Trong lĩnh vực hình sự, có thể kể đến các đề tài sau “Định tội danh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Bộ luật hình sự 1999” – Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật K25, n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
NGUYỄN THỊ BÍCH PHƯỢNG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ TỘI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT K32
NIÊN KHÓA: 2007-2011
GVHD: MAI KHẮC PHÚC
Thạc sĩ Luật học
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 2Lời cảm ơn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sĩ Mai Khắc Phúc – Giảng viên khoa Luật hình sự trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho Luận văn này Các khiếm khuyết thuộc
về tác giả
Cuối cùng, chân thành cảm ơn các chuyên gia có bài viết được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo, trích dẫn trong Luận văn
Trang 3MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ 5
1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ 5
1.2 Khái quát hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ 7
1.2.1 Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 8
1.2.2 Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 17
1.3 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ 21
1.3.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: 21
1.3.2 Khái quát về tội phạm sở hữu trí tuệ: 24
1.4 Pháp luật hình sự một số nước về tội phạm sở hữu trí tuệ 26
1.4.1 Pháp luật hình sự Hoa Kỳ về tội phạm sở hữu trí tuệ 26
1.4.2 Pháp luật hình sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tội phạm sở hữu trí tuệ 31 CHƯƠNG 2: TỘI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 39
2.1 Các quy định về tội phạm sở hữu trí tuệ trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 39
2.1.1 Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170) 39 2.1.2 Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a) 41
Trang 42.1.3 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) 45
2.2 Phân biệt tội phạm sở hữu trí tuệ với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 51
2.2.1 Phân biệt tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với tội tuyên truyền chống nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88) 51
2.2.2 Phân biệt tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 253) 52
2.2.3 Phân biệt tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với tội vi phạm các quy
định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng
2.3 Tình hình thực thi pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ
Trang 52.4.1 BTA và những ảnh hưởng đến pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ 73
2.4.2 TRIPs và những ảnh hưởng đến pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ 76
2.5 Hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ
77
KẾT LUẬN
Trang 6họ lại không thể dùng khóa hay hàng rào để bảo vệ “tác phẩm” của mình, các thành quả này trở nên dễ dàng bị xâm hại và ngày càng có nhiều những kẻ kiếm lợi trên thành quả lao động trí tuệ của người khác mà không phải tốn bất kỳ chi phí nào Điều này sẽ làm triệt tiêu động lực sáng tạo của các chủ thể,vì xét cho cùng người ta chỉ đầu tư cho sáng tạo khoa học khi biết rằng công sức, chi phí bỏ ra sẽ được công nhận và bảo vệ Chính vì vậy mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận sự cần thiết phải có cơ chế pháp luật để trước hết là bảo hộ và sau đó là bảo vệ có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ cho các chủ thể sáng tạo
Việt Nam cũng đã có nhiều nổ lực để hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt kể từ khi trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Tuy nhiên, quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ ở nước ta
Vì vậy đã có không ít các công trình nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ ra đời để góp phần nâng cao nhận thức về đối tượng này
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã có rất nhiều đề tài khóa luận nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ, nhưng chủ yếu chỉ trong lĩnh vực dân sự Trong lĩnh vực hình sự, có thể kể đến các đề tài sau “Định tội danh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Bộ luật hình sự 1999” – Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật K25, năm 2005 của tác giả Đoàn Trần Diễm My, “Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về sở hữu trí tuệ theo tinh thần cam kết của Việt Nam với WTO” – Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật K28, năm 2007 của tác giả Trương Như Chung Mỗi đề tài đều có những đóng góp đáng quý cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam
Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 vừa được sửa đổi, bổ sung năm 2009 có nhiều thay đổi liên quan đến các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Mặc dù lần sửa đổi
Trang 72
này được đánh giá là đã đáp ứng được những yêu cầu mà WTO đặt ra cho Việt Nam trong việc tuân thủ Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) nhưng cho đến nay, các quy định này vẫn chưa đủ chi tiết và còn tồn tại nhiều bất cập để được thực thi có hiệu quả trên thực tế
Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là một nhu cầu cấp thiết Và đây cũng chính là lý do tác
giả chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ”
để nghiên cứu trong Luận văn Tốt nghiệp cuối khóa
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Việc tiếp cận và nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như những nguyên tắc, quan điểm chủ đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp biện chứng duy vật lịch sử, các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp,… các tài liệu có liên quan cũng như tình hình thực tiễn để nghiên cứu đề tài này
Nhận thức được mối liên hệ chặt chẽ giữa pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
và pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đề tài chọn cách tiếp pháp luật hình sự Việt Nam dưới góc độ là một bộ phận của pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để có cái nhìn gắn kết và toàn diện các quy định của luật hình sự liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ với các quy định chuyên ngành của Luật sở hữu trí tuệ
Phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài chủ yếu nghiên cứu các điều luật trong Bộ luật hình sự hiện hành quy định
về các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trên cơ sở vận dụng những kiến thức chuyên ngành về sở hữu trí tuệ làm rõ dấu hiệu pháp lý của những tội phạm cụ thể này,
có sự phân biệt với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự; kết hợp đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định này với tình hình nội luật hóa các quy định của Điều ước quốc
Trang 83
tế mà Việt Nam là thành viên về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật hình sự, đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam Đề tài cũng thực hiện việc nghiên cứu các tội phạm liên quan đến sở hữu trí tuệ trong luật hình sự một số nước nhằm tham khảo những điểm tiến bộ góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam Theo đó, đề tài được thực hiện như sau:
Một là, nhận thức chung về quyền sở hữu trí tuệ cũng như hệ thống pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ, chỉ ra mối liên hệ của pháp luật hình sự Việt Nam trong hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ; giới thiệu tội phạm sở hữu trí tuệ trong pháp luật hình
sự Việt Nam và trong pháp luật hình sự một số nước
Hai là, phân tích dấu hiệu pháp lý của từng tội trong nhóm tội phạm sở hữu trí tuệ,
phân biệt với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam có dấu hiệu về mặt hành vi, đối tượng tác động tương tự; đánh giá tình hình thực thi pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ và sự phù hợp của pháp luật hình sự Việt Nam với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật hình sự; cuối cùng, kiến nghị hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ
Bố cục của đề tài
Đề tài được chia thành 02 chương với 09 mục
Chương 1: Khái quát chung hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật hình sự về tội phạm sở hữu trí tuệ
- Mục 1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ
- Mục 1.2 Khái quát hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
- Mục 1.3 Khái quát pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ
- Mục 1.4 Pháp luật hình sự một số nước về tội phạm sở hữu trí tuệ
Trang 94
Chương 2: Tội phạm sở hữu trí tuệ trong pháp luật hình sự Việt Nam – một số vấn
đề lý luận, thực tiễn và phương hướng hoàn thiện
- Mục 2.1 Các quy định về tội phạm sở hữu trí tuệ trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Mục 2.2 Phân biệt tội phạm sở hữu trí tuệ với một số tội phạm khác trong
Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Mục 2.3 Tình hình thực thi pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ
- Mục 2.4 Đánh giá sự phù hợp của pháp luật hình sự Việt Nam với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật hình sự
- Mục 2.5 Hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ
Trang 105
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ
Tài sản thường được nhắc đến dưới hai hình thức là hữu hình và vô hình Và vì lẽ
“vô hình” nên hình thức tồn tại thứ hai của tài sản đã nhận được không ít sự quan tâm của giới nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan Theo Ủy ban thẩm định giá quốc tế, nếu dựa vào hình thức xuất hiện, tài sản vô hình được phân loại thành: các quyền, mối quan
hệ giữa các bên, các tài sản vô hình được lập thành nhóm như uy tín, danh tiếng…; và tài sản trí tuệ [64]
Tài sản trí tuệ không tự nhiên sinh ra, mà nó là thành quả của quá trình đầu tư sáng tạo nghiêm túc Tuy nhiên, chủ sở hữu của các tài sản này như nghệ sĩ, tác giả, nhà phát minh và các chủ thể khác lại không thể dùng khóa hay hàng rào để bảo vệ “tác phẩm” của mình, các thành quả này trở nên dễ dàng bị xâm hại và ngày càng có nhiều những kẻ kiếm lợi trên thành quả lao động trí tuệ của người khác mà không phải tốn bất
kỳ chi phí nào Điều này sẽ làm triệt tiêu động lực sáng tạo của các chủ thể, vì xét cho cùng người ta chỉ đầu tư cho sáng tạo khoa học khi biết rằng công sức, chi phí bỏ ra sẽ được công nhận và bảo vệ Đây chính là lý do mà Nhà nước cần can thiệp bằng việc ban hành pháp luật về sở hữu trí tuệ với mục đích trước hết và chủ yếu là bảo hộ, khuyến khích và tạo động lực cho các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật thông qua việc trao cho chủ thể sáng tạo các độc quyền nhất định, cho phép chủ thể quyền sở hữu trí tuệ được quyền khai thác tài sản trí tuệ của mình, ngăn cấm các hành vi sử dụng, sao chép mà
Trang 116
không có sự đồng ý và không có sự bồi hoàn xứng đáng cho họ.Các độc quyền này được gọi chung là quyền sở hữu trí tuệ
Việt Nam công nhận quyền sở hữu trí tuệ qua nhiều đạo luật khác nhau Điều 60
Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh,
sáng chế, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp” Bộ luật dân sự 2005 cũng đã dành một chương riêng để quy định về
quyền sở hữu trí tuệ Đến lượt mình, Luật sở hữu trí tuệ ra đời năm 2005 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2009) ghi nhận một cách khá hoàn thiện các khía cạnh liên quan đến sở hữu
trí tuệ Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài
sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu
công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng [25, Điều 4, khoản 1] Cụ thể:
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối tác phẩm do mình sáng tạo
ra hoặc sở hữu
Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu
vệ tinh mang chương trình được mã hóa
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự, hàm chứa các nội dung liên quan đến quan hệ về quyền sở hữu đối với các tài sản vô hình là
thành quả lao động sáng tạo của các chủ thể được pháp luật quy định bảo hộ
Trang 127
Chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá
nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ [25, Điều 4, khoản 6]
Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (là đối tượng quyền tác giả); cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa (là đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả);
Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn,
bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (là đối tượng quyền sở hữu công nghiệp);
Vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch (là đối tượng quyền đối với giống cây trồng) [25,Điều 3]
Các tài sản trí tuệ này góp phần đưa công nghệ vào trong cuộc sống thông qua việc cho ra đời nhiều sản phẩm mang tính khoa học, nâng tầm chất lượng đời sống tinh thần thông qua các sản phẩm văn hóa Chính vì lẽ đó, pháp luật về sở hữu trí tuệ đã có cơ chế tạo điều kiện cho nhiều hơn những đối tượng (ngoài chủ thể quyền sở hữu trí tuệ) được quyền tiếp cận, sử dụng các tài sản trí tuệ, cụ thể Điều 7 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (đã
được sửa đổi, bổ sung 2009) quy định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện
quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của pháp luật
1.2 Khái quát hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
Công nghệ thông tin đã làm cho thế giới ngày một phẳng hơn, kéo theo đó là những tác động không nhỏ đến tốc độ tiếp cận với các tài sản trí tuệ của con người trên khắp thế giới Tuy nhiên, cách thức mà người này tiếp cận, sử dụng thành quả lao động sáng tạo của người khác là vấn đề luôn được quan tâm, vì xét cho cùng tài sản trí tuệ cũng là đối tượng nằm trong phạm trù của chế định về tư hữu, và do đó, quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ cũng cần được tôn trọng và bảo vệ, thậm chí là bảo vệ theo một cách
Trang 138
thức “chuyên nghiệp” hơn so với cách thức bảo vệ tài sản hữu hình Tài sản trí tuệ không phải là một vật chất hiện hữu ngay khi được tạo ra, tài sản trí tuệ khó kiểm soát nhưng dễ truyền đạt, dễ được tiếp thu, dễ sử dụng và khi ai đó tự do sử dụng tài sản của người khác một cách vô điều kiện mà còn không được phép thì nghĩa là xâm phạm quyền sở hữu của chủ tài sản
Nhằm giúp cho việc kiểm soát tài sản trí tuệ được dễ dàng hơn, Nhà nước đã sử dụng pháp luật để “cố định” loại tài sản này trong nhận thức của các chủ thể, qua đó khẳng định quyền của các chủ sở hữu tài sản trí tuệ, khi đó họ sẽ trở thành chủ thể quan
hệ pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, trên cơ sở những quyền này mà chủ thể quyền và cả Nhà nước sẽ có những biện pháp bảo vệ thích hợp thông qua cơ chế thực thi pháp luật Như vậy, pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ , bao gồm pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đã tạo nên những nền tảng vững chắc
mà ở đó “tác giả” “yên tâm” sáng tạo và chủ thể khác “yên tâm” sử dụng khi đã thực hiện đúng quy định của pháp luật
1.2.1 Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Tài sản ra đời thì chủ sở hữu tài sản đã có những quyền nhất định (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) đối với tài sản đó – đó là một thứ quyền tự nhiên của con người Nhưng như đã trình bày, thuộc tính của tài sản trí tuệ khiến cho các quyền trên dễ bị xâm hại Vì thế, Nhà nước mới dùng đến pháp luật để trước hết là bảo hộ, sau
đó là bảo vệ các quyền này Cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ giúp cho ta hình dung
dễ dàng hơn tài sản trí tuệ là gì, trung tâm của chế định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là pháp luật sẽ ghi nhận các quyền nhân thân, quyền tài sản của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
1.2.1.1 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng Điều ước quốc tế
Sức mạnh sự sáng tạo của con người đã dẫn đến sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp vào những năm tám mươi, với sự ra đời của hàng loạt phát minh, sáng chế
Trang 149
Hoạt động mua bán quyền sở hữu trí tuệ ngoài biên giới quốc gia diễn ra mạnh mẽ Tuy nhiên, cùng với xu thế này, nạn xâm phạm quyền đối với các tài sản trí tuệ cũng ngày càng trở nên phổ biến và gây ra những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là đối với các tập đoàn đa quốc gia Nhìn thấy thực tiễn chung này, các quốc gia đã cùng ngồi lại với nhau đưa ra những cam kết mang tính toàn cầu cho các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, trong đó các quy định chung về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được chú trọng nhiều nhất Hàng loạt điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ đã lần lượt ra đời:
Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, ngày 09/09/1886 (Công ước Berne);
Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ, ngày 29/10/1971;
Công ước liên quan đến việc phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình truyền qua vệ tinh ngày 21/05/1974 (Công ước Brussels);
Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp, ngày 20/03/1883 (Công ước Paris);
Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới, thông qua ngày 02/12/1961
và được sửa đổi tại Geneva ngày 10/11/1972, 23/10/1978, 19/03/1991 (Công ước UPOV);
Công ước quốc tế về bảo hộ những người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm
và các tổ chức phát thanh truyền hình (công ước Rome), ngày 26/10/1961;
Công ước toàn cầu về bản quyền (được sửa đổi tại Paris ngày 24/07/1971);
Hiệp định các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) năm 1994;
Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) ngày 20/12/1996;
Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa, ngày 27/10/1994;
Hiệp ước WIPO về Quyền tác giả (WCT) ngày 20/12/1996;
Trang 1510
Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, ban hành ngày 14/04/1891, sửa đổi qua các năm 1900, 1925, 1934, 1957, 1967, và thay đổi ngày 02/10/1979;
Các điều ước đa phương khác và các điều ước song phương giữa các quốc gia với nhau
Công ước Paris và Công ước Berne là hai Điều ước quốc tế đầu tiên về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đã trở thành thành viên của hai công ước này (Việt Nam là thành viên công ước Paris năm 1981, và là thành viên của công ước Berne năm 2005)
Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đươc ký kết ngày 20/03/1883 tại Paris, được sửa đổi năm 1967 tại Stockholm Năm 1994 các quy định trong Công ước
đã được dẫn chiếu trong Hiệp định TRIPs và tạo thành chuẩn mực cơ bản của WTO về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Công ước được áp dụng cho các đối tượng, gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và chống cạnh tranh không lành mạnh Công ước đề cập đến nguyên tắc đối xử quốc gia, quyền ưu tiên đối với các đối tượng được bảo hộ và quy định các tiêu chuẩn bảo hộ chung mà tất cả các nước thành viên phải tuân thủ
Quyền ưu tiên trong công ước Paris cho phép người yêu cầu, trên cơ sở nộp đơn yêu cầu hợp lệ đầu tiên được nộp tại một trong số những nước thành viên của Công ước, có thể yêu cầu nảo hộ tại bất cứ quốc gia thành viên nào của Công ước trong một thời gian nhất định (12 tháng đối với sáng chế, mẫu hữu ích, 06 tháng đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp); các đơn nộp sau sẽ được coi như đã nộp vào cùng ngày với ngày nộp đơn yêu cầu đầu tiên Như vậy theo quy định này, khi người nộp đơn mong muốn được bảo
hộ tại nhiều nước khác nhau, họ không phải nộp đồng thời tất cả các đơn tại nước xuất xứ
và các nước khác mà có thời gian từ 06 tháng đến 12 tháng đển quyết định xem nên nộp dơn yêu cầu bảo hộ ở những nước nào và tiến hành thủ tục nộp đơn ở các nước mà họ lựa chọn [4, Điều 4]
Công ước Berne được ký kết tại Berne (Thụy Sĩ) vào năm 1886, được sửa đổi tại Paris năm 1889, tại Berlin năm 1908, hoàn thiện tại Berne năm 1914, sửa đổi tại Rome
Trang 1611
năm 1928, tại Brussels năm 1948, tại Stockholm năm 1967, tại Paris năm 1971 và được
bổ sung năm 1979 Công ước điều chỉnh các đối tượng quyền tác giả bao gồm: các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật Công ước ghi nhận nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc bảo hộ đương nhiên, nguyên tắc bảo hộ độc lập và các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, thời hạn bảo hộ đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật
Mặc dù đã có hàng loạt Điều ước quốc tế khác nhau ra đời để điều chỉnh các vấn
đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, cho đến hiện nay thì Hiệp định các khía cạnh thương lại liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) là Điều ước quốc tế được các quốc gia lưu tâm nhiều hơn cả TRIPs được ký kết vào ngày 15/04/1994
và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01/01/1995 Việt Nam khi được công nhận là thành viên của WTO thì cũng đồng thời trở thành thành viên của Hiệp định này
TRIPs chứa đựng các quy tắc về sở hữu trí tuệ trong hệ thống các quy tắc thương mại quốc tế của WTO Mục tiêu của Hiệp định là thúc đẩy sự bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; đưa ra những quy định chung về các biện pháp, thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đảm bảo các biện pháp này không cản trở các hoạt động thương mại hợp pháp [46]
Hiệp định TRIPs được đánh giá là một Hiệp định đa phương toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ Hiệp định TRIPs yêu cầu các nghĩa vụ về mặt nội dụng của các Công ước cơ bản của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Công ước Paris, Công ước Berne, Hiệp ước IPIC (về thiết kế bố trí mạch tích hợp) phải được tuân thủ Hiệp định TRIPs cũng bổ sung một số nghĩa vụ khác quan trọng về các vấn đề mà các Điều ước đó không điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa phù hợp Đối tượng điều chỉnh của Hiệp định bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giống cây trồng mới, thiết kế bố trí mạch tích hợp và thông tin bí mật, chống cạnh tranh không lành mạnh
Quyền tác giả có đối tượng được bảo hộ là cách thể hiện chứ không phải là các ý tưởng, trình tự, phương pháp vận hành hoặc khái niệm toán học Chương trình máy tính cũng được bảo hộ như bảo hộ tác phẩm văn học theo Công ước Berne Cơ sở dữ liệu
Trang 1712
được bảo hộ theo quyền tác giả, bất kể dưới hình thức đọc bằng máy tính hoặc dưới hình thức khác, kể cả trường hợp bản thân các dữ liệu không được bảo hộ với điều kiện việc lựa chọn và sắp xếp các dữ liệu là sáng tạo trí tuệ
Có thể cho phép đăng ký các dấu hiệu vô hình (ví dụ dấu hiệu âm thanh hoặc mùi vị) làm nhãn hiệu Có thể đánh giá khả năng đăng ký các dấu hiệu này dựa trên cơ sở sử dụng Tuy nhiên, việc sử dụng thực sự nhãn hiệu không được coi là một điều kiện đối với việc nộp đơn đăng ký và chỉ được cho phép từ chối đơn nếu ý định sử dụng không được thực hiện ít nhất sau 03 năm kể từ ngày nộp đơn
1.2.1.2 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật quốc gia - Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Để có được cơ hội trở thành thành viên thứ 150 của WTO, Việt Nam cũng đã có những nổ lực đáng kể trong việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ Luật sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) là đạo luật quy định chi tiết về cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Theo đó, điều kiện bảo hộ cụ thể đối với từng quyền như sau:
Đối với quyền tác giả:
Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả, là các tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc
tổ chức cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam, hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở các nước khác, hoặc quyền tác giả của các tổ chức, cá nhân nước ngoài được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Viện Nam là thành viên.[25, Điều 13]
Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; sách giáo khoa, giáo trình và các tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí-âm nhạc-sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự; tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ,
Trang 18 Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên, các tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng chưa được công
bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được đình hình thì thời hạn bảo hộ là
100 năm, kể từ khi tác phẩm được đình hình;
Đối với các tác phẩm khác và tác phẩm khuyết danh (khi các thông tin về tác giả xuất hiện) thì thời hạn bảo hộ có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết Trường hợp có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ 50 sau năm đồng tác giả cuối cùng chết
Quyền tác giả phát sinh từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký
Đối với quyền liên quan
Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan là những người trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật, chủ sở hữu cuộc biểu diễn; tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác; tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng
Đối tượng quyền liên quan được bảo hộ là cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài, hoặc bảo hộ theo Điều ước
Trang 1950 năm tính từ năm tiếp theo chương trình phát sóng được thực hiện
Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương tình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả
Đối với quyền sở hữu công nghiệp:
Tương tự như quyền tác giả, Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định cụ thể những điều kiện để được bảo hộ đối với từng đối tượng sở hữu công nghiệp Chẳng hạn, nhãn hiệu sẽ được bảo hộ nếu là dấu hiệu được nhìn thấy dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,
kể cả hình ảnh ba chiều, hoặc sử dụng kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc và các dấu hiệu này phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác; chỉ dẫn địa lý sẽ được bảo
hộ nếu sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ, hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý và sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quy định
Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục, điều kiện của Luật sở hữu trí tuệ hoặc thủ tục công nhận đăng ký quốc tế theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Như vậy, khác với quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp sẽ không mặc nhiên phát sinh khi đối tượng của của quyền sở hữu công nghiệp được hình thành mà phải trải qua thủ tục đăng ký
Trang 2015
Tuy nhiên, quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ
sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó; quyền đối với bí mật kinh doanh xác lập trên cơ
sở bí mật kinh doanh có được một cách hợp pháp và có thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh
Khi đăng ký các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp, tổ chức, cá nhân sẽ được cấp văn bằng bảo hộ, gồm bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền giải pháp hữu ích, bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý Tuy nhiên đối với chỉ dẫn địa lý, quyền đăng ký thuộc về Nhà nước, Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân người sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng lý Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó
Văn bằng bảo hộ sẽ được cấp theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên Theo đó, văn bằng bảo hộ sẽ được cấp cho đơn bảo hộ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để cấp văn bằng bảo hộ, nếu cùng ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì các bên phải thỏa thuận với nhau vì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho một đơn duy nhất, không thỏa thuận được thì tất cả các đơn đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ
Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng chính là thời hạn có hiệu lực của các văn bằng bảo hộ Cụ thể:
Bằng độc quyền sáng chế sẽ chấm dứt hiệu lực từ ngày cấp đến hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn
Bằng độc quyền giải pháp hữu ích sẽ có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn
Trang 2116
Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 05 năm kể
từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn 02 lần mỗi lần 05 năm
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm
Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có hiệu lực từ ngày cấp và kết thúc 10 năm kể từ ngày nộp đơn hoặc kể từ ngày thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được người có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới hoặc kể từ ngày tạo ra thiết kế
Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp
Đối với quyền đối với giống cây trồng:
Quyền đối với giống cây trồng xác lập trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng là tổ chức, cá nhân chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng, hoặc đầu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển đối với giống cây trồng hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng, bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài
có địa chỉ thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam, việc bảo hộ cũng có thể theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Giống cây trồng được bảo hộ phải thuộc loại danh mục loài cây trồng được nhà nước bảo hộ, do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành, có tính mới, tính khác biệt và tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp
Văn bằng bảo hộ giống cây trồng cũng sẽ được cấp trên nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và
có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 25 năm đối với giống cây thân gỗ và thân nho; đến hết 10 năm đối với giống cây trồng khác
Trang 2217
1.2.2 Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Nếu chỉ dừng lại ở xác lập quyền cho các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ (bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ) thì vẫn chưa đủ sức để ngăn chặn các hành vi xâm phạm Chính vì
lý do này mà bên cạnh việc ghi nhận các quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, các Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia vẫn rất chú trọng đến việc ghi nhận cơ chế xử lý đối với các hành vi cố ý xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng
1.2.2.1 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng Điều ước quốc tế:
Điều ước quốc tế thể hiện tiếng nói chung của các quốc gia trước các nhu cầu bức thiết của cộng đồng quốc tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh Với quy mô của mình, Điều ước quốc tế trở hành công cụ hiệu quả trong việc kêu gọi các quốc gia khác trở thành thành viên, nhờ đó, những quy phạm mang tính chất quốc tế sẽ được nội luật hóa đi vào pháp luật quốc gia, qua đó tạo sự thống nhất trong chính sách chung về quyền sở hữu trí tuệ giữa các nước
Công ước Paris quy định hàng hóa mang nhãn hiệu hay tên thương mại một cách bất hợp pháp đều bị thu giữ khi nhập khẩu vào những nước thành viên nếu nhãn hiệu hoặc tên thương mại đó được bảo hộ hợp lý, trong trường hợp pháp luật quốc gia không quy định về biện pháp thu giữ hàng hóa khi nhập khẩu thì có thể sử dụng biện pháp cấm nhập khẩu hoặc thu giữ hàng hóa trong nội địa và biện pháp khác phù hợp mà luật quốc gia áp dụng trong những trường hợp tương tự như vậy với các công dân của mình Việc
sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các chỉ dẫn sai lệch về nguồn gốc của hàng hóa cũng được phép thu giữ khi nhập khẩu
Công ước Paris khẳng định tại Điều 10, các quốc gia thành viên có trách nhiệm đảm bảo bằng công cụ pháp lý thích hợp ngăn chặn có hiệu quả các hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, … đồng thời quốc gia thành viên cũng phải có biện pháp cho phép các liên đoàn, hiệp hội, hiệp hội đại diện cho các nhà sản xuất, thương gia,
Trang 23Khác với các Điều ước quốc tế khác về sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPs đã đưa ra một cơ chế thực thi quyền sở hữu khác hoàn thiện tại phần III, với nhóm các thủ tục và các biện pháp chế tài dân sự, hành chính, nhóm quy định về các biện pháp tạm thời, về yêu cầu đặc biệt liên quan đến các biện pháp kiểm soát biên giới, và quy định về các thủ tục hình sự Theo đó, các chế tài dân sự, hành chính được đưa ra gồm lệnh cấm của Tòa
án, bồi thường thiệt hại, các chế tài khác như tiêu hủy hàng hóa xâm phạm, xử lý vật liệu, phương tiện được sử dụng để sản xuất hàng hóa xâm phạm, buộc tiêu thụ hàng hóa xâm phạm ngoài kênh thương mại, …
Các biện pháp tạm thời sẽ được sử dụng đế ngăn chặn hành vi xâm phạm xảy ra và ngăn chặn hàng hóa xâm phạm xâm nhập vào các kênh thương mại (bao gồm cả việc hàng hóa xâm phạm đã nhập khẩu vào các kênh phân phối trong nước) và để đảm bảo an toàn các chứng cứ về hành vi bị nghi ngờ xâm phạm Tuy nhiên, Hiệp định cũng quy định những biện pháp bảo đảm chống lạm dụng các biện pháp tạm thời, chẳng hạn như việc các cơ quan xét xử có quyền ra lệnh cho người nộp đơn trả cho bị đơn một khoản bồi thường thỏa đáng đối với bất kỳ thiệt hại nào đã gây ra cho việc áp dụng các biện pháp
đó
Trang 2419
Các biện pháp kiểm soát biên giới được áp dụng đối với các hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng xâm phạm bản quyền, ngoại trừ hàng nhập khẩu song song hoặc hàng nhập khẩu với số lượng nhỏ có tính chất phi thương mại thuộc hành lý cá nhân được gửi dưới dạng linh kiện nhỏ hoặc hàng hóa xuất khẩu hoặc hàng hóa quá cảnh Để đảm bảo tránh sự lạm dụng các biện pháp kiểm soát biên giới, Hiệp định ghi nhận việc cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu nộp đơn cung cấp vật bảo đảm hoặc bảo chứng đủ để bảo vệ
bị đơn và các cơ quan có thẩm quyền, ngăn chặn sự lạm dụng, … người nhập khẩu và người nộp đơn phải được thông báo nhanh chóng về việc tạm giữ hàng hóa, trong vòng
10 ngày mà chủ thể quyền không khởi kiện thì hàng hóa sẽ được thông quan bình thường,
…Chế tài được áp dụng bao gồm lệnh buộc tiêu hủy hoặc tiêu thụ ngoài kênh thương mại hàng hóa xâm phạm Bên cạnh đó, các chế tài dân sự cũng được áp dụng cho các biện pháp kiểm soát biên giới
Về thủ tục hình sự, TRIPs đòi hỏi phải áp dụng chế tài hình sự ít nhất đối với hành
vi xâm phạm bản quyền và hành vi cố ý giả mạo nhãn hiệu hàng hóa với quy mô thương mại Chế tài áp dụng là phạt tù hoặc phạt tiền và có các biện pháp xử lý hàng xâm phạm, nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng xâm phạm
Hiệp định không đòi hỏi thiết lập một hệ thống xét xử để thực thi quyền sở hữu trí tuệ độc lập với hệ thống xét xử để thực thi pháp luật nói chung, cũng không đòi hỏi việc phân bổ các nguồn lực giữa việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ với thực thi quyền pháp luật nói chung
1.2.2.2 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật quốc gia - Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng có các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ khá toàn diện Phần thứ năm của Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ghi nhận hai nhóm biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: nhóm các biện pháp
tự bảo vệ dành cho các chủ thể quyền và nhóm các biện pháp thực thi từ phía các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trang 2520
Tự bảo vệ là việc các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ áp dụng các biện pháp công nghệ ngăn ngừa hành vi xâm phạm; yêu cầu tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chấp dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm; khởi kiện ra Tòa án hoặc trọng tài
Nhóm các biện pháp thực thi từ phía cơ quan Nhà nước gồm:
Biện pháp dân sự: được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự
Biện pháp hành chính: cũng được áp dụng để xử lý các hành vi xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ, theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâm phạm hoặc do cơ quan có thẩm quyền chủ động phát hiện Để xử lý các hành vi này, Chính Phủ đã ban hành các văn bản sau: Nghị định 47/2009/NĐ-CP quy định
xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, Nghị định 97/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Nghị định 57/2005/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 172/2007/NĐ-CP
Biện pháp hình sự: được áp dụng để xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ trong trường hợp hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của
Trang 26Luật sở hữu trí tuệ còn quy định các biện pháp khác mang tính chất hổ trợ áp dụng
ba loại chế tài trên, gồm:
Biện pháp khẩn cấp tạm thời: áp dụng đối với các hàng hóa bị nghi ngờ xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hóa đó
Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa liên quan đến
sở hữu trí tuệ: chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền đăng ký giám sát nhãn hiệu tại cơ
quan hải quan để được nhận thông báo của hải quan về các lô hàng sắp thông quan tại cửa khẩu
Biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt hành chính trong những trường hợp
cần thiết: có thể được áp dụng trong trường hợp hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người và cho xã hội; hoặc tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm; hoặc nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1.3 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ
1.3.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam với vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ:
Quyền tác giả là loại quyền phát sinh sớm nhất vì nó liên quan đến các tác phẩm văn học, nghê thuật, và ra đời cùng với sự phát triển của công nghệ in ấn Khi việc in ấn
Trang 2722
trở nên dễ dàng, một quyển sách có thể được nhân thành nhiều bản, việc kiểm soát của tác giả đối với tác phẩm của mình trở nên khó khăn hơn Khi đó, nhu cầu bảo vệ quyền tác giả được chú trọng Trên thế giới, nước đầu tiên ban hành về quyền tác giả là Anh – nơi khởi đầu cuộc cách mạnh công nghiệp (1970), sau đó là Pháp (1971) và Đức Cùng với sự phát triển của các công nghệ lưu trữ, truyền thông, loại hình tác phẩm được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả sẽ ngày một tăng lên Luật về sở hữu công nghiệp lần đầu tiên trên thế giới cũng xuất hiện ở Anh (1640 – Đạo luật Elizabeth I về sáng chế).[51, trang 35]
Ở Việt Nam, pháp luật về sở hữu trí tuệ ra đời khá muộn Năm 1957 Miền Nam
có Luật thương hiệu, và vào năm 1958 Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành “ thể lệ thương phẩm và thương hiệu”, đến năm 1976, Việt Nam gia nhập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) Ngày 14/12/1982 Hội đồng Bộ trường ban hành Nghị địhh 197/HĐBT ban hành “Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa”
Việc sử dụng luật hình sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận khá muộn trong Bộ luật hình sự 1985, với điều 126 về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng
chế, phát minh “Người nào chiếm đoạt hoặc có hành vi khác xâm phạm quyền tác giả đối
với các tác phẩm khoa học, văn hoá, nghệ thuật hoặc đối với các sáng kiến cải tiến kỹ thuật và hợp lý hoá sản xuất, sáng chế, phát minh, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền đến một trăm nghìn đồng (100.000 đồng), cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ
ba tháng đến một năm”
Có thể thấy rằng, Bộ luật hình sự 1985 quy định các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chưa thực sự khoa học và hợp lý Các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo
vệ bao gồm: tác phẩm khoa học, văn hoá, nghệ thuật; sáng kiến cải tiến kỹ thuật và hợp
lý hoá sản xuất; sáng chế, phát minh Quyền sở hữu công nghiệp vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ Dấu hiệu về hành vi khách cũng chưa rõ ràng, khó có thể vân dụng điều luật này trên thực tế
Trang 2823
Cùng với quá trình phát triển khoa học-công nghệ, ý thức về sở hữu trí tuệ ngày càng tăng lên, pháp luật hình sự cũng dành sự quan tâm thích đáng hơn cho đối tượng quyền sở hữu trí tuệ Bộ luật hình sự 1999 ra đời, tách Điều 126 của Bộ luật hình sự 1985 thành tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171), ngoài ra Bộ luật hình sự 1999 còn bổ sung thêm tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (170)
Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) được quy định trong chương các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, có chủ thể là những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Nếu hành vi chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chủ thể của tội này phải là người đã bị xử phạt hành chính về một các các hành vi quy định tại Điều này, hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Khách thể trực tiếp của tội phạm là quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ thể quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ Hành vi khách quan được miêu tả trong điều luật bao gồm các hành vi chiếm đoạt quyền tác giả, mạo danh tác giả, sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm, công bố, phổ biến bất hợp pháp tác phẩm Hậu quả trong cấu thành tội phạm là hậu quả nghiêm trọng Hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng là các tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 131
Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã quy định cụ thể về cách xác định hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng dựa trên các tiêu chí về lợi nhuận thu được, thiệt hại vật chất gây ra cho chủ thể quyền, giá trị của hàng hóa vi phạm Tội xâm phạm quyền tác giả được thực hiện với lỗi cố ý Hình phạt được áp dụng với tội phạm này có thể là phạt tiền (từ 20 triệu đến 200 triệu), cải tạo không giam giữ, phạt tù (từ 06 tháng đến 03 năm)
Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) Tội phạm này thực hiện với lỗi cố ý vì mục đích kinh doanh, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là chủ thể thường Xâm phạm các đối tượng sau: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn
Trang 2924
hiệu hàng hóa, tên gọi, xuất xứ hàng hóa, hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam Các dấu hiệu khác tương tự như tội xâm phạm quyền tác giả
Cùng với nhu cầu hội nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO), trở thành thành viên các Điều ước quốc tế quan trọng của tổ chức này, trong đó có Hiệp định các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), pháp luật của Việt Nam về sở hữu trí tuệ buộc phải thích nghi với những tiêu chuẩn mới.Và vì lý do này mà luật hình sự Việt Nam cũng có những thay đổi đáng kể trong lần sửa đổi năm 2009 Trong lần sửa đổi này, tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170) được giữ nguyên cấu thành; Điều 170a quy định về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được bổ sung và thay thế Điều 131 (tội xâm phạm quyền tác giả) Theo Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật hình sự thì kể từ ngày 01/01/2010 sẽ không xử lý hình sự đối với những người thực hiện các hành vi xâm phạm quyền tác giả được nêu tại Điều 131 Bộ luật hình sự Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) cũng đã được thay đổi
để phù hợp với các Điều ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên
1.3.2 Khái quát về tội phạm sở hữu trí tuệ:
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ luôn tồn tại phổ biến, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận sự cần thiết phải có cơ chế hình sự để xử lý nghiêm minh với những xâm phạm đó, hay nói cách khác hình sự hóa các hành vi nguy hiểm xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ là một nhu cầu tất yếu đã tồn tại trong xu thế chung Nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của luật hình sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ, tác giả sử dụng khái niệm “tội phạm sở hữu trí tuệ” Theo đây, tội phạm sở hữu trí
tuệ được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ
Trang 3025
Dấu hiệu pháp lý của tội phạm sở hữu trí tuệ như sau:
Khách thể của tội phạm sở hữu trí tuệ:
Khách thể của tội phạm sở hữu trí tuệ là các quan hệ xã hội về quyền sở hữu trí tuệ, phát sinh trong giai đoạn xác lập hoặc giai đoạn thực hiện các quyền, nghĩa vụ mà Luật sở hữu trí tuệ ghi nhận cho chủ thể có liên quan Thông qua việc xâm phạm các quan hệ xã hội này, tội phạm sở hữu trí tuệ xâm phạm khách thể chung của tội phạm gồm
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [19, Điều 8]
Đối tượng tác động của tội phạm sở hữu trí tuệ là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (như các tác phẩm, nhãn hiệu,…) hoặc hoạt động bình thường của các chủ thể tham gia vào quan hệ quyền sở hữu trí tuệ
Mặt khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ:
Hành vi khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ có thể được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội hoặc không hành động phạm tội, bao gồm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, quyền liên quan, quyền đối với giống cây trồng), hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể là dấu hiệu bắt buộc trong một số trường hợp phạm tội Hậu quả này có thể là thiệt hại vật chất gây ra cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, hoặc thiệt hại phi vật chất như trật tự quản lý của Nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, trong những trường hợp này cần chứng minh được hành vi khách quan xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian, đồng thời giữa hành vi và hậu quả có tồn tại mối quan hệ nội tại, tất yếu (mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả)
Ngoài ra, đối với một số trường hợp, mặt khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ còn bao gồm quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về tư cách chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, nội dung và giới hạn các quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ (ví dụ như quy định
Trang 3126
của luật sở hữu trí tuệ về các trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao),
Chủ thể của tội phạm sở hữu trí tuệ:
Chủ thể của tội phạm sở hữu trí tuệ là chủ thể thường, nhưng trong một số trường hợp là chủ thể đặc biệt, chẳng hạn như người có chức vụ, quyền hạn trong việc cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Mặt chủ quan của tội phạm sở hữu trí tuệ:
Tội phạm sở hữu trí tuệ được thực hiện với lỗi cố ý Người thực hiện hành vi khách quan của tội phạm nhận thức rõ hành vi mà họ thực hiện là trái pháp luật, xâm phạm quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, mà các quyền này đang được pháp luật bảo
hộ Họ thấy được hành vi đó sẽ gây thiệt hại cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, gây mất trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ nhưng lại mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả này xảy ra
Người thực hiện các tội phạm sở hữu trí tuệ thường nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận nhưng đây không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm
Dựa vào các dấu hiệu trên, tội phạm sở hữu trí tuệ trong Bộ luật hình sự hiện hành của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm các tội phạm cụ thể sau:
Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a);
Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170);
Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171);
1.4 Pháp luật hình sự một số nước về tội phạm sở hữu trí tuệ
1.4.1 Pháp luật hình sự Hoa Kỳ về tội phạm sở hữu trí tuệ
Hoa Kỳ là một trong những nước có nền khoa học phát triển bậc nhất thế giới Tài sản trí tuệ tạo ra một nguồn lợi nhuận khổng lồ cho nền kinh tế của quốc gia này và do vậy, việc nghiên cứu, sáng tạo, phát triển tài sản trí tuệ cũng nhận được sự quan tâm đầu
Trang 3227
tư tương xứng Đây cũng chính là lý do mà pháp luật hình sự của Hoa Kỳ quy định hình phạt rất nghiêm khắc đối với các tội phạm sở hữu trí tuệ
Liên quan đến bản quyền
Điều 506 Luật bản quyền của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1976 đưa ra quy định chung về các hình phạt hình sự đối với vi phạm về bản quyền Theo đó, bất kỳ người nào xâm phạm một cách cố ý quyền tác giả phục vụ cho mục đích thu lợi nhuận thương mại hoặc giành các mục tiêu tài chính cá nhân sẽ bị phạt tù theo quy định của Điều 2319 Điều luật số 28 Sẽ phạt tù không quá 05 năm, hoặc bị phạt một khoản tiền, hoặc kết hợp cả hai nếu sự vi phạm này bao gồm việc tái nhân bản hoặc phân phối, trong bất kỳ khoảng thời gian 180 ngày nào, của ít nhất 10 bản sao hoặc bản ghi, của một hoặc nhiều tác phẩm bảo
hộ, với giá trị bán lẻ trên 2.500$ Nếu vi phạm lần thứ hai hoặc hành vi vi phạm kể trên tiếp diễn sẽ bị phạt tù không quá 10 năm hoặc bị phạt một khoản tiền, hoặc kết hợp cả hai Những trường hợp khác sẽ bị phạt tù không quá 01 năm hoăc bị phạt một khoản tiền,
hoặc kết hợp cả hai hình phạt
Cũng theo quy định tại Điều 506, bất kỳ người nào với ý định lừa dối, in trên bất
kỳ đồ vật nào một ký hiệu quyền tác giả hoặc cụm từ có ý nghĩa tương tự mà người này biết sự lừa dối đó, phân phối tới công chúng hoặc nhập khẩu để phân phối tới công chúng bất kỳ đồ vật nào mang ký hiệu hoặc cụm từ như vậy mà người này biết sự lừa dối đó, sẽ
bị phạt không quá 2.500$
Bên cạnh đó các hành vi gian lận trong việc xóa bỏ ký hiệu quyền tác giả, gian lận
trong việc trình bày cũng sẽ bị xem là vi phạm hình sự Cụ thể:
Người nào với ý định lừa dối, xóa bỏ hoặc sửa đổi bất kỳ ký hiệu hiệu quyền tác giả nào
trên bảo sao của một tác phẩm được bảo hộ sẽ bị phạt không quá 2.500$
Người nào gian dối trong việc trình bày về sự thật tư liệu sử dụng trong việc nộp đơn đăng ký quyền tác giả, hoặc trong bất kỳ một tuyên bố bằng văn bản nào được nộp liên quan đến đơn đăng ký đó sẽ bị phạt không quá 2.500$
Trang 3328
Hành vi phá vỡ các hệ thống bảo vệ bản quyền cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các Điều 1202 đến 1205 của Điều luật số 17 với hình phạt tù lên đến 05 năm, nếu tái phạm thì có thể chịu hình phạt lên đến 10 năm
Hành vi tiếp nhận các dịch vụ cáp mà không được phép cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 553 Điều luật số 47, với hình phạt lên đến 06 tháng tù đối với cá nhân sử dụng, 02 năm tù trong trường hợp nhằm thu lợi nhuận thương mại, hình phạt tù lên đến 05 năm đối với trường hợp tái phạm
Ngoài ra hành vi ghi và buôn bán bản ghi âm và các băng video âm nhạc của các buổi biểu diễn nhạc sống không được phép cũng được quy đinh trong Điều 2319 Theo điều luật này, người nào không được sự đồng ý của người trình diễn hoặc những người trình diễn, biết rằng và nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc thu lợi cá nhân khác, thực hiện hành vi:
Ghi các âm hoặc các âm thanh và hình ảnh của buổi trình diễn nhạc sống trên các bản sao hoặc các bản ghi, hoặc nhân bản các bản sao hoặc bản ghi của buổi trình diễn đó từ việc ghi buổi trình diễn không được phép;
Truyền hoặc phổ biến khác tới công chúng các âm thanh hoặc các âm thanh và
hình ảnh của buổi trình diễn nhạc sống;
Phân phối hoặc đưa ra phân phối, bán hoặc chào bán, cho thuê, mời thuê, hoặc buôn bán bất kỳ bản sao hoặc bản ghi được tạo ra trái phép, không phụ thuộc vào
việc sự ghi đó xảy ra tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hay không,
sẽ bị phạt tù không quá 05 năm hoặc bị phạt một khoản tiền hoặc cả hai hình phạt Nếu vi phạm lần thứ hai hoặc là tái phạm sau đó thì sẽ bị phạt tù không quá 10 năm, hoặc bị phạt
tiền, hoặc cả hai hình phạt
Liên quan quyền sở hữu công nghiệp
Hành vi buôn bán hàng hóa, dịch vụ giả theo Điều 2320 Điều luật số 38 sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hình phạt tù lên đến 10 năm, trong trường hợp tái phạm hình phạt được áp dụng có thể lên đến 20 năm Cụ thể như sau: hành vi cố ý lưu thông hoặc cố gắng để lưu thông hàng hóa, dịch vụ và cố ý sử dụng một nhãn hiệu giả mạo trên hoặc kết
Trang 3429
hợp với hàng hóa, dịch vụ, hoặc cố ý lưu thông hoặc cố gắng để lưu thông các nhãn, các bản vá lỗi, giấy dán, giấy gói, phù hiệu, biểu tượng, huy chương, hộp, thùng chứa, thùng,… mà biết rằng các nhãn giả này khi được áp dụng có khả năng gây ra nhầm lẫn, gây ra sai lầm, hoặc để đánh lừa khách hàng Cá nhân thực hiện hành vi này sẽ bị phạt tiền không quá 2.000.000$ hay phạt tù không quá 10 năm, hoặc cả hai Nếu không do cá nhân thực hiện thì bị phạt tiền không quá 5.000.000$ Nếu thuộc trường hợp tái phạm thì
cá nhân thực hiện hành vi phạm tội sẽ bị phạt tiền không quá 5.000.000$ hoặc bị phạt tù không quá 20 năm, hoặc cả hai; nếu chủ thể thực hiện tội phạm không phải là cá nhân thì
bị phạt tiền không quá 15.000.000$
Người phạm tội còn phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu và các nạn nhân khác của hành vi phạm tội
Lưu ý người thực hiện hành vi vi phạm có thể biết hoặc không biết về nhãn hiệu bị giả mạo đã được đăng ký ở Hoa Kỳ, nhưng vì mục đích lợi nhuận mà đã thực hiện hành
vi, lợi nhuận này là các khoản thu được hoặc dự kiến nhận được của bất cứ thứ gì có giá trị
Hành vi buôn bán nhãn giả đối với bản ghi, bản sao của chương trình máy tính hoặc chương trình tài liệu máy tính hoặc gói sản phẩm, bản sao của tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác, và buôn bán các tài liệu chương trình máy tính hoặc gói sản phẩm giả cũng được điều chỉnh tại Điều 2318 Điều luật số 111 Tội phạm quy định tại điều này được thực hiện với lỗi cố ý Người thực hiện hành vi biết là buôn bán nhãn giả được dán hoặc được thiết kế để dán trên bản ghi, bản sao của chương trình máy tính hoặc tài liệu hoặc gói sản phẩm của chương trình máy tính hoặc bản sao của tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác; hoặc người thực hiện hành vi vi phạm mà biết là buôn bán các tài liệu và gói sản phẩm giả của chương trình máy tính
Hành vi được miêu tả trong điều luật diễn ra thuộc vùng biển hoặc biên giới thuộc quyền tài phán của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, hoặc trên máy bay thuộc quyền tài phán của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ;
Trang 3530
Hành vi có thể căn cứ vào thư từ hoặc các phương tiện vận chuyển giữa các tiểu Bang hoặc buôn bán ngoại thương được sử dụng hoặc chủ ý sử dụng trong việc vi phạm Nhãn hiệu được dán hoặc được gửi kèm theo, hoặc được thiết kế để dán hoặc gửi kèm theo bản sao của chương trình máy tính được bảo hộ hoặc các tài liệu hoặc gói sản phẩm được bảo hộ của chương trình máy tính, tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác được bảo hộ, hoặc bản ghi của bản ghi âm được bảo hộ; hoặc các tài liệu hoặc gói sản phầm của chương trình máy tính được bảo hộ
Lưu ý: nhãn giả có nghĩa là dấu hiệu của nhãn hoặc vỏ bọc có vẻ như thật nhưng không phải là thật Buôn bán có nghĩa là vận chuyển, chuyển nhượng hoặc định hoạt quyền sở hữu khác với bất kỳ người nào nhằm thu lại bất kỳ giá trị nào hoặc đạt được sự kiểm soát về ý định vận chuyển, chuyển nhượng hoặc định đoạt đó
Hành vi trộm cắp bí mật thương mại sẽ áp dụng theo Điều 1832 Điều luật số 18, với hình phạt dành cho cá nhân lên đến 10 năm tù, đối với tổ chức phạm tội thì hình phạt
có thể lên đến 5.000.000$ Cụ thể, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nhằm mục đích tạo lợi ích kinh tế cho bất cứ chủ thể nào, cố ý định hoặc nổ lực thực hiện việc chiếm một bí mật thương mại liên quan đến hoặc bao gồm trong một sản phẩm được sản xuất hoặc đem ra bán giữa các bang hoặc bán ra nước ngoài; hoặc cố ý đánh cắp, hoặc không được phép mà lấy, mang đi, che giấu, hoặc bằng việc gian lận, lừa dối để có được thông tin; hoặc không được phép mà sao chép, phác thảo, vẽ, chụp ảnh, tải lên mạng, sửa chữa, phá hủy, sao chụp, tái tạo, truyền tải, tường thuật, nhắn, gửi, trao đổi qua giao tiếp, chuyển nhượng thông tin; hoặc nhận, mua, hoặc chiếm hữu thông tin mà biết thông tin này có được do bị đánh cắp, chiếm đoạt, thu được hoặc chuyển đổi mà không được phép; hoặc âm mưu với một hay nhiều người khác để phạm tội nêu tại điều này, trong đó có một hoặc một số người là người thực hành
Với các các tội trên, Tòa án được quyền ra lệnh tịch thu và tiêu hủy hoặc áp dụng hình thức xử lý khác đối với tất cả các hàng hóa vi phạm cũng như những công cụ, phương tiện hoặc thiết bị được sử dụng trong việc sản xuất các hàng hóa vi phạm đó
Trang 3631
Như vậy, theo pháp luật của Hoa Kỳ thì mọi hành vi cố ý xâm phạm bản quyền (quyền tác giả, quyền liên quan) bất kể nhằm mục đích thu lợi nhuận thương mại hay nhằm vào các mục tiêu tài chính cá nhân đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự Hành vi xâm phạm bản quyền bao gồm cả các hành vi phá vỡ các hệ thống bảo vệ bản quyền Ngoài bản ghi âm, bản ghi hình thì cuộc biểu diễn cũng là đối tượng được pháp luật hình
sự Hoa Kỳ bảo vệ Đối với quyền sở hữu công nghiệp thì ngoài hàng hóa, dịch vụ cũng là đối tượng được xem xét đến trong các hành vi làm giả nhãn hiệu Hình phạt chính được
áp dụng đối với các tội phạm sở hữu trí tuệ bao gồm hình phạt tiền và phạt tù hoặc cả hai, trong đó, hình phạt tù có thể lên đến 20 năm
1.4.2 Pháp luật hình sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tội phạm sở hữu trí tuệ
Trung Quốc là nước có chế độ chính trị, kinh tế – xã hội khá gần gũi với Việt Nam Đối với loại tội phạm sở hữu trí tuệ, Bộ luật hình sự của Trung Quốc đã dành một mục riêng (từ điều 213 đến điều 220) để quy định các tội phạm trong lĩnh vực này
Cùng với Bộ luật hình sự thì văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc về một số vấn đề áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là văn bản đóng vai trò vô cùng quan trọng, hướng dẫn chi tiết cấu thành tội phạm đối với từng tội phạm sở hữu trí tuệ cụ thể
Đối với quyền tác giả, quyền liên quan
Điều 217 Bộ luật hình sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã quy định những hành vi khách quan sau đây, nếu được thực hiện với lỗi cố ý thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
Chưa được tác giả cho phép mà phục chế và phát hành các tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, truyền hình, video, phần mềm máy tính và các tác phẩm khác;
Xuất bản sách, báo thuộc bản quyền của người khác;
Trang 37sẽ bị phạt tù đến 3 năm hoặc bị bắt giam và bị phạt tiền, hoặc bị phạt tiền về tội xâm phạm quyền tác giả:
Tổng giá trị thương mại bất chính lớn hơn 50.000 RMB;
Sao chép, phân phát nhiều hơn 1000 bản sao tác phẩm viết, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm tranh, chương trình truyền hình hoặc các tác phẩm nghe nhìn khác, phần mềm máy tính hoặc những tác phẩm khác, hoặc những trường hợp nghiêm trọng khác mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả
Nếu người thực hiện hành vi pham tội vì mục đích tư lợi và tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 150.000 RMB hoặc có những tình tiết đặc biệt nghiệm trọng sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm và bị phạt tiền về tội xâm phạm quyền tác giả:
Tống giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 250.000 RMB;
Sao chép và phân phối nhiều hơn 5000 bản sao tác phẩm viết, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm tranh, chương trình truyền hình và các tác phẩm nghe nhìn khác, phần mềm máy tính hoặc các tác phẩm khác mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc các trường hợp đặc biệt nghiệm trọng khác
Luật hình sự Trung Quốc cũng xem là tội phạm đối với hành vi tiêu thụ những sản phẩm được tạo ra từ các hành vi phạm tội tại điều luật nêu trên Theo đó, Điều 218 Bộ luật hình sự này quy định, người nào vì mục đích kinh doanh mà tiêu thụ những sản phẩm phục chế mà biết rõ là vi phạm quyền tác giả được ghi nhận tại Điều 217 của Bộ luật này, nếu tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 100.000 RMB thì bị phạt tù không quá
ba 03 năm, hoặc bị bắt giam và bị phạt tiền hoặc bị phạt tiền về tội bán các tác phẩm sao chép xâm phạm quyền tác giả
Trang 3833
Lưu ý, được xem là “không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả” là các trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả không cho phép, hoặc các tài liệu về sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả bị sửa đổi, hoặc phạm vi cho phép bị vượt quá
Nếu phạm tội xâm phạm quyền tác giả đồng thời bán hàng hóa được sản xuất bằng việc xâm phạm quyền tác giả thì chỉ bị truy cứu về tội phạm tại Điều 217 Tuy nhiên, nếu người phạm tội xâm phạm quyền tác giả đồng thời cố ý bán các tác phẩm do người khác sao chép bằng việc xâm phạm quyền tác giả thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng và áp dụng một hình phạt chung cho các tội phạm đã thực hiện
Đối với quyền sở hữu công nghiệp
Trung Quốc cũng hình sự hóa rất nhiều những hành vi nguy hiểm xâm phạm đến đối tượng này Cụ thể:
Điều 213 quy định về tội giả mạo các nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký Theo đó, với lỗi cố ý, các hành vi sử dụng nhãn hiệu hàng hóa trùng với nhãn hiệu đã được đăng
ký quyền sở hữu, hoặc nhãn hiệu hàng hóa không có sự khác biệt đáng kể có thể nhìn thấy được so với nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký mà dẫn đến sự nhầm lầm của người tiêu dùng, cho các hàng hóa cùng loại mà không được sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa và thuộc các trường hợp sau thì bị phạt tù không quá 03 năm hoặc bị bắt giam
và phạt tiền, hoặc bị phạt tiền:
Tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 30.000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 30.000 RMB;
Làm giả nhiều hơn 02 nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký, tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 30.000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 20.000 RMB; hoặc các trường hợp nghiêm trọng khác
Nếu thuộc các trường hợp sau thì sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và bị phạt tiền:
Tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 25000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 150.000 RMB;
Trang 3934
Làm giả nhiều hơn 02 nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký, tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 150.000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 100.000 RMB;
Thuộc các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác
Lưu ý, hành vi “sử dụng” được nêu tại Điều luật này được hiểu là hành vi dùng các nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký hoặc giả mạo các nhãn hiệu hóa đã đăng ký trên các sản phẩm hàng hóa, đóng gói hàng hóa và các công – ten – nơ, trên các hướng dẫn sử dụng đối với người sử dụng hàng hóa và trên các tài liệu giao dịch hàng hóa, hoặc sử dụng các nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký hoặc nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký bị giả mạo cho hoạt động quảng cáo, rao hàng, trưng bày và các hoạt động kinh doanh khác
Trường hợp phạm tội giả mạo hàng hóa đồng thời bán các hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo nhãn hiệu tại Điều 213 Tuy nhiên, nếu phạm tội giả mạo hàng hóa đồng thời cố ý bán các hàng hóa mang nhãn hiệu
bị làm giả mạo bởi người khác thì bị truy cứu trách nhiệm tương ứng với từng hành vi và
áp dụng chung một hình phạt cho các tội phạm đã thực hiện
Điều 214 Bộ luật hình sự của Trung Quốc quy định về tội bán hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo nhãn hiệu đã đăng ký Tội này cũng được thực hiện với lỗi cố ý, người phạm tội đã thực hiện hành vi bán các hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo các nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký có tổng giá trị mua bán lớn hơn 50.000 RMB thì bị phạt tù 03 năm, hoặc bị bắt giam và bị phạt tiền, hoặc bị phạt tiền
Nếu tổng giá trị mua bán lớn hơn 250.000 RMB thì người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và bị phạt tiền
Tổng giá trị mua bán là toàn bộ thu nhập bất hợp pháp có được hoặc sẽ có được từ việc bán hàng hóa mang các nhãn hiệu bị giả mạo
Lỗi cố ý trong trường hợp phạm tội tại điều này được hiểu là người phạm tội biết rằng các nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký trên các sản phẩm hàng hóa mà người đó bán bị sửa đổi, thay thế hoặc che phủ; hoặc bán các sản phẩm hàng hóa tương tự với các sản phẩm hàng hóa mà do các sản phẩm hàng hóa này người đó đã bị xử phạt vi phạm hành
Trang 4035
chính hoặc đã phải chịu trách nhiệm dân sự vì bán các sản phẩm hàng hóa mang nhãn hiệu đã đăng ký bị giả mạo; hoặc giả mạo hoặc sửa đổi các tài liệu được cấp phép của người đăng ký, hoặc biết các tài liệu đó bị giả mạo hoặc bị sửa đổi; các trường hợp khác
mà thực tế cho thấy việc các sản phẩm hàng hóa mang nhãn hiệu đã đăng ký là giả mạo
đã được biết trước
Điều 215 quy định về tội sản xuất trái phép nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký và bán trái phép nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký Với tội phạm này, người phạm tội đã cố ý làm giả hoặc trình bày các nhãn hiệu hàng hóa theo các nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký của người khác, mà không được sự cho phép của của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc bán sự trình bày này cho người khác và thuộc trường hợp sau thì bị phạt tù không quá 03 năm, hoặc bị bắt giam hoặc bị giám sát công cộng và bị phạt tiền, hoặc bị phạt tiền:
Tổng số lượng các nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký bị làm giả, hoặc bị sản xuất trái phép, hoặc tổng số lượng các nhãn hiệu hàng hóa bị đem bán lớn hơn 20.000 bản, hoặc tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 50.000 RMB, hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 30.000 RMB;
Nhãn hiệu hàng hóa bị làm giả, bị sản xuất trái phép hoặc bị đem bán là nhiều hơn
02 nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký của người khác và tổng số lượng các nhãn hiệu hàng hóa bị đem bán lớn hơn 10.000 bản hoặc tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 30.000 RMB, hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 20.000 RMB; hoặc các trường hợp nghiêm trọng khác
Nếu thuộc các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và bị phạt tiền:
Tổng số lượng nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký bị làm giả hoặc bị sản xuất trái phép, hoặc tổng số lượng các nhãn hiệu hàng hóa bị đem bán lớn hơn 100.000 bản, hoặc tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 250.000 RMB, hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 150.000 RMB;
Nhãn hiệu hàng hóa bị làm giả, bị sản xuất trái phép hoặc bị đem bán là nhiều hơn
02 nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký của người khác và tổng số lượng các nhãn hiệu hàng hóa bị làm giả, bị sản xuất trái phép, hoặc tổng số lượng các nhãn hiệu hàng