Trong các đạo luật này, Điều 2 của Luật Sherman14, thành khuôn khổ của chế định chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị Sự ra đời này xuất phát từ nhận thức về vai trò của cạnh tranh đối vớ
Trang 1TRẦN HOÀNG NGA
PHÁP LUẬT
CỦA EU, HOA KỲ, VIỆT NAM
-SO SÁNH VÀ KINH NGHIỆM ÁP DỤNG
CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc Tế - So Sánh
Mã số: 62.38.60.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Giáo sư hướng dẫn Thụy Điển Giáo sư hướng dẫn Việt Nam
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 5
Danh sách các từ viết tắt 7
1 CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 9
1.1 BỐI CẢNH CHỌN ĐỀ TÀI 9
1.1.1 Mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền 9
1.1.2 Định giá trong cạnh tranh và độc quyền 11
1.1.1 Pháp luật kiểm soát độc quyền ở Hoa Kỳ, EU và Việt Nam 12
1.2 MỤC ĐÍCH 31
1.3 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 32
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
1.5 GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 38
1.6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 39
2 CHƯƠNG 2 - PHÁP LUẬT CHỐNG ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG CỦA EU VÀ HOA KỲ 41
2.1 CÁC QUI TẮC VÀ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG Ở EU VÀ HOA KỲ 41
2.1.1 Qui tắc cơ bản 41
2.1.1.1 Luật Cạnh tranh EU và Luật Chống Độc quyền Hoa Kỳ chống các hành vi lạm dụng, trong đó có định giá lạm dụng 41
2.1.1.2 Pháp luật chống định giá lạm dụng EU và Hoa Kỳ bảo vệ cạnh tranh, không bảo vệ đối thủ cạnh tranh 55
2.1.2 Khái niệm Vị trí thống lĩnh, Quyền lực thị trường và Quyền lực độc quyền 59
2.1.2.1 Tiếp cận tổng quát 59
2.1.2.2 Nhận diện 61
2.1.3 Khái niệm Thị trường Liên quan 68
2.1.3.1 Thị trường sản phẩm liên quan 70
2.1.3.2 Thị trường địa lý liên quan 74
2.2 CÁC HÌNH THỨC ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG 75
2.2.1 Định giá quá đáng 75
2.2.1.1 Định giá quá đáng từ phía người bán 77
2.2.1.2 Định giá quá đáng từ phía người mua 85
2.2.1.3 Nhận xét 87
2.2.2 Định giá hủy diệt 88
2.2.2.1 Phép kiểm tra định giá hủy diệt của Hoa Kỳ 92
2.2.2.2 Phép kiểm tra định giá hủy diệt của EU 96
2.2.3 Chèn ép giá 100
2.2.3.1 Chèn ép giá theo pháp luật Hoa Kỳ 101
2.2.3.2 Chèn ép giá theo pháp luật EU 107
2.2.4 Định giá phân biệt đối xử 113
2.2.4.1 Định giá phân biệt đối xử ở Hoa Kỳ 115
Trang 32.2.4.2 Định giá phân biệt đối xử ở EU 117
2.2.5 Thủ đoạn chiết khấu hoặc giảm giá nhằm hạn chế cạnh tranh 119
2.2.5.1 Giảm giá/chiết khấu cho mua hàng trọn gói 120
2.2.5.2 Giảm giá cho sự trung thành đối với sản phẩm riêng lẻ 126
2.2.6 Nhận xét 132
2.3 BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG THEO PHÁP LUẬT EU VÀ HOA KỲ 134
2.3.1 Biện pháp hành vi và biện pháp cấu trúc 135
2.3.1.1 Chấm dứt hành vi vi phạm 136
2.3.1.2 Biện pháp yêu cầu thực hiện hành vi 137
2.3.1.3 Biện pháp cấu trúc 139
2.3.2 Biện pháp phạt và khắc phục bằng tiền 143
2.3.2.1 Phạt tiền 143
2.3.2.2 Bồi thường thiệt hại 146
2.3.2.3 Chi phí pháp lý tố tụng 152
2.3.3 Hình sự hóa và phạt tù 152
2.3.4 Nhận xét 153
3 CHƯƠNG 3 - PHÁP LUẬT CHỐNG ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG CỦA VIỆT NAM, SO SÁNH VỚI EU VÀ HOA KỲ 155
3.1 BỐI CẢNH, CÁC QUI TẮC CƠ BẢN VÀ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 156
3.1.1 Lịch sử phát triển của pháp luật và cơ quan thi hành 156
3.1.1.1 Quá trình phát triển của pháp luật 156
3.1.1.2 Cơ quan có thẩm quyền thi hành chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 167
3.1.2 Những vụ việc có liên quan hoặc gây bàn cãi về dấu hiệu định giá lạm dụng 171
3.1.2.1 Vụ Vinapco 173
3.1.2.2 Vụ Megastar 175
3.1.2.3 Vấn đề K+ 177
3.1.2.4 “Cuộc chiến cột điện” 182
3.1.2.5 Vấn đề giá dược phẩm và giá sữa 186
3.1.3 Các qui tắc cơ bản 192
3.1.3.1 Chống hành vi lạm dụng, bao gồm cả hành vi định giá lạm dụng
192
3.1.3.2 Bảo vệ cạnh tranh và bảo vệ đối thủ cạnh tranh 199
3.1.4 Các khái niệm có liên quan 200
3.1.4.1 Vị trí thống lĩnh và Vị trí độc quyền 200
3.1.4.2 Thị trường liên quan 205
3.2 CÁC HÌNH THỨC ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 208
3.2.1 Định giá Quá đáng 208
3.2.1.1 Định giá quá đáng từ phía người bán 209
3.2.1.2 Định giá quá đáng từ phía người mua 212
3.2.1.3 Ấn định giá bán lại tối thiểu 215
3.2.2 Định giá hủy diệt 217
3.2.3 Định giá phân biệt đối xử 220
3.2.4 Định giá ngăn chặn đối thủ cạnh tranh mới 221
3.2.5 Nhận xét 223
Trang 43.3 BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG 225
3.3.1 Biện pháp hành vi và Biện pháp cấu trúc 226
3.3.1.1 Biện pháp hành vi 226
3.3.1.2 Biện pháp cấu trúc 227
3.3.2 Biện pháp phạt và khắc phục bằng tiền 228
3.3.2.1 Phạt tiền 228
3.3.2.2 Bồi thường thiệt hại 230
3.3.3 Nhận xét 231
4 CHƯƠNG 4 - NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG VÀ KẾT LUẬN 233
4.1 KIẾN NGHỊ VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 234
4.1.1 Công bố, phát hành chính thức các quyết định của Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh 234
4.1.2 Hợp nhất hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và lạm dụng vị trí độc quyền 236
4.1.3 Sửa đổi, bổ sung cơ sở xác định vị trí thống lĩnh 238
4.1.3.1 Vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp 238
4.1.3.2 Vị trí thống lĩnh của nhóm doanh nghiệp 239
4.1.4 Sửa đổi, bổ sung cơ sở xác định thị trường liên quan 239
4.2 KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CÁC QUI ĐỊNH NHẬN DIỆN HÀNH VI ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG 240
4.2.1 Định giá quá đáng 240
4.2.1.1 Định giá quá đáng từ phía người bán 240
4.2.1.2 Định giá quá đáng từ phía người mua 241
4.2.1.3 Ấn định giá bán lại tối thiểu 242
4.2.2 Định giá hủy diệt 243
4.2.3 Định giá phân biệt đối xử 243
4.2.4 Định giá ngăn chặn đối thủ cạnh tranh mới 244
4.2.5 Chèn ép giá 244
4.2.6 Thủ đoạn chiết khấu, giảm giá nhằm hạn chế cạnh tranh 245
4.3 KIẾN NGHỊ VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM 247
4.4 KẾT LUẬN 248
5 Phụ lục 250
1 - Đoạn trích từ Luật Cạnh Tranh 250
2 - Đoạn trích từ Luật Cạnh Tranh – Với các kiến nghị sửa đổi 255
3 - Đoạn trích từ Nghị định 116/2005 259
4 - Đoạn trích từ Nghị định 116/2005 – Với các kiến nghị sửa đổi 267
Danh mục bản án 271
Văn bản pháp luật 277
Danh mục trang thông tin điện tử 281
Sách, bài viết và tài liệu tham khảo khác 282
Trang 5Luận án này là kết quả hữu hình của quá trình học tập, nghiên cứu mà tác giả thực hiện trong khuôn khổ chương trình liên kết đào tạo tiến sĩ luật học giữa Khoa Luật Đại học Tổng hợp Lund
và Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, do dự án “Tăng cường năng lực đào tạo luật ở Việt Nam” của Chính phủ Thụy Điển (SIDA) tài trợ Nội dung đề án nghiên cứu tập trung vào pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của EU, Hoa Kỳ và Việt Nam trên cơ sở áp dụng luật so sánh
Luận án này đã không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ
và đóng góp của nhiều người Tại lời nói đầu này tác giả xin bày
tỏ sự biết ơn sâu sắc đến họ
Đầu tiên, tác giả đã rất may mắn và vinh hạnh được sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Hans Henrik Lidgard và Phó Giáo sư
Lê Thị Bích Thọ Giáo sư Lidgard đã cho tác giả những hướng dẫn, những lời khuyên và động viên quí giá từ bước đầu tiên cho đến bước cuối cùng của chương trình nghiên cứu Giáo sư đã dành rất nhiều thời gian quý báu của mình để đọc góp ý các bản viết nháp luận án và thảo luận với tác giả về các vấn đề được đề cập trong nội dung luận án Phó Giáo sư Lê Thị Bích Thọ dành cho tác giả không chỉ sự động viên ấm áp trong suốt quá trình nghiên cứu, mà còn cả những góp ý sâu sắc, đặc biệt ở những phần liên quan pháp luật Việt Nam Tác giả chân thành cảm ơn
Giáo sư Lidgard và Phó Giáo sư Lê Thị Bích Thọ vì đã là Người Thầy Hướng Dẫn của tác giả qua cả hai chương trình Cao học và
Nghiên cứu sinh Tác giả mang ơn Thầy Cô hướng dẫn rất nhiều
về nội dung chuyên môn của luận án Bất kỳ sai sót nào nếu có trong luận án hoàn toàn do tác giả, thuộc về trách nhiệm của tác giả
Thứ hai, tác giả muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Ông Robert Schwartz, người đã giúp tác giả hoàn thiện bản viết tiếng Anh của luận án Hơn thế nữa, ông đã cho tác giả nhiều góp ý thực tế
và nhiều thông tin liên quan có giá trị Nếu thiếu sự giúp đỡ của ông, luận án đã không thể đạt được chuẩn mực của bài viết học
Trang 6thuật quốc tế
Thứ ba, tác giả xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tú, Giáo sư Katarina Olsson, và tất cả các vị giáo sư, tiến sĩ đã tham gia làm phản biện hoặc thành viên của các hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu tổ chức hàng năm, trong đó họ đã cho tác giả nhiều phản hồi và ý kiến nhận xét có ý nghĩa về nội dung các bản thảo qua từng năm của luận án này
Thứ tư, tác giả không bao giờ quên những sự hỗ trợ và khuyến khích đặc biệt từ Khoa Luật Đại học Tổng hợp Lund và Đại học Luật TP Hồ Chí Minh trong suốt quá trình nghiên cứu Tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn của mình đến Giáo sư Christina Moell, Giáo sư Bengt Lundell, Giáo sư Per Ole Traskman, Phó Giáo sư Mai Hồng Quỳ, Tiến sĩ Bùi Xuân Hải, và nhiều giáo sư, giảng viên, chuyên viên các phòng ban và thư viện của cả hai trường Đặc biệt cảm ơn các Thầy Cô, các giảng viên đồng nghiệp ở Khoa Luật Thương Mại đã luôn quan tâm chia sẻ, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả thực hiện chương trình Nghiên cứu sinh Bên cạnh đó, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Luật Suffolk ở Boston, nơi tác giả nhận được nhiều giúp đỡ trong việc nghiên cứu luật chống độc quyền Hoa Kỳ Cụ thể, xin cảm ơn Giáo sư Stephen C Hicks, Ông Jonathan D Messinger và các chuyên viên hành chính, thủ thư của trường
Cuối cùng, tác giả chân thành cảm ơn Ba Mẹ, các Con, tất cả những người Bạn và các em Sinh viên đã luôn bên cạnh quan tâm, yêu thương ủng hộ, giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận án này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 8 năm 2011
Trần Hoàng Nga
Trang 7Danh sách các từ viết tắt
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AAC Chi phí tránh được bình quân
ATC Giá thành toàn bộ
AVC Chi phí khả biến bình quân
CCHC Hội đồng Xử lý Vụ việc Cạnh tranh (Vietnam)
CIEM Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (Vietnam) CJEU Tòa Án Tư pháp Liên Minh Châu Âu
DOJ Bộ Tư pháp (Hoa Kỳ)
EC Cộng đồng Châu Âu
EPL Giải bóng đá ngoại hạng Anh
EU Liên Minh Châu Âu
EVN Tập đoàn điện lực Việt Nam
FOEs Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
FTAIA Luật cải tiến chống độc quyền và ngoại thương (Hoa Kỳ)
FTC Ủy Ban Thương Mại Liên Bang (Hoa Kỳ)
GC Tòa án Chung (EU)
HCTV Đài truyền hình cáp Hà Nội
IDRC International Development Research Centre
ICN International Competition Network
JPA Công ty Jestar Pacific Airlines
LIRC Chi phí tăng trưởng dài hạn
LRAIC Chi phí tăng trưởng dài hạn bình quân
MoF Bộ Tài Chính (Vietnam)
MoIC Bộ Thông tin Truyền thông (Vietnam)
MoIT Bộ Công Thương (Vietnam)
MPC Chính sách thu tối thiểu – mỗi – vé
Trang 8OECD Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế
SOEs Doanh nghiệp Nhà nước
SRMC Chi phí cận biên ngắn hạn
SSNIP Tăng giá nhỏ nhưng đáng kể và không nhất thời
UN Liên Hiệp Quốc
UNCTAD Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc
UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc
US Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ
USD Đô la Mỹ
VCA Cục Quản lý Cạnh tranh (Việt Nam)
VCAD Cục Quản lý Cạnh tranh (Việt Nam)
VCC Hội đồng Cạnh tranh (Việt Nam)
VFF-FAN Hội cổ động viên bóng đá Việt Nam
Viettel Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Vinapco Công ty Xăng Dầu Hàng Không Việt Nam
VLC Luật Cạnh Tranh Việt Nam
VNPT Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
VSTV Công ty truyền hình số vệ tinh Việt Nam
VTV Đài truyền hình quốc gia Việt Nam
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 91 CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU
Cạnh tranh và độc quyền là những vấn đề nội tại của nền kinh tế thị trường Trong khi nhiều quốc gia khác đã trải qua thời gian dài tích lũy kinh nghiệm giải quyết những vấn đề này, Việt Nam mới tiến hành quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hơn hai thập kỷ Vì vậy, Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn cả về lý thuyết lẫn thực tế trong việc bảo vệ cạnh tranh hiệu quả Xuất phát từ đặc thù hoàn cảnh riêng, lạm dụng vị trí thống lĩnh là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất ở thị trường Việt Nam Do đó nghiên cứu vấn đề này có tầm quan trọng đáng kể cho cải cách nền kinh tế Việt Nam Phần này trình bày những khía cạnh liên quan để làm rõ tầm quan trọng của đề tài Mở đầu là nội dung phân tích mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền Tiếp theo, lý thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa độc quyền và giá sẽ được trình bày ngắn gọn nhằm mô tả ảnh hưởng từ việc định giá của doanh nghiệp đối với thị trường Phần này được kết luận với những thông tin về tình hình pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam để chứng minh tầm quan trọng của việc nghiên cứu pháp luật chống định giá lạm dụng
1.1.1.Mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền
Cạnh tranh là một qui luật khách quan, là nhân tố thiết yếu của cơ chế kinh tế thị trường Cạnh tranh lành mạnh luôn có những tác động tích cực cho lợi ích toàn xã hội Với bản chất một cuộc đua tranh
Trang 10quyết liệt giữa những người kinh doanh cùng một mặt hàng để giành các tài nguyên và lợi ích kinh tế về cho mình, cạnh tranh buộc các chủ thể tham gia phải không ngừng tự hoàn thiện Kết quả sẽ đem lại cho
xã hội những lợi ích thiết thực như chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày một tốt hơn, giá cả ngày một hợp lý, phải chăng hơn Tuy nhiên, qui luật cạnh tranh lại dẫn đến kết quả mà nhiều người khái quát là “cạnh
phát triển của nền kinh tế, tuy nhiên, trong cạnh tranh luôn luôn phải
có người thắng kẻ thua Khi người thắng – một vài chủ thể cạnh tranh nào đó, thành công và lớn mạnh đến một mức nhất định, sẽ đạt được những vị thế mang tính thống lĩnh hay độc quyền, giúp họ có khả năng ngăn chặn những chủ thể khác tham gia cạnh tranh, và bằng cách đó phá hoại hoặc triệt tiêu tiến trình cạnh tranh Đặc biệt là vị trí thống lĩnh hay độc quyền chứa đựng khả năng độc lập quyết định hoặc thậm chí chi phối giá cả
Xem Báo cáo lần thứ IX của Ủy Ban Châu Âu về Chính sách Cạnh tranh (1979), tr.10
("Có một thực tế chắc chắn là cạnh tranh mang trong mình mầm mống của sự hủy diệt chính nó."), có tại http://ec.europa.eu/competition/publications/annual_report/index.html : ;
Đồng thời xem Cattermole, Edward, The Development and Implications of 'Collective
Dominance' in EC Competition Law, Trung tâm Nghiên cứu Châu Âu của Đại học Lund,
Ấn phẩm số 14 (2002), tr 14, có tại series: ; và Lankhorst, Marco, Increasing the Requirements to Show Antitrust Harm in
http://www.cfe.lu.se/publikationer/cfe-working-papers-Modernised Effects-Based Analysis: An Assessment of the Impact on the Efficiency of Enforcement of Art 81 EC, (2010) (Luận án Tiến sĩ, Đại học Amsterdam, Trung tâm Pháp
luật & Kinh tế), tr.20 ("Đến bây giờ, cạnh tranh mang trong mình mầm mống của sự hủy diệt chính nó."), có tại http://dare.uva.nl/document/159558
2 Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam [Regulations on monopoly control and anti-unfair competitive activities
in Vietnam], tiếng Việt, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 18
Trang 11tính hiệu quả nhờ qui mô
, tránh lãng phí và giải phóng nguồn lực không
bị hao phí đó cho những mục đích sử dụng khác Tuy nhiên, khi tồn tại một cách chắc chắn và ổn định
1.1.2.Định giá trong cạnh tranh và độc quyền
Ở nền kinh tế thị trường, giá cả là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất thể hiện thực trạng cạnh tranh Giá cả được xác lập và vận hành theo các qui luật kinh tế, và là kết quả của cạnh tranh Sử dụng phép so sánh ẩn dụ, nếu mối quan hệ cung – cầu là “cốt vật chất”, thì
hết các khái niệm kinh tế cơ bản đều liên quan đến giá cả Ví dụ, đường cong nhu cầu thị trường biểu thị mối quan hệ giữa cung và giá;
Độ co giãn về cầu đo lường mỗi quan hệ giữa giá sản phẩm và lượng cầu đối với sản phẩm đó; Mối quan hệ giữa giá và chi phí dùng để mô
tả hình thái cạnh tranh hoàn hảo cũng như hình thái độc quyền Câu
3 Nguyễn Như Phát, Thị trường và Cạnh tranh [Market and Competition], Diễn đàn trực
tuyến thảo luận về Dự thảo Luật Cạnh Tranh, tiếng Việt, có tại http://www.vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=839
Trang 12hỏi người bán là người đi theo giá cả hay là người tạo ra giá cả dùng
để nhận dạng thị trường là cạnh tranh, độc quyền hay độc quyền nhóm Trong thị trường cạnh tranh, giá cả do các qui luật kinh tế khách quan quyết định, đặc biệt là sự tương tác giữa cung và cầu Vì thế người bán buộc phải tuân theo qui luật, xác định mức giá phù hợp nhất trong phạm vi qui luật cho phép để đạt được mục tiêu cạnh tranh Nếu không họ sẽ không thể tồn tại lâu dài và bị đào thải ra khỏi thị trường
Giá cả cũng là công cụ quan trọng mà các đối thủ cạnh tranh sử dụng để chiến đấu nhằm tồn tại và giành được một vị trí trong thị trường liên quan Định giá là công việc hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp ở nền kinh tế thị trường Nó là cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu kinh doanh Trong hoạt động cạnh tranh, định giá được sử dụng đầu tiên Những chiến lược áp dụng đối với các yếu tố khác của sản phẩm như chất lượng, tính năng sử dụng hay bảo hành, hậu mãi, v.v., suy cho cùng, đều liên quan gián tiếp đến giá của sản phẩm Định giá có thể sử dụng với mục đích cạnh tranh hoặc phản cạnh tranh Trong thị trường độc quyền, quyền lực chi phối quyết định giá nằm trong tay của người bán (nhà độc quyền) Họ thường có khuynh hướng khai thác quyền lực đó để tận thu lợi ích và duy trì vị trí độc quyền của mình Vì thế, cần phải có những “bàn tay” thích hợp nắm giữ quyền lực điều chỉnh nhằm kiềm tỏa nguy cơ này
1.1.1.Pháp luật kiểm soát độc quyền ở Hoa Kỳ, EU
và Việt Nam
rào cản
av
Trang 13
Một tiến trình mang tính qui luật nữa không thể không nói đến ở đây, là nếu để cho tự do phát triển, cạnh tranh gay gắt tất sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh Điều này có thể lý giải một cách đơn giản bởi vì để giành chiến thắng có nhiều biện pháp, trong đó những biện pháp cạnh tranh lành mạnh khó thực hiện hơn, đòi hỏi chủ thể cạnh tranh phải có thực tài, có đạo đức, có ý chí, kiên nhẫn và nhiều yếu tố khách quan khác, trong khi những biện pháp cạnh tranh không lành mạnh có thể giúp nhanh chóng đạt kết quả hơn mà lại đỡ tốn kém, đạt nhiều lợi nhuận Vì vậy, một khi không có một người có đủ quyền lực để chỉ ra những hành vi nào là sai trái và ngăn chặn, xử lý, thì nhiều chủ thể cạnh tranh sẵn sàng vì lợi nhuận mà bất chấp thể diện và đạo đức để thực hiện “Nguời” có đầy đủ chức năng, khả năng
để bảo đảm lợi ích chung cho toàn xã hội và lợi ích chính đáng của các chủ thể trong nền kinh tế không thể là ai khác ngoài Nhà nước Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện đại, “bàn tay vô hình” được thừa nhận nhưng không thể thống trị tuyệt đối, mà bên cạnh đó luôn cần có “bàn tay Nhà nước”
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, tự do cạnh tranh được thừa nhận nhưng Nhà nước phải giám sát và có biện pháp tác động để đảm
Trang 14bảo cạnh tranh phát triển lành mạnh, hạn chế mặt tiêu cực của độc quyền Các biện pháp mà một Nhà nước thường sử dụng vì những mục đích trên gồm hai loại: Thứ nhất, các biện pháp hành chính – kinh
tế như là chính sách thuế, kiểm soát giá cả, điều chỉnh độc quyền, quốc hữu hoá các doanh nghiệp độc quyền ở một số lĩnh vực trong nền kinh tế Thứ hai, ban hành pháp luật về cạnh tranh Pháp luật về cạnh tranh bao gồm hai lĩnh vực chủ yếu là pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật kiểm soát độc quyền Trong thực
tế, nhiều nước ban hành đạo luật về kiểm soát độc quyền với tên
“Chống Độc Quyền” Tuy nhiên, không một quốc gia nào phủ nhận độc quyền một cách tuyệt đối, kể cả những quốc gia tôn thờ tự do cạnh tranh nhất Như trên đã trình bày, có những hình thức độc quyền
là kết quả tích cực của quá trình cạnh tranh (độc quyền do hiệu quả kinh tế), do tác động của điều kiện khách quan (độc quyền tự nhiên) hoặc do chính Nhà nước tạo ra để phục vụ mục tiêu của mình (độc quyền nhà nước) Vì vậy, dù tên gọi là “Luật Chống Độ
nhưng về bản chất, các qui định pháp luật nhắm đến kiểm soát con đường hình thành độc quyền và kiểm soát hành vi của doanh nghiệp độc quyền Nhìn chung, pháp luật kiểm soát độc quyền bao gồm ba lĩnh vực: (i) chống thoả thuận hạn chế cạnh tranh; (ii) giám sát tập trung kinh tế và (iii) chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế đều là những hành vi nhắm đến sự liên kết hoặc thống nhất (dù là tạm thời hay lâu dài, dù là bí mật hay công khai, dù là lỏng lẻo hay bền chặt) để tạo ra một quyền lực độc quyền và nhờ đó hạn chế cạnh tranh Như vậy, mục đích của hai chế định pháp luật tương ứng nêu trên là ngăn chặn nguy
cơ hình thành thế lực độc quyền và nguy cơ hạn chế tự do cạnh tranh.Khái niệm “vị trí thống lĩnh thị truờng” là một trong các trọng tâm nghiên cứu của luận án này, do vậy sẽ được phân tích rõ hơn ở các phần sau Ở đây, để giúp lý giải vấn đề, chúng ta có thể hiểu nôm na vị trí thống lĩnh thị trường là vị trí của doanh nghiệp có quyền lực đủ mạnh để chi phối thị trường Quyền lực này còn gọi là quyền lực độc quyền Quan điểm phổ biến trên thế giới hiện nay là không phủ nhận
Trang 15vị trí thống lĩnh thị trường mà chỉ nghiêm cấm sự lạm dụng vị trí này Chế định chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm điều chỉnh hành vi của các quyền lực độc quyền đang tồn tại, ngăn chặn nó hủy diệt cạnh tranh và gây tổn hại lợi ích của người tiêu dùng nói chung Xét về sự phức tạp và nguy hại thì hành vi hạn chế cạnh tranh và lạm dụng ưu thế độc quyền thị trường ở mức độ cao hơn và nguy hiểm hơn so với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đơn thuần Vì thế vai trò của pháp luật kiểm soát độc quyền được đánh giá cao hơn pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Nếu không có các qui định pháp luật trong lĩnh vực này, cạnh tranh sẽ bị hạn chế và triệt tiêu Khi không có cạnh tranh, thì các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng không còn môi trường để phát triển Mặt khác, bản thân các hành vi lạm dụng quyền lực thị trường cũng chính là những kiểu cạnh tranh không lành mạnh nhưng ở mức độ cao hơn, nguy hiểm hơn vì chúng không chỉ gây hậu quả cho một đối thủ cạnh tranh hay một số khách hàng cụ thể, mà tác động đến toàn thể người tiêu dùng và xã hội Do
đó có ý kiến cho rằng, pháp luật kiểm soát độc quyền là bước phát triển cao hơn, là tiếp nối cho pháp luật chống cạnh tranh không lành
buộc nhà nước tuân thủ chủ quyền nhân dân, thì luật kiểm soát độc quyền cương toả quyền lực kinh tế, buộc quyền lực đó khuất phục sức
ép của cạnh tranh Với ý nghĩa đó, luật kiểm soát độc quyền được nhiều người xem như là một trong những thành tố tạo thành “Hiế
.5
4 Đặng Vũ Huân, chú thích 2, tr 77-78
5
Xem Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật Kinh Tế [Professional References for
Economic Law], Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004, tr 796, tiếng Việt; Đồng thời
xem U.S v Topco Associates, Inc 405 U.S 596, 610 (1972)("Pháp luật chống độc quyền nói chung, và Luật Sherman nói riêng, là Hiến chương Magna Carta của tự do kinh doanh
Chúng cũng quan trọng đối với việc duy trì quyền tự do kinh tế và hệ thống tự do kinh doanh của chúng ta như Hiến pháp quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền tự do cá nhân
cơ bản vậy Và sự tự do được bảo đảm đối với từng hoạt động kinh doanh, mọi hoạt động kinh doanh, bất kể lớn nhỏ như thế nào, là tự do cạnh tranh bằng sự hăng hái, khả năng sáng tạo, sự tận tâm và khéo léo đối với bất kỳ sức mạnh kinh tế nào có thể vận dụng được
Ẩn chứa trong sự tự do đó là ý niệm rằng nó không thể bị thâu tóm bởi bất kỳ một thành phần kinh tế nào chỉ vì một số công dân và nhóm người nào đó tin rằng sự thâu tóm đó thúc
Trang 16Thời điểm được thừa nhận rộng rãi là mốc ra đời của pháp luật kiểm soát độc quyền trên thế giới là năm 1890 khi Luật Sherman của
thành hệ thống pháp luật về chống độc quyền (còn gọi là pháp luật
đẩy cạnh tranh nhiều hơn trong một thành phần kinh tế quan trọng hơn của nền kinh tế.")
6
Bộ Luật 15 của Hoa Kỳ (15 U.S.C.), các điều từ 1 trở đi (§§ 1 et seq.)
Điều 1: "Mọi hợp đồng, sự kết hợp dưới hình thức tờ-rớt hay hình thức khác, hoặc thông đồng hạn chế thương mại hay mậu dịch giữa các Bang với nhau, hay với nước ngoài, đều là bất hợp pháp Bất kỳ người nào tham gia vào hợp đồng hay sự kết hợp, sự thông đồng bất hợp pháp theo qui định này đều bị xem là tội phạm hình sự, "
Điều 2: "Bất kỳ người nào có hành vi cố ý độc quyền, hoặc nỗ lực độc quyền, hoặc kết hợp, câu kết với bất kỳ ngườ ể cố ý độc quyền trong một ngành thương mại hay mậu dịch giữa các Bang với nhau, hay với nước ngoài, đều bị xem là tội phạm hình sự, và, khi bị kết tội, bị phạt tiền hoặc bị phạt tù "
7 15 U.S.C Điều 15: "Trừ trường hợp qui định tại điểm (b) của điều này, bất kỳ người nào bị thiệt hại về kinh doanh hay tài sản do các hành vi bị cấm bởi pháp luật chống độc quyền có thể kiện ra tòa án quận của Hoa Kỳ tại quận nơi bị đơn cư trú hoặc có mặt hoặc có đại diện, bất kể khoản thiệt hại là bao nhiêu, và phải được đền bù gấp ba lần số thiệt hại đã gánh chịu, và chi phí tố tụng, bao gồm một khoản phí luật sư hợp lý "
8 15 U.S.C các Điều 41-58 Điều 45 giao cho Ủy Ban Thương Mại Liên Bang thẩm quyền xác định và xử phạt các hành vi cạnh tranh có cách thức không lành mạnh
12 15 U.S.C các Điều 18, 21, sửa đổi Điều 7 Luật Clayton để cấm những hành vi mua bán hay sáp nhập hợp nhất có thể gây hạn chế cạnh tranh đáng kể hoặc tạo ra độc quyền
13
Luật Công số 94-435, thường gọi là Luật HSR, bao gồm một số qui định sửa đổi pháp luật chống độc quyền Hoa Kỳ, cơ bản nhất là Luật Clayton 15 U.S.C Điều 18a, yêu cầu các bên nộp Thông báo và Báo cáo cho Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ về nội dung giao dịch để đánh giá giao dịch dự kiến có vi phạm pháp luật chống độc quyền hay không (trên 252 triệu USD)
và cho phép các Bang kiện doanh nghiệp vi phạm luật chống độc quyền với tư cách đại diện quốc gia
Trang 17chố - ) Trong các đạo luật này, Điều 2 của Luật Sherman14,
thành khuôn khổ của chế định chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
Sự ra đời này xuất phát từ nhận thức về vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế, về ảnh hưởng nguy hại tiềm tàng của các thế lực độc quyền Hơn nữa, pháp luật kiểm soát độc quyền ra đời là hết sức thiết yếu để xây dựng và củng cố một thị trường chung thống nhất, không cho các thế lực độc quyền phân chia thị trường này để áp đặt các điều
"Với các điều khoản của mình, Luật Robinson-Patman chống định giá phân biệt đối xử
chỉ trong chừng mực hành vi đó đe dọa gây tổn hại đến cạnh tranh." Xem bản án Brooke
Group Ltd v Brown & Williamson Tobacco Corporation, 509 U.S 209, 220 (1993)
17 Trong luận án này, các thuật ngữ “EU”, “Cộng đồng Châu Âu”, hay “EC” có thể dùng thay thế cho nhau
18
“Ban đầu các qui định về chống độc quyền được đưa vào Công ước vì vai trò của chúng trong quá trình hội nhập thị trường Các qui tắc chống độc quyền chỉ là các phần tương ứng riêng biệt đối với các qui tắc tối thượng nêu tại các Điều 28 – 30EC …Sau đó, trong giai đoạn thứ hai, chính sách cạnh tranh được khai thác để tạo lập một chính sách rộng hơn của Cộng đồng… Động lực do „Chương trình 1992‟ của Ủy Ban tạo ra đã trở thành cơ hội mở rộng hơn nữa phạm vi chính sách cạnh tranh Cộng đồng …” R Wessling,
The Modernisation of EC Antitrust Law, (NXB Hart, năm 2000) tr.48-49 (Trích dẫn trong
Craig, Paul Grainne de Burca, EU Law Text, Cases and Materials , Tái bản lần thứ 4, NXB
Oxford Press, 2008, tr 951)
19
Mục đích của luật cạnh tranh EU là 1 Tăng cường hiệu quả việc tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, 2 Bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ và người tiêu dùng đối với những tích tụ
Trang 18tắc cạnh tranh đã xuất hiện ở Điều 3(f)20, 8521 và 8622 của Công Ước thành lập Cộng Đồng Kinh Tế Châu Âu ký tại Rome ngày 25 tháng 3 năm 1957 Về cơ bản nội dung cả hai điều 85 và 86 Công ước Rome thuộc pháp luật kiểm soát độc quyền vì điều 85 cấm các thoả thuận hạn chế cạnh tranh và điều 86 cấm các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Sau đó, cùng với sự phát triển của Cộng Đồng Châu
Âu, Công Ước Rome đã được sửa đổi bởi Luật Châu Âu Đơn nhất
(Single European Act)23 và Công Ước thành lập Liên Minh Châu Âu
được ghi nhận lại tại điều 81 và điều 82 của Công Ước về Cộng đồng
quyền lực kinh tế lớn dưới hình thức thống lĩnh độc quyền của một doanh nghiệp đơn lẻ hoặc các thỏa thuận phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp đối thủ với nhau Theo
Craig, Paul và Grainne de Burca, tlđd., tr 950-951
20 "Nhằm các mục đích đã nêu ở Điều 2, hoạt động của Cộng đồng bao gồm, (f) thiết lập hệ thống đảm bảo cạnh tranh trong thị trường chung không bị bóp méo; " (Điều 3(f) đã chuyển thành Điều 3(g)EC và thay thế sửa đổi bởi Nghị định thư 27 của Công ước Lisbon
“VỀ THỊ TRƯỜNG NỘI BỘ VÀ CẠNH TRANH” và được sửa lại thành "cho rằng thị trường nội bộ theo qui định của Điều 3 Công ước về Liên minh Châu Âu bao gồm một hệ thống bảo đảm rằng cạnh tranh không bị bóp méo, "
23 Ký tại Luxembourg ngày 17 tháng 2 năm 1986
24 Công ước về Liên Minh Châu Âu được ký tại Maastricht ngày 7 tháng 2 năm 1992, có
hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1993, với điều kiện tất cả thủ tục phê chuẩn đã được thực hiện
25
Công ước sửa đổi Công ước về Liên Minh Châu Âu, các Công ước thành lập Cộng
đồng Châu Âu và các đạo luật có liên quan ký tại Amsterdam ngày 2 tháng 10 năm 1997,
có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1999
26 Công ước sửa đổi Công ước về Liên Minh Châu Âu, các Công ước thành lập Cộng
đồng Châu Âu và các đạo luật có liên quan ký tại Nice ngày 26 tháng 2 năm 2001, có hiệu
lực từ ngày 1 tháng 2 năm 2003
Trang 19EU đã ký Công ước Lisbon27(còn được biết đến với tên Công ước về
Cải cách), có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 12 năm 2009 Công
ước Lisbon sửa đổi tất cả các công ước trước đó Với sự sửa đổi này, Công ước đầu tiên về thành lập Cộng đồng Kinh tế Châu Âu năm
1957 đã trở thành Công ước về Chức năng của Liên Minh Châu Âu
(Treaty on the Functioning of the European Union, sau đây viết tắt là
TFEU).28 Điều 81 và 82EC hiện nay trở thành điều 101 và 102 của
TFEU (Điều 101TFEU và Điều 102TFEU) Luật cạnh tranh EU ra
đời sau luật chống độc quyền Hoa Kỳ hơn sáu mươi năm nên học hỏi
cho hai hệ thống trở thành hai mô hình cơ bản của pháp luật cạnh tranh trên thế giới Ngày nay, pháp luật về cạnh tranh của EU đã trở thành mô hình áp dụng phổ biến ở không chỉ các quốc gia thành viên
Các quốc gia có thể ban hành các đạo luật về chống cạnh tranh
27 Công ước Lisbon sửa đổi Công ước về Liên Minh Châu Âu và Công ước về Chức năng của Liên Minh Châu Âu, với tất cả các Nghị định thư và Tuyên bố đã được ký tại Lisbon ngày 13 tháng 12 năm 2007
Lê Nết, Luật Chống Độc quyền Hoa Kỳ và Luật Cạnh tranh Châu Âu [Anti-trust law in
the US and Competition law in Europe], Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Bộ về Luật Cạnh
Tranh Việt Nam, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, 2002, tr.45, tiếng Việt
30
Các nước Đông Âu, các nước trong Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (SNG) Sau khi nghiên cứu mô hình của EU, các nước này cũng đã ký Hiệp ước Liên Chính Phủ về phối hợp thực hiện Chính Sách Cạnh Tranh vào ngày 24/12/1993, trên cơ sở đó xây dựng Luật mẫu về Bảo vệ Cạnh tranh Kinh tế và từng nước đã ban hành Luật Cạnh Tranh với nội dung bao gồm cả hai lĩnh vực chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền
31 Luật chống Hạn chế Cạnh tranh của Đức - Gesetz gegen Wettbewerbsbeschränkungen được ban hành tháng 5 năm 1998, có hiệu lực từ tháng 1 năm 1999 Luật sửa đổi lần thứ 7 của Luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2005 Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh của Đức - Gesetz gegen den unlauteren Wettbewerb vom 3 Juli 2004 (BGBl I 2004
32/1414) Luật này có hiệu lực sau khi được công bố trên Công báo (Bundesgesetzblatt)
Trang 20Trung Quốc32, hoặc chỉ ban hành một luật chung trong đó bao gồm tất
cả các chế định liên quan, như Việt Nam
Những năm gần đây, nhận thức về vai trò quan trọng của pháp luật cạnh tranh ngày càng được nâng cao và mở rộng trên phạm vi thế giới Đặc biệt xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới đã có tác động tích cực đến thái độ của hầu hết các quốc gia trong việc quan tâm xây dựng pháp luật cạnh tranh Các giao lưu thương mại, đầu tư quốc tế từ nước ngoài vào và từ một nước đi ra thế giới diễn ra nhiều hay ít, hiệu quả hay không phụ thuộc một phần vào thực trạng pháp luật cạnh tranh của nước đó Trong quá trình soạn thảo và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh, mỗi quốc gia đều mong muốn thành công trong hai vấn đề Một là pháp luật cạnh tranh phù hợp với các điều kiện, mục tiêu kinh tế – xã hội, trình độ phát triển của nước mình Hai là pháp luật cạnh tranh kế thừa được những kinh nghiệm quí báu của các quốc gia đi trước và đạt được một mức độ tương đồng đáng kể với pháp luật cạnh tranh của các quốc gia đó Đáp ứng nhu cầu này, từ năm 1998, Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hợp
Quốc (UNCTAD) đã bắt đầu soạn thảo và thông qua Luật Mẫu về
Cạnh Tranh Đây là một tài liệu nghiên cứu không chỉ chứa đựng các điều khoản mẫu, mà còn tổng hợp và bình luận, có chứa đựng nhiều dẫn chứng và kinh nghiệm thực tế của các nước, các tổ chức quốc tế
về luật và chính sách cạnh tranh Tài liệu này được sửa đổi, bổ sung hàng năm để các nước, nhất là các nước đang trong quá trình xây dựng luật cạnh tranh, tham khảo Nhìn chung, các điều khoản mẫu trong tài liệu này thể hiện sự ảnh hưởng mạnh mẽ của pháp luật cạnh tranh EU
mốc lịch sử khởi đầu quá trình đổi mới ở Việt Nam là Đại hội lần thứ
ngày 8 tháng 7 năm 2004, và thay thế đạo luật cũ ban hành từ năm 1909
32 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ban hành Luật Chống Cạnh tranh không lành mạnh ngày 2 tháng 9 năm 1993 và đã bắt đầu soạn thảo Luật Chống Độc Quyền từ năm 1994 Sau 13 năm dự thảo, Trung Quốc ban hành Luật Chống Độc Quyền ngày 30 tháng 8 năm
2007, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2008
Trang 21VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tháng 12 năm 1986 Nghị quyết Đại hội thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế và đánh dấu
sự chuyển đổi Cơ chế Kế hoạch Tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa
điểm đó đến nay, Nhà nước Việt Nam tiến hành nhiều cải cách để thành lập và phát triển môi trường cạnh tranh cho kinh doanh Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2001) thừa nhận quyền tự do kinh doanh và tạo cơ sở pháp lý cho cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế
33
.34 Tạ
Một đặc điểm nổi bật của nền kinh tế Việt Nam là sự mất cân đối về tương quan quyền lực thị trường giữa khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân Đây là đặc điểm chung trong giai đoạn đầu của các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường Nền kinh tế Việt Nam những năm cuối thế kỷ hai mươi đầu thế kỷ hai mươi mốt vẫn bị chi phối nhiều bởi
Lê Hồng Hạnh, Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam có ảnh hưởng tới
pháp luật về cạnh tranh [Some Vietnamese market economy‟s characteristics affecting laws
Trang 22thực hiện chủ trương sắp xếp lại, tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước, mặt khác, số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và có vốn đầu
tư nước ngoài cũng tăng mạnh, thành phần kinh tế quốc doanh vẫn chiếm vị trí độc tôn hoặc nắm giữ quyền lực thị trường áp đảo ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Quyền lực thị trường của
có từ thời cơ chế kế hoạch hoá tập trung và được tiếp tục duy trì; (ii) Tuy không có ưu thế tuyệt đối về qui mô nhưng được hưởng các chính sách ưu đãi, bảo trợ nên có quyền lực thị trường ở những khu vực thị trường nhất định; (iii) Các tập đoàn kinh tế lớn được hình thành theo quyết định hành chính Nhà nước, cụ thể đó là các Tổng Công Ty được thành lập theo Quyết Định số 90 và 91 của Thủ tướng Chính Phủ ngày
7 tháng 3 năm 1994
Một trong những cản trở to lớn nhất làm chậm tiến trình tư nhân hoá, không khuyến khích phát triển cạnh tranh ở Việt Nam chính là sự lúng túng, nhầm lẫn của cơ quan nhà nước trong phân biệt “vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh” với “độc quyền Nhà nuớc” Với quan niệm cho rằng, độc quyền tuyệt đối hoặc ít nhất là khống chế thị trường của thành phần kinh tế Nhà nước là cần thiết cho việc điều tiết nền kinh tế, nhiều cơ quan nhà nước vẫn trực tiếp hoặc gián tiếp ủng hộ việc cản trở các thành phần kinh tế khác gia nhập ngành hàng Điều này dẫn đến xu thế độc quyền của doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra, tư duy bao cấp, thiên vị vẫn còn Ở địa phương thì đã xảy ra tình trạng chỉ đạo, qui định chỉ tiêu thụ hàng hoá sản xuất tại địa phương hoặc tìm cách cản trở không cho doanh nghiệp của địa phương khác tiêu thụ hàng tại địa phương mình Một số bộ ngành chỉ
on competition], Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, NXB
Công an Nhân dân, Hà Nội, 2001, tr 27, tiếng Việt
Trang 23Khi đã thừa nhận cơ chế thị trường chịu sự điều tiết của cạnh tranh
có nghĩa là thấy rõ mặt tiêu cực đối lập với nó – độc quyền Thực tế ở Việt Nam là một chứng minh sinh động cho lý luận này Ở hầu hết những ngành sản xuất kinh doanh có mức độ độc chiếm thị trường của doanh nghiệp nhà nước cao, nhận được sự bảo hộ, ưu đãi của Nhà nước nhiều thì lại trì trệ Nhiều doanh nghiệp nhà nước từ khi ra đời không phải chịu sức ép của cạnh tranh, do đó mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi về đầu tư, vốn tín dụng, nhưng chất lượng hoạt động
đích xây dựng thành phần kinh tế quốc doanh có vai trò chủ đạo là tiên phong đi đầu về công nghệ và hiệu quả kinh doanh, phục vụ tốt nhất cho lợi ích toàn dân và xã hội đã không đạt được Ngược lại, chính những doanh nghiệp này đã có nhiều hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của mình gây thiệt hại cho người tiêu dùng Không những các doanh nghiệp này không giúp Nhà nước điều tiết nền kinh tế mà chúng còn gây ra những bất ổn, những cơn sốt đột ngột cho thị trường
và là gánh nặng kéo trì bước tiến lên của toàn bộ nền kinh tế
Các nghiên cứu thống kê và so sánh đã cho thấy mức giá dịch vụ và hàng hoá độc quyền của nước ta “cao hơn nhiều so với chi phí thực tế, thu nhập trung bình của người dân và cao hơn mức giá ở các nước khác, ngay cả các nước phát triển”.39 Giá cao bất hợp lý của những mặt hàng là nguyên nhiên liệu thiết yếu như điện, nước, xăng dầu, xi măng, làm tăng thêm gánh nặng chi phí đầu vào của tất cả các ngành sản xuất kinh doanh Nghịch lý ở chỗ, giá cao nhưng chất lượng tồi Cuối cùng, người tiêu dùng luôn luôn là những người thua thiệt Họ phải chịu tất cả những tổn thất về việc bị mất điện, mất nước, liên lạc viễn thông nghẽn mạch nhiều giờ hoặc thậm chí ngưng hoạt động
38 Xem Lê Hồng Hạnh, chú thích 35, tr 26-27 (“Doanh nghiệp nhà nước chiếm lĩnh
hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn, thu hút khoảng 80% vốn đầu tư từ ngân sách, 85% lực lượng lao động có trình độ khoa học kỹ thuật và tay nghề cao… đóng góp 42% GDP của cả nước… có 5467 doanh nghiệp nhà nước, trong đó chỉ có 39,7% kinh doanh có lãi, trong lúc
đó nợ 102.000 tỷ đồng tức tương đương 138% vốn nhà nước bỏ ra cho các doanh nghiệp nhà nước.”)
39 UNDP và CIEM, chú thích 37, tr 77
Trang 24nhiều ngày, các chuyến bay bị trì hoãn hoặc huỷ bỏ không báo trước, thậm chí không có một lời xin lỗi Trong khi đó, các nhà sản xuất hay cung cấp độc quyền có thể ngay lập tức đình chỉ hợp đồng nếu người tiêu dùng không thanh toán đúng hạn Không chỉ trì trệ, hoạt động kém hiệu quả và khai thác lợi ích một cách bất công đối với người tiêu dùng, một số doanh nghiệp nhà nước thống lĩnh thị trường còn sử dụng nhiều phương cách để hạn chế cạnh tranh Đó có thể là việc cố tình trì hoãn thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng đồng thời là đối thủ cạnh tranh Đó cũng có thể là tìm cách tác động để cơ quan nhà nước “bảo hộ” mình, ngăn chặn sự gia nhập thị trường của đối thủ tiềm năng Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện khi thì công khai, lộ liễu (ví dụ như định giá độc quyền, phân biệt đối xử về giá), khi thì ngấm ngầm, tinh vi như áp đặt các điều kiện ràng buộc bất hợp lý, phân biệt đối xử,
Trong khi đó, nước ta đang tiến hành mở cửa, hội nhập với nền
mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài giúp các chủ thể cạnh tranh mới gia nhập vào thị trường Việt Nam Chính sách thu hút, khuyến khích đầu
40 Xem Bộ Thương Mại, Tờ trình số 0067/TM-PC gửi Chính phủ về Dự án Luật Cạnh
Tranh [Statement No 0067/TM-PC sent to the Government on the project of Competition Law], Hà Nội, ngày 6 tháng 1 năm 2004, tr 2, tiếng Việt (“ Các hành vi lạm dụng ưu thế
của các doanh nghiệp chi phối thị trường đang diễn ra mà chưa được quản lý bằng pháp luật Ví dụ như các doanh nghiệp độc quyền mua thì ép giá mua (như thu mua nông sản của nông dân), độc quyền bán thì bán giá cao để thu lợi nhuận siêu ngạch hoặc định giá bán thấp hơn giá vốn để loại trừ cạnh tranh Tình trạng áp đặt các điều kiện ràng buộc bất hợp
lý trong kinh doanh như ép mua, ép bán, mua kèm, bán kèm những sản phẩm, dịch vụ không cần thiết chủ yếu diễn ra giữa các nhà máy chế biến, công ty thu mua với nông dân
đã bị báo chí leen tiếng nhiều lần nhưng không xử lý được.”), đồng thời xem Chính Phủ, Tờ
trình số 487/CP-PC gửi Quốc Hội về Dự án Luật Cạnh Tranh [Proposal No 487/CP-PC
to Assembly on project of Competition Law], ngày 4 tháng 4 năm 2004, tr 3, tiếng Việt
41 Ngày 17 tháng 7 năm 1995, Hiệp định khung về hợp tác và phát triển Việt Nam – EU
đã được ký kết Sau đó, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) từ ngày 25 tháng 7 năm 1995; tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) từ ngày 1 tháng 1 năm 1996 Ngày 10 tháng 12 năm 2001, Hiệp định
Thương mại Song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đã được phê chuẩn và có hiệu lực Việt Nam
đã ký kết hơn 60 hiệp định thương mại song phương Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 1 năm 2007
Trang 25tư nước ngoài của Nhà Nước Việt Nam đã nhận được sự hưởng ứng đáp lại của nhiều nhà đầu tư từ rất nhiều quốc gia Tác động của thành phần kinh tế nước ngoài tạo thêm sinh khí cho hoạt động cạnh tranh ở thị trường Việt Nam Thực tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với thế mạnh về khả năng tài chính, công nghệ vượt trội, phương thức kinh doanh hiện đại, và đặc biệt là kinh nghiệm dày dạn trên thương trường thế giới, đã nhanh chóng vượt qua các đối thủ cạnh tranh trong nước, thâu tóm dần thị phần và tích góp, củng cố quyền lực thị trường
rộng quan hệ kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải có chính sách cạnh tranh nói chung và pháp luật về cạnh tranh nói riêng vừa phù hợp thông lệ quốc tế, vừa phản ánh đúng và giải quyết thấu đáo những đặc thù trong nước để đảm bảo tự do thương mại, ổn định và phát triển Đồng thời, một nguy cơ khác đã được nhiều nhà nghiên cứu nhận
có thể nói rằng nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng là nạn nhân của hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc hạn chế cạnh tranh từ doanh nghiệp nhà nước, thì đồng thời, không ít trong số họ chính là tác giả của những sự kiện điển hình về lạm dụng thế mạnh tài chính để giành giật thị trường một cách rất không lành mạnh Ví dụ những năm 1995-1998 đã có cuộc “đua” về chiến dịch giảm giá giữa
giá hủy diệt, một dạng hành vi lạm dụng lẽ ra phải bị xử lý nếu thời gian đó Việt Nam đã có Luật Cạnh Tranh) đã giết chết không chỉ các đối thủ cạnh tranh là doanh nghiệp trong nước mà còn triệt tiêu cả các
55, tiếng Việt
43
Coca-Cola Indochina Pte Ltd
44 Pepsico International Vietnam
Trang 26đối tác Việt Nam45 trong liên doanh.46 Hơn thế nữa, hàng loạt các hành
vi khác trong khuyến mại, quảng cáo, giao kết hợp đồng phân phối hoặc đại lý, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ v.v chứng tỏ rất rõ các doanh nhân nước ngoài vừa có vốn lớn, vừa giàu kinh nghiệm cạnh tranh Họ quyết tâm cao trong việc giành quyền lực thị trường, nên họ sẵn sàng áp dụng mọi biện pháp, kể cả cạnh tranh không lành mạnh để đạt được mục đích Một khi đã không ngại thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh để đạt vị trí thống lĩnh thị trường, thì khi đạt được, họ sẽ chẳng ngần ngại lạm dụng vị trí đó để tối đa hoá lợi nhuận
và tiêu diệt mọi đối thủ Đặc biệt trong trường hợp họ đến từ những nước có pháp luật kiểm soát độc quyền chặt chẽ, họ rất hiểu những lỗ hổng lớn trong pháp luật Việt Nam về vấn đề này và sẽ tận dụng triệt
để những lỗ hổng đó
Từ khi thừa nhận cạnh tranh, đã có nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh được thực hiện Một số trong những hành vi này là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường dẫn đến hệ quả kinh tế nghiêm trọng Những hành vi đó một mặt đem lại cho các doanh nghiệp nhiều lợi ích cục bộ hoặc lợi nhuận, mặt khác, dẫn đến những thiệt hại to lớn cho người tiêu dùng và toàn bộ nền kinh tế.Nhận thức tình hình này, Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ
và đạt được 100% vốn điều lệ vào tháng 4 năm 2003
46 Để biết thêm thông tin về vụ việc này, xem Nguyễn Như Phát và Nguyễn Thị Hiền,
Thực trạng cạnh tranh và sự cần thiết xây dựng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam [Realities of competition and neccessity of constructing anti-unfair competition laws in Vietnam], Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam
hiện nay, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2001, tiếng Việt, tr 106-108 và Phạm Duy
Nghĩa, chú thích 5, tr.782, tiếng Việt
47
Đây là một đạo luật, phân biệt với pháp luật cạnh tranh Việt Nam bao gồm tất cả các qui phạm điều chỉnh cạnh tranh trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Trang 27Dựa vào lý thuyết và đặc điểm hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam như
đã trình bày ở trên, chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có ý nghĩa vừa hết sức thời sự vừa mang tầm chiến lược của pháp luật kiểm soát độc quyền Việt Nam Nhiệm vụ của chế định này là buộc tất cả những quyền lực khống chế thị trường phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và chấm dứt mọi hành vi hạn chế cạnh tranh Những hành vi lạm dụng quyền lực thị trường là những hành vi
có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn nhất, gây tổn hại cho xã hội nặng nề nhất Quyền lực thị trường càng cao mức độ nghiêm trọng của việc lạm dụng nó càng cao Vì thế, Nhà nước Việt Nam – một Nhà nước
quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân
chẽ nhất, sử dụng những biện pháp hữu hiệu nhất, có thái độ nghiêm khắc nhất so với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh khác, để ngăn chặn những hành vi lạm dụng này
có hiệu lực
quan hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền đã hoặc đang được xem xét giải quyết theo qui định của Luật Cạnh Tranh bởi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vụ việc đầu tiên là công ty TNHH
Tân Hiệp Phát (THP) khiếu nại công ty liên doanh nhà máy bia Việt Nam (VBL) Tranh chấp bắt đầu từ cuối năm 2003, và đến đầu năm
2007 thì THP chính thức gửi khiếu nại đến Cục Quản lý Cạnh tranh
Còn có tên tiếng Anh là Vietnam Competition Administration Department (VCAD)
Trong luận án này, tên viết tắt tiếng Anh VCA và VCAD có thể dùng thay thế cho nhau.
Trang 28Cạnh Tranh đã được ban hành Cục Quản lý Cạnh tranh đã ra quyết định điều tra vụ việc vào tháng 10 năm 2007, sau đó có kết luận điều
tra và chuyển vụ việc đến Hội đồng Cạnh tranh (VCC) Trên cơ sở
kiến nghị của Cục Quản lý Cạnh tranh, Hội đồng Cạnh tranh đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc vì doanh nghiệp bị khiếu nại không
đi đến quyết định xử lý của Hội đồng Xử lý Vụ việc Cạnh tranh
công ty điện ảnh nộp đơn khiếu nại lên Cục Quản lý Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của công ty Megastar vào tháng 5 năm 2010, và Cục Quản lý Cạnh tranh đã tiến hành điều tra
Nam (VNPT) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), khiếu nại về
việc tăng giá liên quan đến độc quyền phát sóng các trận đấu ngày
Chủ nhật của Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (EPL) của dịch vụ truyền
thấy hai vấn đề Một là, mặc dù Luật Cạnh Tranh và hàng loạt các luật khác, các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành, trong xã hội, đặc biệt là trong cộng đồng kinh doanh vẫn chưa có sự hiểu biết thống nhất về các khái niệm liên quan Hai là, hành vi l
51 Xem mô tả chi tiết vụ việc trong Nguyễn Thanh Tú, Competition Law, Technology
Transfer and the TRIPS Agreement - Implications for Developing Countries, NXB Edward
Elgar Publishing Ltd., Vương Quốc Anh, 2010, tr 238-242; đồng thời xem VCA, Annual
Report 2010 [Báo cáo thường niên năm 2010], tr 13, bản tiếng Anh có tại
Trang 29được
, kiểm soát độc quyền, trong đó có nội dung chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường đã được một số công trình nghiên cứu đề cập.55 Tuy nhiên, các tài liệ
ủ yếu đề cập đến vấn đề chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường dưới góc độ kinh tế xã hội hoặc nêu khái quát yêu cầu và định hướng xây dựng chế định này như một phần trong tổng thể pháp luật
về kiểm soát độc quyền Hơn nữa, sau
, một
đã diễn ra
Tranh56
55 Ví dụ, Viện Khoa học Thị trường – Giá cả, Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu Đề
án Các giải pháp kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam [Report on researching results of Project of Solutions to monopoly control and anti-unfair competition in the process of economic transition of Vietnam], Hà Nội, tháng 9 năm 1996, tiếng Việt; Viện Nhà nước và Pháp luật, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay [Competition and construction of competition law in Vietnam nowadays], NXB Công an Nhân dân, Hà Nội,
2001, tiếng Việt; Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh
không lành mạnh ở Việt Nam [Regulations on monopoly control and anti-unfair competitive activities in Vietnam], NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tiếng Việt; Trần Đình Hảo, Pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay [Laws on competition in the condition of transition to market economy in Vietnam nowadays], Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số
11(151)/2000, tr 23-28
56
Xem bài phát biểu của ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng Ban Pháp Chế Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI),
, (We gain experiences while practicing Competition Law) Có tại
http://vibonline.com.vn ; hoặc http://vietbao.vn ; đồng thời xem canh-tranh-chua-thuc-su-di-vao-cuoc-song/20099/122409.vov (Ông Trần Hữu Huỳnh nói rằng sau 4 năm thi hành, Luật Cạnh Tranh vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống, vì nhận thức
Trang 3057 Lê Danh Vĩnh; Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật Cạnh tranh tại Việt
Nam [Laws on Competition in Vietnam], NXB Tƣ Pháp, Hà Nội, 2006, tiếng Việt; và
Nguyễn Nhƣ Phát và Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật
Cạnh Tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh [Analysis and discussion on provisions of Competition Law about abuses of a dominant position, or a monopoly position to restrain competition], NXB Tƣ Pháp, Hà Nội,
2006, tiếng Việt
58 Trần Hoàng Nga, Pháp luật về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền ở
Việt Nam – Thực trạng và so sánh với một số nước [Regulations on abuse of dominant position and monopoly in Vietnam – Realities and comparison with some other countries] ,
tháng 11 năm 2004, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tiếng Anh
và tiếng Việt
Trang 31tác giả
của EU, Hoa Kỳ, Việt Nam –
.”
Kết quả từ công trình nghiên cứu này sẽ cung cấp kiến thức hữu ích
về một chế định pháp luật quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Tham khảo kinh nghiệm của các hệ thống pháp luật
đóng góp cho việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh Hơn nữa, tác giả
hy vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ hữu ích cho công tác giảng dạy của tác giả và trở thành tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
Trang 32liên quan các
;
ể xác định những đặc thù kinh tế xã hội và thực tế tình hình cạnh tranh, đặc biệt là những hành vi lạm dụng quyền lực chi phối thị trường của các chủ thể kinh doanh tại Việt Nam;
Tìm hiểu thực trạng nội dung các qui định củ
, từ đó rút ra những điểm mạnh và điểm bất cập đang tồn tại;
Đưa ra một số ý kiến đề xuất để hoàn thiện nội dung chế
Hiện nay chưa có một định nghĩa chính thức cho thuật ngữ
“định giá lạm dụng” ở các hệ thống pháp luật luận án này nghiên cứu
Trang 33Tuy nhiên, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật và các tài liệu học thuật pháp lý Có thể thấy rằng thuật ngữ này được thừa nhận một cách rộng rãi với cùng một ý nghĩa: nó dùng
để chỉ những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền liên quan đến định giá Do đó, trong phạm vi luận án này, tác giả sử
dụng thuật ngữ “định giá lạm dụng” với định nghĩa sau: Định giá lạm
dụng là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hay vị trí độc quyền (theo pháp luật cạnh tranh EU và Việt Nam) hoặc cố ý độc quyền hay nỗ lực độc quyền (theo pháp luật chống độc quyền Hoa
Kỳ), có liên quan trực tiếp với việc xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ
của chủ thể vi phạm
Luận án này chỉ tập trung vào pháp luật chống định giá lạm dụng Hay nói cách khác, nội dung của luận án hoàn toàn nằm trong khuôn khổ định giá đơn phương nhằm hạn chế cạnh tranh Luận án không bàn luận về sự thông đồng, tức là hành vi liên kết với nhau để hạn chế cạnh tranh như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành động phối
luận án cũng không bàn luận về các hành vi lạm dụng không trực tiếp liên quan với việc định giá
Công trình này tìm hiểu qui định pháp luật có liên quan và làm sáng
tỏ phạm vi áp dụng, giá trị của chúng thông qua nghiên cứu án lệ và nêu ra những vấn đề mới chưa được điều chỉnh Theo quan điểm của tác giả
Trang 34Luận án này sẽ không đề cập đến yếu tố thứ ba vì yếu tố này nằm trong phạm
vi rất rộng thủ tục tố tụng khác nhau giữa các hệ thống pháp luật và bản thân nó có thể là một đề tài nghiên cứu riêng biệt
Như tên đề tài của luận án đã xác định, tác giả lựa chọn nghiên cứu pháp luật của ba hệ thống: EU, Hoa Kỳ và Việt Nam EU và Hoa Kỳ
b
EU
luật này có nhiều kinh nghiệm trong xác định, xử lý hành vi định giá lạm dụng cũng như những hình thức lạm dụng khác Nghiên cứu hai
hệ thống này là phương thức tốt để có thể áp dụng kinh nghiệm của họ trả lời những vấn đề liên quan ở Việt Nam Tất cả các qui tắc cơ bản, các qui định về hình thức vi phạm và phương thức xử lý của pháp luật Việt Nam về định giá lạm dụng cũng sẽ được phân tích Luận án sẽ tập trung làm sáng tỏ những điểm hạn chế trong các qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam để đề xuất giải pháp khắc phục
Luận án sử dụng các dữ kiện thực tế và lý luận pháp lý có được từ nhiều nguồn khác nhau như văn b
chuyên ngành
Tất cả các trang thông tin điện tử được đề cập đến trong luận án đã được truy cập kiểm tra lần cuối vào ngày 30 tháng 6 năm 2011 Tác giả nỗ lực tối đa để đảm bảo các thông tin sử dụng là chắc chắn, đáng tin cậy và cập nhật
Luận án sử dụng án lệ của EU và Hoa Kỳ để minh họa cho các nội dung bàn luận Các vụ án được lựa chọn trên cơ sở có khả năng chứng
tỏ nội dung qui định pháp luật và giới hạn trong thời gian đến ngày 31
Trang 35tháng 3 năm 2011 Với lịch sử phát triển lâu dài, phạm vi nguồn luật của EU và Hoa Kỳ rất lớn, cung cấp lượng khổng lồ các quan điểm đa dạng và kinh nghiệm thực tế cho những vấn đề nghiên cứu của luận
án Tuy nhiên, mặt khác, điều đó gây khó khăn cho việc so sánh ở tầm
vĩ mô nhằm tìm ra những điểm giống và khác nhau điển hình giữa hai
hệ thống Vì vậy, trong một số trường hợp khi trình bày quá trình phát triển lịch sử của án lệ hoặc các lý luận ở EU và Hoa Kỳ, luận án dựa trước tiên vào các báo cáo và văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về cạnh tranh ở hai hệ thống này, bao gồm cả các nguồn tham khảo được đề cập trong đó, dù tác giả không tự mình nghiên cứu tất cả nội dung chi tiết của các nguồn này
Đối với pháp luật cạnh tranh Việt Nam thì các nhà nghiên cứu đều gặp một vài khó khăn cản trở việc tìm và cập nhật thông tin Một là việc không công bố rộng rãi thông tin về các vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam Các trang thông tin điện tử và ấn phẩm của Cục Quản lý Cạnh tranh, Hội đồng Cạnh tranh không cung cấp thông tin chi tiết về các
vụ việc đang giải quyết và cả các vụ việc đã phân xử Nội dung đầy đủ các quyết định của Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh không được công bố Hệ quả là không thể nghiên cứu đánh giá các dữ kiện, lập luận của các bên tham gia, phân tích và kết luận của cơ quan
có thẩm quyền Để vượt qua những trở ngại này, tác giả thu thập thông tin từ nhiều nguồn gián tiếp và không chính thức Các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau được so sánh với nhau để phát hiện loại bỏ những thông tin không đúng Những nguồn thông tin này được lựa chọn theo thứ tự như sau Báo cáo chính thức và ấn phẩm của cơ quan
có thẩm quyền ở thứ tự ưu tiên đầu tiên Bài viết tạp chí chuyên ngành
và tham luận tại các hội thảo khoa học ở thứ tự ưu tiên thứ hai Khi không có thông tin ở cả hai nguồn trên, thông tin chung tìm thấy trên các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ được sử dụng Hai là, khó khăn trong so sánh các thuật ngữ kinh tế dùng trong bản tiếng Anh của các văn bản pháp luật Việt Nam với các thuật ngữ kinh tế sử dụng phổ biến ở EU và Hoa Kỳ Để giải quyết vấn đề này luận án sử dụng các thuật ngữ kinh tế phổ biến phù hợp ngữ cảnh thay cho từ ngữ trong
Trang 36bản dịch văn bản pháp luật nếu những từ ngữ đó tối nghĩa khó hiểu
đã nêu ở phần trên, tác giả
, trong đó
Phương pháp nghiên cứu pháp luật truyền thống:
pháp
,
cơ sở soi rọi
về Phươ
60 Xem lý thuyết chung về các phương pháp này trong bài viết “Các phương pháp nghiên
cứu pháp luật” của Giáo sư Hans Henrik Lidgard và các học viên Cao học trong tuyển tập
“Các bài viết về Phương pháp Nghiên cứu” do Khoa Luật Đại học Lund phát hành dành
cho khóa học của Nghiên cứu sinh về Phương pháp Nghiên cứu và Văn phong Pháp lý,
2006; đồng thời xem Nguyễn Thanh Tú, Competition Law in Technology Transfer under the
TRIP Agreement – Implications for developing countries, Luận án Tiến sĩ Luật học, in tại
Thụy Điển bởi NXB Intellecta Infolog, Goteborg, tháng 5 năm 2009, tr 11-20.
Trang 37án
Phương pháp nghiên cứu pháp luật so sánh: Tác giả
t những, EU, tác giả
rõ hơn vấn đề Hơn nữa, vì
, một vấn đề chứa đựng rất nhiều thành tố mang tính kinh tế, nên cần phải xem xét luật áp dụng từ góc độ kinh tế, bằng cách sử dụng các phân tích kinh tế để giải thích, mô tả, xây dựng, tái xây dựng
lý thuyết và phân tích kinh tế đang được thừa nhận một cách phổ biến Luận án không trình bày các công thức, đồ thị hay phương trình tính toán của kinh tế học
Trong quá trình áp dụng các phương pháp nêu trên, luận án sử dụng
Trang 38ánhành vi
, tác giả
Trang 39, đặc biệt là hành vi định giá lạm dụng, từ đó có thể tránh thực hiện hành vi vi phạm
án
Ngoài Chương 1 giới thiệu về đề án nghiên cứu, luận án có ba phần
4 cùng với các kết luận của luận án