng mà chủ thể là những người như sau: Người chủ ty giữ những xe hiệu và đồ ngự dụng; Viên quan sau khi đi công cán; Các quan ty, bậc công thần; Các quan tướng súy tại các phiên trấn; Người tướng hiệu; Xã quan, quan huyện; Những người quyền quý thế gia và các hoạn quan nội thần; Những người làm nhiệm vụ cử người; Xã quan, quan lộ, quan sảnh thu thuế; Quan lệnh phát thuế cho phi tần; Những người công sai; Những người coi chợ trong kinh thành; Những quan niêm phóng (quan mật tra); Những quan thu thuế; Những quan coi sóc người làm việc trong cung; Các quan sảnh, quan viện dâng sổ ghi những sự siêng hay lười của các viên chức dưới quyền; Những vị quan coi dốc việc chở đồ vật công; Những vị đại thần và bách quan trong kinh thành; Quan khâm sai

- Chương Quân chính: quy định về sự trừng phạt đối với các hành vi sai trái của tướng sỹ, các tội quân sự Trong đó có các tội phạm về tham nhũng trong lĩnh vực quân sự này, mà chủ thể là những người như sau: Những quan tướng hiệu cai quản từ ba vạn quân trở xuống, 50 lính trở lên; Những người giữ kho vũ khí; Những quan tướng hiệu, các chánh phó ngũ trưởng cai quản quân đội; Các quan trấn thủ; Những người cai quản quân dân; Tướng lĩnh quân đội; Đội trưởng và chánh phó ngũ trưởng trong bản đội

Trang 39

- Chương Hộ hôn: quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình Trong đó có các tội phạm về tham nhũng trong lĩnh vực này, mà chủ thể là những người như sau: Những thuộc quan của các vương công hay công chúa; Những người cai quản dân đinh; Người khai dân dinh; Người đánh thuế hay bắt sai dịch; Quan coi việc thu thuế; Các quan sảnh, viện trình sổ điệu phát của các làng xã; Những tôi tớ của nhà công hầu (hoặc của công chúa)

- Chương Điền sản: quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa Trong

đó có các tội phạm về tham nhũng trong lĩnh vực này với chủ thể là những người như sau: Các quan lộ, huyện, xã; Người thu thuế ruộng; Người tâu thuế (lộ huyện xã quan); Các nhà quyền quý; Người quản giám; Quan giữ việc bắt trộm cướp;

- Chương Trá ngụy: Chủ thể của các tội phạm về tham nhũng là những người sau: Tướng hiệu tâu số quân lính trốn hay chết; Người khám nghiệm

- Chương Tạp luật: Chủ thể của các tội phạm về tham nhũng là chủ thể sau: Những quan giám lâm, chủ thủ; người coi giữ của công; Người trông coi chế tạo những đồ ngự dụng; quan chủ ty giám đương cai quản dân phu thợ thuyền; Quan trông nom bến đò qua sông; Những người làm việc trong ngự trù và người bếp các nhà quyền thế; Người chăn nuôi gia súc của công; Các quan đại thần, quan hành khiển cùng các quan coi ngục tụng; Các quan cai quản quân dân; Các quan ty

- Chương Đoán ngục: quy định về việc xử án, giam giữ can phạm Chủ thể của các tội phạm về tham nhũng trong lĩnh vực này bao gồm những người sau: Viên coi ngục; Ngục quan xét hỏi; Các hình ngục quan xử án; Ngục giám, ngục lại; Người cáo giác việc công (hình quan và ngục quan)

Trang 40

Căn cứ vào những liệt kê trên cho ta thấy chủ thể của các tội phạm tham nhũng được quy định trong Quốc triều hình luật khá đa dạng Các chủ thể tội tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn trong hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội phong kiến xưa Trong lịch sử phong kiến thời

Lê sơ, đã ghi nhận nhiều trường hợp quan lại tham nhũng, nhận hối lộ mà bị phát hiện và xử lý Qua ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, có tham chiếu với các bô sử thời Nguyễn là Khâm định Việt sử thông giam cương mục và Việt sử cương mục tiết yếu, giúp xây dựng được số liệu đáng tin cậy về những vụ tham nhũng thời Lê sơ Xét trong 100 năm tồn tại của nhà Lê sơ, đã thống kê được khoảng hơn 30 vụ việc lớn nhỏ liên quan tới tham nhũng, hối

lộ của quan lại, tôn thất nhà Lê sơ Xếp theo tiến trình thời gian, hơn 30 vụ việc liên quan đến tham nhũng, hối lộ thuộc về 40 năm đầu thời Lê sơ [31, tr.58-59)

Trong thời trị vì của vua Lê Thái Tổ (1428 – 1433) ghi nhận có vụ tham nhũng của Cầm Quý như sau “Quý là người tham lam, tàn bạo, cấm dân không được trồng trọt tranh với mình, xây dựng cung thất lớn, lấy đồng làm cột, vợ cả vợ lẽ phải kể hàng trăm, bắt dân đóng góp nặng, nói láo là để nộp cống, nhưng thực ra là vơ vét hết về mình Thái Tổ định giết hắn, nhưng vì bấy giờ còn đương có việc, nên chưa rảnh tính đến” [16, tr.356]

Năm Giáp Dần (1434), Tuyên phủ sứ Nguyễn Tông Trụ trong chuyến

đi sứ sang nhà Minh cầu phong cho vua Lê Thái Tông không giữ được thể diện của kẻ đại diện nhà nước Ngược lại, y còn nhận riêng đồ lễ của quan nhà Minh ở đất Long Châu rồi tiết lộ việc Lê Thái Tổ vì nghe lời gièm pha mà giết hại các công thần Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo cho viên quan Lã Hồi của Long Châu biết Không chỉ phạm tội lợi dụng vị trí sứ thần để tư túi riêng cho bản thân ở nước người, Tông Trụ còn phạm cả tội làm lộ bí mật quốc gia [32]

Ngày đăng: 17/03/2021, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w