1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ý KIẾN PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ VỀ Ý NGHĨA, TÍNH KHẢ THI VÀ KHẢ DỤNG CỦA “PHƯƠNG ÁN CẢI TIẾN CHỮ QUỐC NGỮ” CỦA TÁC GIẢ BÙI HIỀN VÀ ĐỀ ÁN “CHỮ VIỆT NAM SONG SONG 4.0” CỦA KIỀU TRƯỜNG LÂM VÀ TRẦN TƯ BÌNH

22 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu ..... Phương pháp nghiên cứu pháp nghiên cứu để hoàn thành bài nghiên cứu... Định và danh từ chung như Ungue: ông Nghè, Ontrum: ông Trùm.. Năm 1626

Trang 1

H ỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TI ỂU LUẬN

Ý KIẾN PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ VỀ Ý NGH ĨA, TÍNH KHẢ THI VÀ KHẢ DỤNG CỦA “PHƯƠNG ÁN CẢI TIẾN CHỮ QUỐC NGỮ” CỦA TÁC GIẢ BÙI HIỀN

V À ĐỀ ÁN “CHỮ VIỆT NAM SONG SONG 4.0” CỦA

KI ỀU TRƯỜNG LÂM VÀ TRẦN TƯ BÌNH

Sinh viên: NGUY ỄN XUÂN THANH HIỀN

M ã số sinh viên: 2156080014

L ớp: TRUYỀN HÌNH CLC K41

H à Nội, tháng 12 năm 2021

Trang 2

M ỤC LỤC

M ỤC LỤC 1

M Ở ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

N ỘI DUNG 4

I Kh ái quát về chữ Quốc ngữ 4

1 Khái niệm về chữ Quốc ngữ 4

2 Lịch sử hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ 4

3 Vai trò của chữ Quốc ngữ với dân tộc 8

II Quan điểm của bản thân về “Phương án cải tiến chữ Quốc ngữ” của tác gi ả Bùi Hiền và đề án “Chữ Việt Nam song song 4.0” của tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình 11

A “Phương án cải tiến chữ Quốc ngữ” của tác giả Bùi Hiền 11

1 Ý kiến phân tích 11

2 Bình luận và đánh giá 14

B “Chữ Việt Nam song song 4.0” của tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình 16

1 Ý kiến phân tích 16

2 Bình luận và đánh giá 18

C T ính khả thi và khả dụng của hai công trình nghiên cứu 19

K ẾT LUẬN 20

T ÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

M Ở ĐẦU

1 T ính cấp thiết của đề tài

Đã hơn trăm năm nay nước ta chính thức sử dụng chữ quốc ngữ, thứ chữ viết được các nhà trí thức tiên tiến đầu thế kỷ 20 ca ngợi là “hồn trong nước”, là công

này hay dở cũng ở chữ quốc ngữ”

giáo dục Nó là công cụ bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam Chữ quốc ngữ là cơ sở để tiếng Việt phát triển, là cơ sở để phát triển nền quốc học lên một tầm

được nét đẹp ngôn ngữ là điều cần thiết cũng như là thách thức không dễ vượt qua Bài nghiên cứu này sẽ trình bày ý kiến phân tích, bình luận, đánh giá về ý

2 M ục đích nghiên cứu

Mục đích của tiểu luận là tìm hiểu, nghiên cứu về “Phương án cải tiến chữ Quốc ngữ” của tác giả Bùi Hiền và đề án “Chữ Việt Nam song song 4.0” của tác

đánh giá, tính khả thi, khả dụng của hai phương án và đề án trên theo khách quan

Trang 4

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu trên, tiểu luận có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Làm sáng tỏ khái niệm, quá trình hình thành, phát triển và vai trò của chữ

- Phân tính, bình luận, đánh giá về “Phương án cải tiến chữ Quốc ngữ” của tác giả Bùi Hiền và đề án “Chữ Việt Nam song song 4.0” của tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình

4 Đối tượng nghiên cứu

Tiểu luận khái quát về quá trình hình thành, và vai trò của chữ Quốc ngữ với

án cải tiến chữ Quốc ngữ” và “Chữ Việt Nam song song 4.0” kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng nó trong thực tiễn

5 Ph ạm vi nghiên cứu

và những vấn đề liên quan đến tính thực tiễn trong việc cải thiện, cải tiến chữ

6 Phương pháp nghiên cứu

pháp nghiên cứu để hoàn thành bài nghiên cứu

Trang 5

N ỘI DUNG

I Kh ái quát về chữ Quốc ngữ

1 Khái niệm về chữ Quốc ngữ

Chữ Quốc ngữ là hệ chữ viết chính thức trên thực tế hiện nay của tiếng Việt Bộ chữ Quốc ngữ sử dụng các ký tự La-tinh, dựa trên các bảng chữ cái của nhóm ngôn ngữ Rô-man đặc biệt là bảng chữ cái Bồ Đào Nha, với các dấu phụ chủ yếu từ bảng chữ cái Hy Lạp

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, Chương I Điều 5 Mục 3 ghi là "Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt", khẳng định tiếng Việt là Quốc ngữ Tuy nhiên, Hiến pháp không đề cập đến "chữ viết quốc gia", dẫn đến chưa xây dựng được các quy tắc nhất quán được đồng thuận về chữ quốc ngữ trong cộng đồng sử dụng tiếng Việt

Tên gọi "chữ Quốc ngữ" được dùng để chỉ chữ Quốc ngữ La-tinh lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1867 trên Gia Định báo Tiền thân của tên gọi này là chữ Tây Quốc ngữ Về sau từ Tây bị lược bỏ đi để chỉ còn là chữ Quốc ngữ; còn tên gọi chữ Tây bấy giờ được chuyển sang để chỉ chữ Pháp Quốc ngữ nghĩa mặt chữ

tiếng Việt

2 Lịch sử hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ

1. Giai đoạn phôi thai (thế kỉ 16-17)

Chữ Quốc ngữ hiện nay được coi là công trình sáng tạo của cả một tập thể Bắt đầu từ thế kỷ 16, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở châu Âu Các nhà thương mại đi đến đâu thì các nhà truyền giáo theo đến đó Chữ Quốc ngữ được hình thành có lẽ từ năm 1533 khi giáo sĩ phương Tây tên là I-nê-khu đi từ đường

Trang 6

biển vào truyền đạo Thiên Chúa ở tỉnh Nam Định Trước tiên là các giáo sĩ Bồ Đào Nha dòng Phanxico; kế đến là các giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Đa Minh rồi

đã dùng chữ La-tinh để ghi lại những cách phát âm của tiếng Việt và giảng nghĩa những chữ đó bằng tiếng của họ Như vậy chữ Quốc ngữ ban đầu được ra đời nhằm mục đích để truyền đạo Số văn tịch ghi lại dấu vết loại chữ này nhiều, kèm

bày về lịch sử hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ, TS Phạm Thị Kiều Ly, chuyên gia nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ của Đại học Sorbonne Nouvelle (Pháp)

sĩ tham gia, trong đó tiêu biểu là Alexandre de Rhodes, Francisco de Pina hay

nghiên cứu thực tế phát âm của người Việt, mày mò tìm kiếm ký tự tương đương

Minh chứng cho thứ chữ phiên âm tiếng Việt ở thời kỳ này chỉ có thể tập hợp những bức thư, những bản tường trình lẻ tẻ viết tay bằng tiếng Ý, tiếng Bồ gửi cho cấp trên Chẳng hạn João Roiz đến Cửa Hàn viết một báo cáo bằng tiếng Bồ gửi về La Mã (1621) trong đó có từ Annam (viết liền), unsai: ông sãi, ungue: ông Nghè (Nghè bộ - chức quan cai trị về địa ba tài chính), Cacham: Kẻ Chàm (Thanh Chiêm, Quảng Nam)

Văn kiện của Gaspar Luis viết từ Macao gửi về La Mã (đề ngày 17/11/1621) thuật lại các việc xảy ra ở miền Nam Việt Nam có những tên riêng như Facfo: Hải phố (Hội An), Tuson: Đà Nẵng, Cachiam: Kẻ Chàm, Noiicman: Nước Mặn (Bình

Trang 7

Định) và danh từ chung như

Ungue: ông Nghè, Ontrum: ông

Trùm Năm 1626, Gaspar Luis

trong bản tường trình hàng năm,

viết bằng tiếng La-tinh ghi một

số địa danh Dinhcham, Cacham,

Nuocman, Quanghia, Quinhin,

Ranran: Đà Nẵng

2. Giai đoạn hình thành (thế kỉ 17-18)

Đến đây kể như chữ Quốc ngữ đã được

Việt Nam từ rất sớm, gần như đồng thời

năm (1640 – 1645) Rồi Chúa Nguyễn

Phúc Loan cũng cấm đạo, ông đành trở về

là một thành quả lớn cho việc san định chữ Quốc ngữ

Trang 8

Dương Hiệp tự vị” Cuốn này do giám mục Bá

Đa Lộc soạn nhưng chưa kịp in (Bá Đa Lộc

Georges Pigneau de Behaine, thường viết

Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18) Sau đó, bản thảo được giám mục Jean – Louis Taberd dùng để

3. Giai đoạn phát triển (từ 1862 đến nay)

Cho đến năm 1862, chữ Quốc ngữ chỉ được sử dụng trong giới truyền giáo, nhưng khi người Pháp xâm chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, chữ Quốc ngữ đã trở

đã ra sức phổ biến chữ Quốc ngữ và vì chữ Quốc ngữ rất là dễ học so với chữ Nôm

Trong giai đoạn này đã có nhiều tác phẩm

“Tam Tự Kinh”, “Minh Tâm Bửu Giám”, từ

điển song ngữ của Trương Vĩnh Ký, v.v Đặc

xưa nhất mà hiện nay còn lưu hành với 7537 từ

đơn Quyển này chứa nhiều từ ngữ xưa mà

Trang 9

ngày nay không còn được sử dụng nữa Vì vậy, nó là một kho tài liệu vô cùng quý

Định Báo (1865), Phan Yên Báo (1868), Nhật Trình Nam Kỳ (1883), Nam Kỳ Địa Phận (1883), Nông Cổ Mím Đàm (1901), v.v Đánh dấu sự tiến triển vượt bậc của

3 Vai trò của chữ Quốc ngữ với dân tộc

Trong khu vực Châu Á hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia hiếm hoi sử dụng mẫu tự La-tinh làm chữ viết của mình (theo Đặc san Văn Lang 1992) Bỏ qua một bên những bất lợi nho nhỏ, thì việc sử dụng chữ Quốc ngữ rõ ràng đã mang lại nhiều lợi ích trong công cuộc bảo tồn và phát triển nền văn hoá dân tộc và là một bước ngoặt lớn lao trong lịch sử, đánh dấu sự tách xa dần khỏi vòng ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc lên văn hoá dân tộc ta

tượng hình là chữ Hán, chữ Nôm, do vậy chúng ta tiết kiệm được rất nhiều thời

việc truyền bá học chữ Quốc ngữ cho toàn dân dễ hơn rất nhiều so với chữ Hán và

xưa, có đến hơn 90% dân số không biết chữ, nhưng khi toàn dân bắt đầu học chữ

giặc dốt ở nước ta trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước

ở nước ta

Về phương diện giáo dục thì đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, song song

Trang 10

cử, cùng với việc thành lập Nha học chính Đông Dương và trường Đại học Đông Dương của chính phủ thực dân, thay thế hoàn toàn cho nền Nho học Việt Nam Đặc biệt sự ra đời của phong trào Duy tân do Phan Chu Trinh khởi xướng cùng với sự thành lập hàng loạt các trường tư thục của ông và các chí sĩ yêu nước khác như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can,… đã góp phần thúc đẩy

huy văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam

Trong báo cáo toàn văn được đọc tại Hội thảo, GS TS Nguyễn Thiện Giáp đã nêu lên vai trò của chữ quốc ngữ như sau:

- Chữ Quốc ngữ là cơ sở để mở rộng chức năng của tiếng Việt, nó vươn lên thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia Nó được dùng trong hành chính, ngoại giao, giáo dục Nó là công cụ bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam

- Chữ Quốc ngữ là cơ sở để tiếng Việt phát triển Về mặt từ vựng, chữ quốc

ngữ đã giúp tạo ra những từ mới nhằm hỗ trợ việc diễn đạt tư duy trong

chiều sâu và đỉnh cao của nó Về ngữ pháp, dấu chấm câu mà chữ quốc ngữ

du nhập vào Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc sáng tạo các câu văn viết một cách sáng sủa, mạch lạc…, điều mà chữ Nôm trước đây không có Chữ quốc ngữ đã giúp diễn đạt tư duy logic, thể hiện những tư tưởng khoa

học cách trọn vẹn hoàn hảo Về mặt âm, chữ quốc ngữ giúp xác định chính

âm cho tiếng Việt, tạo sự thống nhất chữ viết trong toàn lãnh thổ Việt Nam, cho dẫu Việt Nam có nhiều phương ngữ và nhiều dân tộc thiểu số

- Chữ quốc ngữ là cơ sở để phát triển nền quốc học lên một tầm cao mới Căn cứ vào di sản Hán Nôm Việt Nam, chúng ta chỉ có vỏn vẹn 5038 quyển, trong đó có những quyển trùng nhau, nhiều quyển không mấy giá trị… Nếu làm một cuộc so sánh với nền quốc học được ghi bằng chữ quốc ngữ hiện

Trang 11

nay, thì dù chỉ trong một thời gian ngắn, chữ quốc ngữ đã vượt hẳn và làm cho nền quốc học phong phú biết chừng nào

Mặc dù chữ quốc ngữ đã tạo nền cho tiếng Việt phát triển đến đỉnh cao, nhưng

tiếng Việt vẫn không được gọi là “ngôn ngữ quốc gia”, mà các văn bản của nhà nước chỉ gọi tiếng Việt và chữ quốc ngữ là tiếng và chữ phổ thông Mãi cho đến Hiến pháp năm 2013, trong điều 5 mới xác định: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng

Vi ệt”, và điều này khiến chúng ta hiểu ngầm rằng “chữ Quốc ngữ là chữ biểu thị ngôn ng ữ tiếng Việt sẽ là chữ Quốc ngữ với nghĩa đầy đủ và trọn vẹn của nó”

Trang 12

Ý tưởng cải tiến chữ Quốc ngữ không phải mới xuất hiện trong những năm

g ần đây mà đã xuất hiện từ những năm đầu tiên của thế kỉ 20 Trong Hội nghị

qu ốc tế khảo cứu về Viễn Đông đã có những người đề xuất thay đổi một số chữ như: K thay cho C, Q; D thay cho Đ, Z thay cho D, J thay cho GI,… Trong t ập sách d ạy vần Lên sáu in năm 1919, sẽ thấy thi sĩ Tản Đà nhận xét: “Chữ Quốc

ng ữ của ta chưa chu toàn”, do đó, ông đề nghị viết ong, ông, ung, ưng, oc, uc, ức bằng onh, ônh, unh, ưnh, ôc, uch, ưnh Đã thế, ông còn đề nghị thay ươch

b ằng ưc (ví dụ: bực cười/bượch cười) Còn vì sao phải thay đổi như thế, không

th ấy ông giải thích Từ tháng 10.1928 đến 2.1929, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh

vi ết nhiều bài liên tiếp trên Trung Bắc tân văn xoay quanh vấn đề lý do sửa đổi

ch ữ Quốc ngữ bỏ dấu phụ Qua hàng trăm năm, đã có rất nhiều các phương án

c ải tiến tiếng Việt nhưng đều bị bác bỏ bởi sự thiếu khoa học và thiếu tính khả thi nhưng thường chỉ có các nhà khoa học quan tâm “Phương án cải tiến chữ

Qu ốc ngữ” của tác giả Bùi Hiền và đề án “Chữ Việt Nam song song 4.0” của

t ác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình cũng không được đánh giá cao về

t ính khả thi, tuy nhiên hai công trình nghiên cứu trên lại được sự chú ý đặc biệt

c ủa dư luận

II Quan điểm của bản thân về “Phương án cải tiến chữ Quốc ngữ”

c ủa tác giả Bùi Hiền và đề án “Chữ Việt Nam song song 4.0” của

t ác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình

A “Phương án cải tiến chữ Quốc ngữ” của tác giả Bùi Hiền

1 Ý kiến phân tích

- Bảng chữ cái và cách thể hiện hệ thống ngữ âm tiếng Việt chính thống

xưa nay:

Bảng chữ cái : Tổng cộng: 29 chữ cái đơn:

Downloaded by Quang Tr?n (tranquang141994@gmail.com)

Trang 13

6 thanh (bằng, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng)

1 Tận dụng toàn bộ bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành:

N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y

2 Bổ sung một số chữ cái tiếng La tinh: F,

J, W, Z

3 Bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt

4 Thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên: Cc > ch, tr ; Dd > đ, Gg

> g, gh, Ff > ph, Kk > c, k, q , Qq > ng, ngh, Rr > r, Ss > s, x , Xx > kh, Ww > th,

Zz > d, gi, r

5 Tạo thêm một chữ cái mới cho âm vị còn lại là [N’, n’] Riêng chỉ có âm vị [N’ n’] là thiếu ký tự sẵn có nên phải tạo ra một cái mới dựa trên cơ sở gắn kết 2 ký tự

cũ thành một ký tự NH nh bằng cách cắt bỏ một nét sổ dọc của chữ H, n

Downloaded by Quang Tr?n (tranquang141994@gmail.com)

Trang 14

Công trình nghiên cứu "cải tiến chữ Quốc ngữ" điều chỉnh bảng chữ cái hiện

mà trong bảng chữ La-tinh không có

Cách quy định cho những ước lệ mới giữa các chữ cái (kí tự) với các âm vị tương ứng theo nguyên tắc “1 âm – 1 chữ, 1 chữ - 1 âm” nhằm loại bỏ hoàn toàn

Ch ữ Quốc ngữ Ch ữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền

LUẬT GIÁO DỤC

Điều 7 Ngôn ngữ dùng trong nhà

trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và

học tiếng nói, chữ viết của dân tộc

thiểu số; dạy ngoại ngữ

1 Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức

dùng trong nhà trường và cơ sở giáo

dục khác Căn cứ vào mục tiêu giáo

dục và yêu cầu cụ thể về nội dung

giáo dục, Thủ tướng chính phủ quy

định việc dạy và học bằng tiếng nước

ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo

dục khác

LUẬT ZÁO ZỤK Diều 7 Qôn qữ zùq coq n’à cườq và

kơ sở záo zụk xák; zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số; zạy qoại qữ

1.Tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák Kăn kứ vào mụk tiêu záo zụk và yêu kầu kụ wể về nội zuq záo zụk, Wủ tướq cín’ fủ kuy dịn’ việk zạy và họk bằq tiếq nướk qoài coq n’à cườq và kơ

sở záo zụk xák

Downloaded by Quang Tr?n (tranquang141994@gmail.com)

Ngày đăng: 09/02/2022, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. “Phương á n c ả i ti ế n ch ữ Qu ố c ng ữ” củ a t á c gi ả B ù i Hi ề n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương án cải tiến chữ Quốc ngữ
7. Đề án “Chữ Việt Nam song song 4.0” của tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Việt Nam song song 4.0
8. Văn bản “Vai trò của chữ Quốc ngữ trong bảo tồn và phát huy Văn hoá Vi ệ t Nam ” c ủ a Nguy ễ n Th ủ y Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của chữ Quốc ngữ trong bảo tồn và phát huy Văn hoá Việt Nam
9. “ Nh ữ ng b ản tường trình đầ u tiên v ề khu truy ề n giáo Đ àng Trong ” và “ Ch ữQu ố c ng ữ ti ền đắ c l ộ” c ủ a t á c gi ả Nguy ễ n Thanh Quang, Võ Đình Đệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bản tường trình đầu tiên về khu truyền giáo Đàng Trong”và “ChữQuốc ngữ tiền đắc lộ
1. B á o Viettimes: https://viettimes.vn/vien-ngon-ngu-chu-quoc-ngu-cua-pgs-ts-bui-hien-xuat-phat-tu-muc-dich-tot-nhung-thieu-kien-thuc-chuyen-mon-post89158.html Link
2. B á o Vietnamnet: https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/media/chu-quoc-ngu-hinh-thanh-nhu-the-nao-414444.html Link
3. B á o ti ế ng Vi ệ t online ” http://tiengvietonline.com.vn/hoc-tieng-viet/chu-quoc-ngu-viet-nam-co-tu-bao-gio/ Link
4. B áo Người đưa tin : https://www.nguoiduatin.vn/cai-cach-chu-quoc-ngu-chuyen-le-ra-khong-nen-ban-nua-phan-2-a393338.html Link
5. Website c ủ a Công á n t ỉ nh H à Nam: https://congan.hanam.gov.vn/Pages/Y-tuong-cai-tien-chu-Quoc-ngu-%C4%91a-co-tu-%C4%91au-the-ky-thu-XX2080977273.aspx Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w