Theo quy định của Bộ Luật hình sự hiện hành, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN LONG NHI
PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
VÒ TéI G¢Y RèI TRËT Tù C¤NG CéNG
Vµ THùC TIÔN XÐT Xö TR£N §ÞA BµN TØNH §åNG TH¸P
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN LONG NHI
PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
VÒ TéI G¢Y RèI TRËT Tù C¤NG CéNG
Vµ THùC TIÔN XÐT Xö TR£N §ÞA BµN TØNH §åNG TH¸P
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH LÊ VĂN CẢM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được côn bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Long Nhi
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm an toàn công cộng, trật tự công cộng 8
1.2 Khái niệm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng 10
1.3 Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng 16
1.4 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm gần giống trong pháp luật hình sự Việt Nam 19
1.4.1 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội phá rối an ninh 19
1.4.2 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội đua xe trái phép 21
1.4.3 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội chống người thi hành công vụ 22
1.4.4 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 23
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP 26 2.1 Thực trạng các quy định có liên quan của Bộ luật hình sự
Trang 52.1.1 Các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội gây rối trật tự công cộng 26 2.1.2 Hình phạt 33 2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp 37 2.3 Tình hình và kết quả xét xử tội gây rối trật tự công cộng của
ngành Tòa án tỉnh Đồng Tháp 38 2.3.1 Tình hình xét xử tội gây rối trật tự công cộng của ngành Tòa án
tỉnh Đồng Tháp 38 2.3.2 Kết quả xét xử tội gây rối trật tự công cộng của ngành Tòa án
tỉnh Đồng Tháp 42 2.4 Một số tồn tại, vướng mắc trong hoạt động xét xử tội gây rối
trật tự công cộng của ngành Tòa án tỉnh Đồng Tháp 47 2.5 Nguyên nhân của tồn tại, vướng mắc trong hoạt động xét xử
tội gây rối trật tự công cộng của ngành Tòa án tỉnh Đồng Tháp 53
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ TỘI GÂY RỐI TRẬT
TỰ CÔNG CỘNG Ở TỈNH ĐỒNG THÁP 58 3.1 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của
bộ luật hình sự Việt Nam về tội gây rối trật tự công cộng 58 3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam về tội gây rối trật tự công cộng 58 3.1.2 Ý nghĩa của việc hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam về tội gây rối trật tự công cộng 60 3.2 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện
hành về tội gây rối trật tự công cộng 61 3.2.1 Nhận xét chung 61 3.2.2 Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể 64
Trang 63.3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử tội gây rối trật tự
công cộng 66 3.3.1 Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích các quy định của Bộ
luật hình sự trong tương quan với các văn bản pháp luật khác về hành vi gây rối trật tự công cộng 66 3.3.2 Kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực, trình độ chuyên
môn, đạo đức nghề nghiệp, đổi mới tác phong làm việc của Thẩm phán và cán bộ, công chức trong ngành Tòa án 67 3.3.3 Nâng cao năng lực trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân 69 3.3.4 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân 70 3.3.5 Phối hợp các cơ quan, tổ chức với các cơ quan bảo vệ pháp luật
và Tòa án để phòng ngừa, ngăn chặn và xét xử nghiêm minh tội gây rối trật tự công cộng 71 3.3.6 Đẩy mạnh công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử của ngành Tòa
án làm cơ sở cho hoạt xét xử vụ án hình sự nói chung, vụ án gây rối trật tự công công nói riêng được thực hiện thống nhất 72 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7Bảng 2.2: Tổng số vụ, số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội gây rối trật tự
công cộng trong 5 năm (2009 - 2013) 43 Bảng 2.3: Tổng số vụ án, số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội gây rối trật tự
công cộng trong tương quan với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong 5 năm (2009 - 2013) 44 Bảng 2.4: Phân tích đặc điểm nhân thân của các bị cáo đưa ra xét xử
về tội gây rối trật tự công cộng trong 5 năm (2009 - 2013) 45
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ thể hiện tình hình hoạt động xét xử các vụ án
hình sự của ngành Tòa án tỉnh Đồng Tháp thời gian từ
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ thể hiện tình hình xét xử tội gây rối trật tự
công cộng của ngành Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong
Biểu đồ 2.3 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ xét xử các vụ án về gây rối trật
tự công cộng và vụ án hình sự của ngành Tòa án tỉnh
Biểu đồ 2.4 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ số bị cáo đưa ra xét xử về tội
gây rối trật tự công cộng và số bị cáo đưa ra xét xử trong các vụ án hình sự của ngành Tòa án tỉnh Đồng
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bộ Luật hình sự được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 được coi là một trong những công
cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh [1, tr.2]
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, trong những năm qua, đời sống kinh tế xã hội có những thay đổi đáng kể, từ đó có những tác động tích cực đến đời sống nhân dân cả nước Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, chúng ta không thể không thấy những nguy cơ và thách thức to lớn đặt ra với toàn Đảng và toàn dân về trong sự phát triển nói chung đó, đặc biệt
là sự gia tăng của các loại tội phạm ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, và một số tỉnh, thành khác trong đó có tỉnh Đồng Tháp
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ năm 2009 đến năm 2013, ở tỉnh Đồng Tháp có tổng số vụ phạm pháp luật hình sự là 4.081, trong đó hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng là 67 vụ, chiếm 1.64% tổng số vụ án hình sự đưa ra xét xử Bên cạnh đó, dưới góc độ thực tiễn xét xử cho thấy nếu năm 2011, tổng số vụ án về tội gây rối trật tự công cộng đưa ra xét xử
Trang 1015 vụ và 47 bị cáo; năm 2012 là 13 vụ và 50 bị cáo; năm 2013 là 16 vụ và
61 bị cáo Qua kết quả xét xử nói trên cho thấy, giữa các năm có sự khác nhau về số vụ nhưng số bị cáo ngày càng gia tăng với quy mô, mức độ ngày càng nghiêm trọng [43]
Trước tình hình đó, các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Tháp đã tập trung lực lượng xử lý loại tội phạm gây rối trật tự công cộng và đã đạt nhiều kết quả đáng kể Tuy nhiên, công tác xét xử các vụ án gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp còn có những hạn chế và gặp nhiều khó khăn Do đó, vấn đề này ở Đồng Tháp cần được nghiên cứu, tổng kết một cách toàn diện,
có hệ thống Thông qua việc nghiên cứu sẽ xác định được các nguyên nhân làm hạn chế công tác xét xử đối với các tội gây rối trật tự công cộng Trên cơ
sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả xét xử đối với loại tội
phạm này Với những lý do trên, tôi chọn “Pháp luật hình sự Việt Nam về tội
gây rối trật tự công cộng và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp”
làm luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu và điểm mới khoa học của luận văn
Chương XIX Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Trong đó các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội gây rối trật tự công cộng
đã được một số nhà khoa học - luật gia hình sự quan tâm nghiên cứu và được thể hiện ở một số sách chuyên khảo, tham khảo, bình luận và giáo trình đại học, chẳng hạn như:
1 GS.TS Đỗ Ngọc Quang, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự công cộng; Trong sách: "Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam (Phần các tội phạm)", do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003
2 GS.TS Võ Khánh Vinh, Chương X - Các tội xâm phạm an toàn công
Trang 11cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần
các tội phạm)", do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2001
3 GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương XXV - Các tội xâm phạm an
toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam", (Tập II), do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010
4 TS Phạm Văn Beo, Bài 10 - Các tội xâm phạm an toàn công cộng,
trật tự công cộng, Trong sách: "Luật hình sự Việt Nam" (Quyển 2 - Phần các
tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010
5 TS Trương Quang Vinh, Bình luận các điều 241 đến 256, Trong sách: "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999" (tái bản có
sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008
6 TS Trần Minh Hưởng (chủ biên), TS Đỗ Đức Hồng Hà, TS Trịnh
Tiến Việt và tập thể tác giả, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Tìm hiểu Bộ luật hình sự nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những văn bản hướng dẫn thi hành", Nxb Lao động, Hà Nội, 2010
7 TS Trần Minh Hưởng, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002
8 TS Nguyễn Đức Mai, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999", Tập thể tác giả, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001
9 ThS Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự
- Phần các tội phạm, Tập VI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2005
10 Luật gia Nguyễn Thanh Hải, tội gây rối trật tự công cộng trong
Trang 12Luật hình sự Việt Nam, do TS.Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Nxb Công an
nhân dân, 2010
11 Vũ Thế Công, Trật tự công cộng và một số biện pháp phòng chống
gây rối trật tự công cộng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2007
12 Nguyễn Thanh Hải, tội gây rối trật tự công cộng trong Luật hình sự
Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, năm 2010
13 Phan Vũ Linh, phòng ngừa tội gây rối trật tự công cộng trên địa
bàn thành phố Cần Thơ, Luân văn Thạc sỹ luật học, 2011
Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy: một số công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, trong đó tội gây rối trật tự công cộng chỉ là một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu của tác giả nên chưa được phân tích sâu về mặt lý luận và thực tiễn; có công trình chỉ xem xét tội gây rối trật tự công cộng với ý nghĩa là một tội phạm để bình luận các dấu hiệu pháp lý hình
sự và hình phạt hoặc chỉ xem xét dưới góc độ tội phạm học - phòng ngừa cả nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng; có công trình nghiên cứu tội gây rối trật tự công cộng nhưng đã được tiến hành cách đây khá lâu, do vậy giá trị về lý luận và thực tiễn không cao
Đối với tỉnh Đồng Tháp, cho tới nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về tội gây rối trật tự công cộng gắn với thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh
Đồng Tháp Do đó việc nghiên cứu Pháp luật hình sự Việt Nam về tội gây rối
trật tự công cộng và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp ở cả góc độ
luật hình sự và tội phạm học là một đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, phục vụ trực tiếp cho địa bàn tỉnh Đồng Tháp
3 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích thực
Trang 13trạng xét xử đối với tội gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp,
từ đó chỉ ra các hạn chế bất cập còn tồn tại và đề xuất những phương hướng, các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao vai trò của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong việc áp dụng pháp luật để xét xử các vụ án về gây rối trật tự công cộng, góp phần tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về tội gây rối trật tự công cộng
- Khảo sát, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật về trật tự công cộng trong những năm gần đây và công tác xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với loại tội phạm này, tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử tội gây rối trật tự công cộng của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Pháp luật hình sự Việt Nam về tội gây rối trật tự công cộng và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Một số vấn đề chung về tội gây rối trật tự công cộng theo pháp luật
hình sự Việt Nam
- Thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Đồng Tháp
- Những giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
xét xử tội gây rối trật tự công cộng ở tỉnh Đồng Tháp
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về xây dựng Nhà nước và
Trang 14pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm; quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh chống tội phạm nói chung; thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như lịch sử pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một
số nhà khoa học pháp lý chuyên ngành
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin về trật tự công cộng và hành vi gây rối trật tự công cộng; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác bảo vệ trật tự xã hội
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn nghiên cứu của luận văn
5.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về tội gây rối trật tự công cộng trong Luật hình sự Việt Nam, phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác hay có sự nhầm lẫn trong thực tiễn; làm sáng tỏ các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội gây rối trật tự công cộng và thực tiễn xét xử ở tỉnh Đồng Tháp (2009-2013) Qua đó, chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành và các sai sót trong quá trình áp dụng để tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự trong việc xét xử tội gây rối trật tự công cộng ở khía cạnh lập pháp và thực tiễn
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, có thể sử dụng
để nghiên cứu, học tập Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp
Trang 15những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn
áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến tội gây rối trật tự công cộng, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội gây rối trật tự công cộng theo
pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực trạng các quy định có liên quan của Bộ luật Hình sự
năm 1999 và thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự công cộng
tại tỉnh Đồng Tháp
Chương 3: Một số phương pháp trong quá trình hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả xét xử tội gây rối trật tự công cộng ở tỉnh Đồng Tháp
Trang 16Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ
CÔNG CỘNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm an toàn công cộng, trật tự công cộng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã viết:
Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật
tự, an toàn xã hội [18, tr.7]
Muốn thực hiện được nhiệm vụ quan trọng này, trước tiên phải xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, bảo đảm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Bởi lẽ,
"pháp chế như là tính thiêng liêng của pháp luật, tính bền vững của các quy phạm pháp lý Pháp chế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật, với bình đẳng và với sự tuân thủ luật pháp, không một ai, không một người nào có bất
kỳ một đặc quyền nào trước pháp luật [58, tr.100-102]
Đồng thời, phải tổ chức được mọi tầng lớp nhân dân cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm mọi hành động xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, trật tự công cộng, an toàn xã hội đều bị xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội [58, tr.10]
Luật hình sự với tư cách là một ngành luật duy nhất trong hệ thống
Trang 17pháp luật của Nhà nước quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là các tội phạm và danh mục hình phạt và các biện pháp pháp lý hình sự cần áp dụng đối với những người đã thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội đó Luật hình sự đã xác định các khách thể cần được xác lập và bảo vệ trong Điều
1 Bộ luật hình sự Do đó, với tư cách là khách thể quan trọng được luật hình
sự bảo vệ, đòi hỏi phải làm rõ hai phạm trù "an toàn công cộng" và "trật tự
công cộng" [44, tr.11-12]
Theo từ điển Tiếng Việt thì ‚‘‘an toàn" được hiểu: "Yên ổn hoàn toàn
không nguy hiểm" [50, tr.26], còn "công cộng" được hiểu là "chung cho hoặc thuộc về mọi người" [50, tr.345] Do vậy, "an toàn công cộng" có thể hiểu là
trạng thái ổn định, hoàn toàn không có nguy hiểm đối với mọi người xung quanh hoặc an toàn xã hội đối với mọi người
Theo Từ điển Luật học thì trật tự công cộng là:
Trạng thái ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát được tổ chức sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh Quy tắc bắt buộc phải tuân theo để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, thể hiện toàn bộ yêu cầu cơ bản của xã hội về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội [49, tr.809]
Như vậy, xét riêng trong lĩnh vực chung của xã hội, an toàn công cộng, trật tự công cộng được coi là điều kiện bảo đảm cho mọi công dân có cơ hội tồn tại, phát triển và sử dụng tốt năng lực, cống hiến của mình để xây dựng một xã hội văn minh, dân chủ, giàu đẹp, có cuộc sống ấm no, bình đẳng, tiến
bộ và hạnh phúc Cho nên, dưới bất kỳ hình thức nào, bằng cách này hay cách khác, việc giữ gìn và bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng không
Trang 18những là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Nhà nước, mà đến lượt mình, Nhà nước lại đòi hỏi tất cả các cơ quan, tổ chức và mọi công dân phải tuân thủ một cách nghiêm túc pháp luật và các quy tắc của cuộc sống
xã hội xã hội chủ nghĩa Cho nên, dưới góc độ pháp lý, tất cả các hành vi xâm
phạm "an toàn công cộng, trật tự công cộng" đều gây nên những thiệt hại
nhất định cho cuộc sống bình thường của công dân cần thiết phải bị xử lý, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm mà áp dụng hình thức xử lý khác nhau từ xử phạt hành chính đến xử lý hình sự [44, tr.13]
1.2 Khái niệm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng không chỉ bằng việc ban hành hàng loạt các văn bản có liên quan đến lĩnh vực này, mà còn có những biện pháp thiết thực để đưa các văn bản đó vào thực tiễn cuộc sống Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã nhấn
mạnh: "Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi
ích công cộng" (Điều 78) và "Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và
pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí
mật quốc gia, chấp hành những quy tắc của sinh hoạt công cộng" (Điều 79) Nói một cách khác, tôn trọng và bảo vệ,
An toàn công cộng, trật tự công cộng là một trong những thước đo, tiêu chí để đánh giá sự ổn định của xã hội, đánh giá sức mạnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật, khả năng quản lý của các
cơ quan, tổ chức, đồng thời nó cũng đánh giá được ý thức pháp luật, văn minh pháp lý của công dân [22, tr.439]
Nhằm từng bước nâng cao nhận thức của toàn xã hội về trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm; tạo lập cơ chế phối hợp đồng bộ, phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tham
Trang 19gia phòng, chống tội phạm; từng bước kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm, làm giảm một số loại tội phạm nghiêm trọng; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngày 31/7/1998, Chính phủ ban hành Nghị
quyết số 09/1998/NQ-CP về Tăng cường công tác phòng, chống tội phạm
trong tình hình mới; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
138/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 09/CP và Chương trình quốc
gia phòng, chống tội phạm từ nay đến năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra
Chỉ thị số 37/2004/Ct-TTg "Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số
09/1998/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010" ngày 08/11/2004, trong đó nhấn mạnh:
Một là, về mục tiêu, yêu cầu:
1 Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống, tạo ra môi trường xã hội ổn định phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Giữ vững kỷ cương pháp luật, sự nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa [13]
Hai là, về chủ trương, biện pháp:
3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Nghị quyết số 09/CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm để mọi người dân nhận thức đầy đủ và tự giác thực hiện quyền lợi và nghĩa
vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; kịp thời biểu dương những gương người tốt, việc tốt và các điển hình tiên tiến trong phong trào toàn dân phòng, chống tội phạm
6 Tiếp tục thực hiện bốn đề án của Chương trình là: Phát
Trang 20động toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm; cảm hóa, giáo dục, cải tạo người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư; Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tội phạm, tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật và trách nhiệm công dân về bảo vệ an ninh trật tự; Đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm hình sự nguy hiểm và tội phạm có tính quốc tế; Đấu tranh phòng, chống các loại tội xâm hại trẻ em; tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên [13]
Nghiên cứu, xây dựng trình Chính phủ bổ sung một số đề án,
dự án, chương trình hành động nhằm tập trung giải quyết những
vấn đề bức xúc mới nổi lên về an ninh trật tự và nâng cao năng lực
hoạt động phòng, chống tội phạm Đẩy mạnh công tác nghiên cứu tội phạm học và khoa học phòng, chống tội phạm Nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, nghiên cứu dự báo tình hình tội phạm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế [13]
Theo quy định của Bộ Luật hình sự hiện hành, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh; trật tự, an toàn xã hội; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự
do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [37, tr.6]
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nhấn mạnh: “Công dân có nghĩa vụ
tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng” [34, tr.26]
An toàn công cộng, trật tự công cộng được coi là điều kiện bảo đảm cho mọi
Trang 21công dân có cơ hội tồn tại, phát triển và sử dụng tốt năng lực, cống hiến của mình để xây dựng một xã hội văn minh, dân chủ, giàu đẹp, có cuộc sống ấm
no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc Các hành vi xâm phạm "an toàn công
cộng, trật tự công cộng" đều gây nên những thiệt hại nhất định cho cuộc sống
bình thường của công dân và cần thiết phải bị xử lý, tùy theo tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi vi phạm mà áp dụng hình thức xử lý khác nhau từ
xử phạt hành chính đến xử lý hình sự
Để bảo vệ "an toàn công cộng, trật tự công cộng" với tư cách là khách
thể quan trọng được luật hình sự xác lập và bảo vệ, ngay từ Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta năm 1985, nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công
cộng được xếp chung tại Chương VIII: "Các tội xâm phạm an toàn, trật tự
công cộng, trật tự quản lý hành chính" với ba nhóm quan hệ xã hội được luật
hình sự xác lập và bảo vệ - an toàn công cộng, trật tự công cộng và trật tự quản
lý hành chính Quá trình áp dụng pháp luật cho thấy, các tội phạm được quy định ở chương này có các khách thể loại khác nhau Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng xâm phạm vào những quy định, quy tắc bảo đảm
an toàn, trật tự trong cuộc sống của mọi công dân Còn các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính xâm phạm vào hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội Mặt khác, nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng chiếm số lượng lớn nhất so với các loại tội phạm ở các chương khác Bộ luật hình sự, do đó, cần phải tách riêng nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng với nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành
chính Vì vậy, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định Chương XIX - "Các tội xâm
phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng" để làm cơ sở pháp lý để truy cứu
trách nhiệm hình sự những người có hành vi xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng, qua đó gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm đến các hoạt động
Trang 22Tuy nhiên dưới góc độ khoa học, về khái niệm "các tội xâm phạm an
toàn công cộng, trật tự công cộng" có nhiều quan điểm khác nhau
Có tác giả quan niệm:
Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định tại Chương XIX của Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của nhân dân, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và của cá nhân [51, tr.401] Quan điểm này nêu tương đối đầy đủ nội dung, nhưng trong dấu hiệu
chủ thể của nhóm tội phạm này còn chưa nêu dấu hiệu "đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự", vì đây là một dấu hiệu hoàn toàn khác với dấu hiệu "có năng
lực trách nhiệm hình sự"
Cũng có tác giả quan niệm:
Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm vào những quy định của nhà nước về an toàn, trật tự công cộng trong các lĩnh vực giao thông vận tải, phòng cháy chữa cháy, tin học, lao động sản xuất, quản lý vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, và trong những lĩnh vực khác của trật tự xã hội gây nên những thiệt hại về tính mạng, tổn hại đến sức khỏe, tài sản của Nhà nước và của công dân [29, tr.494]
Quan điểm này có nhân tố hợp lý là đã phân loại đầy đủ và chi tiết từng nhóm tội xâm phạm đến các lĩnh vực khác nhau liên quan đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, tuy nhiên lại chưa thấy nêu dấu hiệu chủ thể của nhóm tội phạm này trong khái niệm đã nêu
Trang 23Tác giả khác lại cho rằng:
Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây
ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng [22, tr.439]
Quan điểm này nêu tương đối đầy đủ nội dung, trong đó nhấn mạnh thêm việc các hành vi xâm phạm đến cả "hoạt động bình thường ở những nơi công cộng, nhưng trong dấu hiệu chủ thể của nhóm tội phạm này còn
chưa nêu dấu hiệu "đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự" như quan điểm đã nêu
trên, vì đây là một dấu hiệu hoàn toàn khác với dấu hiệu "có năng lực trách nhiệm hình sự"
Mặc dù, về khái niệm "các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng" trong khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau, song tựu
trung lại tổng hợp các quan điểm đó vẫn thống nhất trong việc nêu ra bản chất
pháp lý của nhóm tội phạm này Dưới góc độ khoa học luật hình sự, các tội
xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng bao gồm các quy phạm pháp luật hình sự, quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người
có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về
an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, đồng thời còn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng
Trang 24Từ khái niệm trên, có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản của nhóm tội này như sau:
Một là, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, đồng thời còn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng
Hai là, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là những
hành vi nguy hiểm cho xã hội do những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện
Ba là, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được
những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, không có mục đích chống chính quyền nhân dân
1.3 Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng
Để làm sáng tỏ khái niệm tội gây rối trật tự công cộng, trước hết chúng
ta cần làm sáng tỏ khái niệm tội phạm như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [37, Điều 8]
Trang 25Tội gây rối trật tự công cộng là một loại tội phạm được quy định trong
Bộ luật hình sự, do vậy để đưa ra khái niệm tội gây rối trật tự công cộng, cần được nhìn nhận dưới góc độ khái niệm chung của tội phạm Tuy nhiên, nghiên cứu vấn đề này trong khoa học luật hình sự Việt Nam còn nhiều quan điểm khác nhau
Có tác giả cho rằng:
Gây rối trật tự công cộng là nhóm các hành vi xâm phạm trật
tự công cộng được Nhà nước bảo vệ bằng quy định điều luật trong pháp luật hình sự và đáng bị trừng phạt theo những quy định của điều luật này [9, tr.25] hoặc có tác giả khác lại định nghĩa, xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi làm phá vỡ sự ổn định của trật tự công cộng, vi phạm pháp luật, văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán đảm bảo trật tự công cộng làm cản trở hoạt động bình thường, tuần tự của mọi người tại không gian công cộng [9, tr.25] Quan điểm này có ưu điểm là đã nêu bật được khách thể của tội phạm xâm phạm đến, nhưng vẫn chưa nêu cụ thể hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này
Quan điểm khác cho rằng: "Gây rối trật tự công cộng là hành vi làm
náo loạn trật tự nơi công cộng" [2, tr.13] Quan điểm này mới chỉ nêu định
nghĩa hành vi gây rối trật tự công cộng chứ chưa làm rõ khái niệm tội gây rối trật tự công cộng, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 Bộ luật hình sự năm
1999 được sửa đổi, bổ sung 2009
Ngoài ra, có quan điểm dựa trên căn cứ là các quy định của Bộ luật
hình sự năm 1999 (Điều 245) để định nghĩa: "Tội gây rối trật tự công cộng là
hành vi gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa
Trang 26án tích mà còn vi phạm" [37, tr.7] Quan điểm này có điểm hợp lý là phù hợp
với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, nhưng trong khái niệm cũng vẫn thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Tóm lại, khái niệm tội gây rối trật tự công cộng cần thể hiện được đầy
đủ các bình diện tương ứng với những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội
phạm đã nêu trên Do đó, khái niệm tội phạm này được định nghĩa như sau:
Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại cho trật tự an toàn công cộng do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc
đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Từ khái niệm nêu trên, có thể đưa ra các đặc trưng cơ bản của tội gây rối trật tự công cộng như sau:
Một là, tội gây rối trật tự công cộng nằm trong nhóm tội xâm phạm đến
an toàn công cộng, đến các quy tắc đi lại, làm việc, sinh hoạt, vui chơi, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh, quy tắc sống xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng, làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng Trong nhiều trường hợp hành vi gây rối trật tự công cộng còn đe dọa đến tài sản của Nhà nước, tổ chức, công dân; đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân Do đó, để có an toàn, trật tự công cộng - một trạng thái xã hội lành mạnh, ổn định, có tổ chức,
có kỷ luật đòi hỏi Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và mỗi thành viên trong xã hội phải có trách nhiệm xây dựng, thực hiện và bảo vệ các quy tắc của trật tự sinh hoạt chung trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Đi ngược lại điều này
là xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và bị xử lý theo quy định của pháp luật
Trang 27Hai là, tội gây rối trật tự công cộng là hành vi hò hét, làm náo động,
phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại cho trật tự an toàn công cộng, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã
bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Ba là, tội gây rối trật tự công cộng do người có đủ năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi với hình thức cố ý trực tiếp Người thực hiện tội gây rối trật tự công cộng không có mục đích chống chính quyền nhân dân
1.4 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm gần giống trong pháp luật hình sự Việt Nam
Qua thực tế xét xử đối với các nhóm tội nêu trên, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, còn sự nhầm lẫn giữa tội gây rối trật tự công cộng với một số tội như là tội phá rối an ninh, tội đua xe trái phép, tội chống người thi hành công vụ Vì vậy, khoa học luật hình sự cần xây dựng các tiêu chí cơ bản phân biệt hai tội phạm này nhằm chấm dứt tình trạng trên
1.4.1 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội phá rối an ninh
Tội phá rối an ninh được hiểu là hành vi kích động, lôi kéo, tụ tập đông người gây rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nhằm chống chính quyền nhân dân hoặc là những hành vi đồng phạm khác phá rối an ninh do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý [37, Điều 89]
Khách thể của tội phạm này là an ninh đối nội, trật tự an toàn xã hội, còn có thể là sức khỏe, tự do thân thể của con người, hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội Lỗi của tội này được thực hiện do cố ý, người phạm tội có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân Đây là dấu
Trang 28Như vậy, tội phá rối an ninh so sánh với tội gây rối trật tự công cộng cho có những điểm tương đồng như: khách thể chung của các tội này đều xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự xã hội, an toàn xã hội, hoạt động bình thường, ổn định của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội Hành vi khách quan đều là những hành vi gây rối, chống đối, cản trở Ngoài ra, chủ thể của các tội phạm này là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện và đều thực hiện lỗi cố ý trực tiếp Tuy
nhiên giữa hai tội này có một số điểm khác nhau như sau:
Đối với tội gây rối trật tự công cộng:
- Về khách thể trực tiếp: Xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc cuộc sống, gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của mọi người ở nơi công cộng Ngoài ra, có trường hợp còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong cơ quan Nhà nước và xã
hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng
- Mục đích phạm tội: Người phạm tội không có mục đích chống chính
quyền nhân dân, có thể là thỏa mãn mục đích cá nhân
- Địa điểm phạm tội: Nơi công cộng, đông người như nhà ga, bến xe,
rạp hát, đường phố; công viên; v.v
Đối với tội phá rối an ninh:
- Về khách thể trực tiếp: Xâm phạm an ninh chính trị, hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, xã hội với mục đích phá rối trật tự
an ninh, thể hiện bất mãn, hống hách, muốn chọc tức lãnh đạo và những người xung quanh mà gây rối, gây khó khăn cho hoạt động bình thường
của cơ quan, tổ chức
- Mục đích phạm tội: Người phạm tội có mục đích chống chính quyền
nhân dân
- Địa điểm phạm tội: Tập trung tại trụ sở các cơ quan Nhà nước, tổ
Trang 291.4.2 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội đua xe trái phép
Tội đua xe trái phép được quy định Điều 207 Bộ luật Hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, theo đó, tội đua xe trái phép là hành vi đua trái phép ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện
Tội đua xe trái phép và tội gây rối trật tự công cộng đều xâm phạm đến
an toàn công cộng, trật tự công cộng, đe dọa xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác
Hai tội này trong Bộ luật hình sự, ngoài điểm tương đồng còn có điểm khác biệt cơ bản là:
Tội gây rối trật tự công cộng
- Về khách thể trực tiếp: Xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc cuộc sống, gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của mọi người ở nơi công cộng Ngoài ra, có trường hợp còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong cơ quan Nhà nước và xã hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng
- Hành vi khách quan: Hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho trật tự công cộng
- Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Địa điểm phạm tội: Nơi công cộng, đông người như nhà ga, bến xe, rạp hát, đường phố; công viên; v.v
Trang 30 Tội đua xe trái phép:
- Về khách thể trực tiếp: Xâm phạm đến an toàn công cộng, đồng thời tội này còn đe dọa an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác cũng như gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng
- Hành vi khách quan: Hành vi đua trái phép ô tô, xe máy hoặc các loại
xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khỏe, tài sản của người khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn công cộng
- Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Gây thiệt hại cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã
bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Địa điểm phạm tội: Nơi công cộng nhưng chủ yếu trên các tuyến đường giao thông, tuyến phố lớn, đường quốc lộ, tỉnh lộ nhân những ngày lễ lớn hoặc khi có các sự kiện văn hóa, thể thao; v.v
1.4.3 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội chống người thi hành công vụ
Theo Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, tội chống người thi hành công vụ được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc người đó phải thực hiện hành vi trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý Tội chống người thi hành công vụ và tội gây rối trật tự công có một số điểm khác nhau cơ bản sau đây:
Đối với tội gây rối trật tự công cộng:
- Về khách thể trực tiếp: Xâm phạm đến trật tự chung, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc cuộc sống, gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của mọi người ở nơi công cộng Ngoài ra, có trường hợp còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong cơ quan Nhà nước và xã hội
Trang 31- Về hành vi khách quan: Hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho trật tự an toàn công cộng
- Về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Địa điểm phạm tội: Nơi công cộng, đông người như nhà ga, bến xe, rạp hát, đường phố, công viên; v.v
Đối với tội chống người thi hành công vụ:
- Về khách thể trực tiếp: Xâm phạm hoạt động công vụ của người thi hành công vụ, qua đó xâm phạm sự hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trong việc thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước
- Về hành vi khách quan: Hành vi dùng vũ lực cản trở, chống lại người thi hành công vụ; đe dọa dùng vũ lực cản trở, chống lại người thi hành công vụ; hành vi dùng thủ đoạn khác cản trở, chống lại người thi hành công vụ hoặc ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật
- Về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Không cần có hậu quả, nếu người phạm tội gây ra hậu quả thương tật thì bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội cố ý gây thương tích trong trường hợp để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm k khoản 1 Điều 104); nếu gây thiệt hại về tính mạng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người trong trường hợp để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công
vụ của nạn nhân
- Địa điểm phạm tội: Bất kỳ đâu
1.4.4 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trang 32được hiểu là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp do Bộ luật hình sự quy định, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý
(Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
so sánh với tội gây rối trật tự công cộng cho có những điểm tương đồng như: Đều xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người Hành vi khách quan của tội phạm này được thể hiện bằng hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp do Bộ luật hình sự
quy định Giữa hai tội phạm này có một số điểm khác nhau như sau:
Đối với tội gây rối trật tự công cộng:
- Về khách thể trực tiếp: Xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc cuộc sống, gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của mọi người ở nơi công cộng Ngoài ra, có trường hợp còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong cơ quan nhà nước và xã
hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng
- Hành vi khách quan: Hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những
nơi công cộng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho trật tự an toàn công cộng
- Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này,
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Địa điểm phạm tội: Nơi công cộng, đông người như nhà ga, bến xe,
rạp hát, đường phố; công viên; v.v
Trang 33 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
- Về khách thể trực tiếp: Xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người;
- Hành vi khách quan: Hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp đã nêu ở trên
- Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Gây thương tích với tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên, hoặc dưới 11% phải thuộc một trong các trường hợp: a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; d) Đối với trẻ em, người già yếu, phụ nữ đang có thai, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Có tổ chức; f) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; g) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; h) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; i) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
- Địa điểm phạm tội: Bất kỳ đâu
Như vậy, mặc dù tội gây rối trật tự công cộng nhìn ở góc độ này hay góc độ khác có những điểm tương đồng so với tội phá rối an ninh, tội đua xe trái phép, tội chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác nhưng giữa chúng có các sự khác biệt cơ bản thông qua hành vi phạm tội, lỗi, hậu quả, địa điểm phạm tội Việc phân biệt này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn khi xét xử đối với hành vi gây rối trật tự công cộng, đảm bảo đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, góp phần nâng cao pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 342.1.1 Các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội gây rối trật tự công cộng
Việc làm rõ khái niệm và phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội gây rối trật tự công cộng qua các yếu tố cấu thành tội phạm - khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, cụ thể như sau:
* Khách thể của tội phạm
Tội gây rối trật tự công cộng xâm phạm trực tiếp đến những quy tắc, luật lệ, điều lệ, nội quy về trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc cuộc sống, gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của mọi người
ở nơi công cộng
Ngoài ra, tội gây rối trật tự công cộng còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong cơ quan Nhà nước và xã hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng
* Mặt khách quan của tội phạm
Tội gây rối trật tự công cộng thể hiện bằng hành vi gây rối trật tự công cộng được mô tả trong điều luật là hành vi của một người có lời nói, cử chỉ tiếp xúc với người khác ở nơi công cộng với thái độ tỏ ra coi thường trật tự xã hội chung, gây mất trật tự hoặc là những hành vi càn quấy, hành hung người khác nhưng chưa gây thương tích, gây lộn xộn, náo loạn ở nơi công cộng như: rạp hát, vườn hoa, nhà ga, bến tàu, công viên, quảng trường; v.v
Trang 35Nơi công cộng là những chỗ tập trung đông người như rạp hát, rạp chiếu bóng, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, trụ sở cơ quan, xí nghiệp, các tổ chức xã hội,
doanh nghiệp, hợp tác xã, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu,
bến xe, trên các phương tiện giao thông, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác có những quy tắc thành văn hoặc bất thành văn mà buộc mọi người có mặt phải có văn hóa ứng xử và chấp hành, tôn trọng người khác
Trong mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng cần chú ý các trường hợp sau:
- Trường hợp một người có hành vi gây rối trật tự công cộng, xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự xã hội, an toàn xã hội, hoạt động bình thường, ổn định của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, nhưng có mục đích chống chính quyền nhân dân, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phá rối an ninh (Điều 89 Bộ luật hình sự);
- Trường hợp một người ngoài có hành vi gây rối trật tự đã cấu thành tội phạm còn có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác thì người phạm tội còn có thể bị xử lý thêm về các tội giết người (Điều 93), tội cố ý gây thương tích (Điều 104) hoặc tội hủy hoại tài sản (Điều 143 Bộ luật hình sự);
- Trường hợp một người có hành vi gây rối trật tự công cộng nhằm chống người thi hành công vụ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ (Điều 257 Bộ luật hình sự);
- Trường hợp một người có hành vi đua xe trái phép gây náo loạn đường phố, gây dư luận xã hội xấu, trật tự công cộng bị xâm phạm nghiêm trọng đủ để cấu thành tội gây rối trật tự công cộng nhưng chưa đủ dấu hiệu pháp lý cấu thành tội đua xe trái phép thì hành vi đó phải bị xử lý về tội gây
Trang 36rối trật tự công cộng Trường hợp hành vi đua xe trái phép thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội gây rối trật tự công cộng, đồng thời còn thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội đua xe trái phép thì chỉ bị xử lý về tội đua xe trái phép (Điều
207 Bộ luật hình sự)
Điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự một người về tội gây rối trật
tự công cộng đòi hỏi hành vi gây rối trật tự công cộng phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án
về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Tuy nhiên, như thế nào là "gây hậu quả nghiêm trọng" mặc dù vậy, đến
năm 2003 mới được hướng dẫn cụ thể Theo đó, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày
17/4/2003 "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự", trong
đó tại mục 5, có hướng dẫn:
5.1 Hành vi gây rối trật tự công cộng mà để hậu quả xảy
ra thuộc một trong các trường hợp sau đây bị coi là "gây hậu quả
nghiêm trọng" và phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều
245 Bộ luật hình sự:
a) Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ;
b) Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;
c) Thiệt hại về tài sản có giá trị từ mười triệu đồng trở lên; d) Chết người;
đ) Người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe với tỷ
lệ thương tật từ 31 % trở lên;
e) Nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe với tỷ
lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% trở lên;
Trang 37g) Người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe với tỷ
lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng trở lên;
h) Nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe với tỷ
lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng trở lên
Ngoài các hậu quả xảy ra về tính mạng, sức khỏe và tài sản được hướng dẫn trên đây, thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất như có ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, ngoại giao, đến trật tự, an toàn xã hội
Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra có phải là nghiêm trọng hay không [19]
Trong khi đó, đã bị xử phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng này, thì Chính phủ đã ban hành Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình trong đó quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội; hình thức xử phạt, mức phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền xử phạt; trình tự, thủ tục xử phạt; khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là hành vi vi phạm các quy định quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của Nghị định này phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Trang 38Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự,
an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, tại Chương 2, mục 1- Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong lĩnh vực an ninh, trật tự, các hành vi gây rối trật tự công cộng bao gồm:
1 Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;
b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân
cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố,
ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;
c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng
2 Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;
b) Báo thông tin giả đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;
d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;
đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng; e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác; g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển
Trang 39từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả "đèn trời";
h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng,
ga đường sắt và nơi công cộng khác
3 Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;
b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;
c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;
d) Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành
vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án;
đ) Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế; e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;
g) Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
h) Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức;
i) Tập trung đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm;
k) Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người
Trang 40nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
l) Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân;
6 Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điểm k Khoản 3 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị
áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [12]
Những hành vi vi phạm hành chính (trong đó có hành vi gây rối trật tự
nơi công cộng) là cơ sở pháp lý để xử lý hành chính và là dấu hiệu định tội để
xử lý hình sự trong trường hợp một người tái phạm về hành vi này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
Nếu đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm có nghĩa là người phạm tội đã bị kết án về tội gây rối trật tự công cộng, chưa được xóa án tích mà còn có hành vi gây rối trật tự công cộng
* Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình