1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005

21 3,6K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 132,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005

Trang 1

2005 cũng đã có những quy định xung quanh vấn đề tài sản chính vì thế emxin chọn đề tài: “Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân

Ta có thể hiểu tài sản là của cải được con người sử dụng Theo nghĩanày thì tài sản luôn biến đổi và phát triển cùng với sự thay đổi của thời gian,của điều kiện xã hội, của sự nhận thức con người về giá trị vật chất nênphạm vi của tài sản qua mỗi thời kì lại được nhìn nhận ở một góc độ khácnhau Có thể nhận thấy tài sản là khách thể của quyền sở hữu, nó có thể làđối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của các hoạt động sáng tạotinh thần

Theo điều 163 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005: “Tài sản bao gồm vật,tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản.”

Trang 2

Trong đó vật được hiểu là bộ phận của thế giới khách quan mà con

người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình Vật chỉ có ýnghĩa khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phậncủa thế giới vật chất mà con người không kiểm soát, không chiếm hữu được

nó thì cũng đồng nghĩa với việc con người không tác động được vào nó Do

đó, gió, không khí, mưa… thuộc về mặt vật chất nhưng không thể được coi

là tài sản về mặt pháp lí Hơn nữa, là đối tượng của trong quan hệ pháp luậtphải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ Như vậy, muốntrở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những điều kiện: là bộ phận của thếgiới vật chất, con người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thểđang tồn tại hoặc hình thành trong tương lai

Tiền theo kinh tế - chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng

làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sản được coi là tiềnhiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị trường

Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện

nay, đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng

Nó được hiểu là giấy tờ có trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao tronggiao lưu dân sự Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền vàchuyển giao được trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay được tồn tạidưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hốiphiếu, kì phiếu, công trái…Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là doNgân hàng nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quanban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần,…; nếutiền luôn có mệnh giá nhất định, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghidanh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể

có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặckhông ghi danh và việc định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giácũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền Cần chú ý các loại giấy tờxác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, giấy đăng kí ô tô,…không phải là giấy tờ có giá

Ngoài vật, tiền, giấy tờ có giá thì tài sản còn được xác định là quyền tài

sản và quyền tài sản được quy định tại điều 181 của Bộ luật dân sự 2005:

“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong

Trang 3

giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Quyền tài sản được hiểu theonghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiệnhành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiệnmột nghĩa vụ đem lại vật chất cho mình Xét theo ý nghĩa này thì quyền sởhữu cũng là quyền tài sản (vật quyền) Quyền yêu cầu người khác thực hiệnnghĩa vụ tài sản (trái quyền) cũng là quyền tài sản

Có thể thấy rằng những loại tài sản được pháp luật thừa nhận tại Điều

163 Bộ luật dân sự là kết quả của quá trình phát triển lưu thông dân sự đượcnhà nước thừa nhận Tuy nhiên, pháp luật thường chậm hơn thực tiễn nênviệc liệt kê sẽ rất có thể là không đầy đủ hoặc không theo kịp sự phát triểncủa khoa học và đời sống Bởi vậy để đi tìm một khái niệm chung nhất chotài sản là rất khó Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội đặcbiệt là với nền kinh tế thị trường thì phạm vi tài sản là không hạn chế trong

đó tài sản vô hình đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học kĩthuật, sản xuất hàng hóa Do vậy pháp luật ngày càng chú trọng đến việc bảo

vệ quyền sở hữu của các chủ thể đối với sản phẩm trí tuệ do con người tạo ranhư với việc ban hành Luật sở hữu trí tuệ

Ngoài ra cũng cần phân biệt khái niệm tài sản với khái niệm hàng hóatrong khoa học chính trị - kinh tế học (là sản phẩm do con người tạo ra cógiá trị và giá trị sử dụng) Giá trị của hàng hóa được được xác định bằng laođộng xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng hóa đó Vì vậy thấy rằng đất đai, tàinguyên thiên nhiên là vật (tài sản) chứ không phải hàng hóa Như vậy tài sảncần được tiếp cận ở phạm vi rộng hơn so với khái niệm hàng hóa

Ngày nay, tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong

sự chiếm hữu của một chủ thể, đó là một khái niệm rộng và không giới hạn,luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra

2 Đặc điểm

Từ những nhận định trên ta có thể nêu ra một số đặc điểm của tài sản:

Thứ nhất, tài sản có giá trị thể hiện ở việc chúng đều trị giá được bằng

tiền Tiền là thước đo giá trị của các loại tài sản khác Theo Điều 163 thìnhững tài sản còn lại như vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản đều có thể quyđổi ra tiền

Thứ hai, tài sản luôn phải đáp ứng một lợi ích nào đó cho chủ thể có

quyền (cả về vật chất lẫn tinh thần)

Trang 4

Thứ ba, tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự, chính bởi như thế

khái niệm về tài sản được mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kì để phù hợpvới điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó

Thứ tư, khái niệm tài sản trong cuộc sống khác với khái niệm tài sản

trong pháp lí Pháp luật là công cụ thực hiện quyền lực, ý chí của một nhànước với các quan hệ xã hội Bởi vậy nếu như nhà nước không công nhậnmột loại tài sản thì nó sẽ không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật

Sự quy định đâu là tài sản dựa vào ý chí của nhà nước đưa vào bộ luật dân

sự Ví dụ như vào thời kì nhà nước phong kiến – chủ nô thì: nô lệ được coi

là một loại tài sản, có thể được trao đổi, mua bán qua lại, đến nhà nước xãhội chủ nghĩa với chính sách tôn trọng và đảm bảo nhân quyền thì con ngườikhông bao giờ bị coi là tài sản cả mà họ là chủ của tài sản

3 Phân loại.

Tài sản là một chế định quan trọng của luật dân sự mà trong đó việcphân loại tài sản có một ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ tài sản là công cụ của đờisống xã hội Nó liên quan tới hàng loạt các vấn đề pháp lý như: thuế, bảođảm nghĩa vụ dân sự, thừa kế, hiệu lực của hợp đồng, bán tài sản, công khaicác quyền tài sản, thương mại, tư pháp quốc tế

Thứ nhất, dựa vào đặc tính vật lí của tài sản theo Điều 174 Bộ luật dân

c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”

Cách phân loại này chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí của tài sản là có thể

di dời được hay không thể di dời được (một số nước còn dựa vào cả côngdụng của tài sản như luật của Pháp coi cả hạt giống, máy móc nông cụ… làbất động sản) Đây là cách phân loại truyền thống mà khá nhiều nước trênthế giới lựa chọn vì các quy phạm điều chỉnh hai loại tài sản này là hai hệthống riêng rẽ độc lập với nhau khi áp dụng cho việc xác lập, thực hiện giaodịch dân sự liên quan Nhà làm luật cũng định nghĩa bất động sản theo

Trang 5

phương pháp liệt kê căn cứ vào đó thì hiện nay đất đai và những tài sản gắnliền với đất đai như nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên… sẽ đượccoi là bất động sản Tuy nhiên điều luật đã quy định về bất động sản mộtcách mở chứ không liệt kê khép kín như khái niệm tài sản của Điều 163 vìvậy những tài sản khác mà pháp luật quy định vẫn được coi là bất động sản(như quyền sử dụng đất) Việc phân loại động sản và bất động sản có nhiều

ý nghĩa như:

Xác lập thủ tục đăng kí đới với tài sản (quyền sở hữu với bất động sảnđược đăng kí theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đăng kí bấtđộng sản, quyền sở hữu với động sản thì không đăng kí trừ trường hợp phápluật quy định khác);

Xác định thời điểm chuyển giao quyền sử hữu đối với tài sản (khoản 1,Điều 168 BLDS 2005 quy định việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bấtđộng sản có hiệu lực từ thời điểm đăng kí quyền sở hữu, trừ trường hợp phápluật có quy định khác, còn khoản 2, Điều 168 quy định việc chuyển quyền

sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyểngiao trừ trường hợp pháp luật có quy định khác);

Xác định được các quyền năng của chủ thể quyền đối với từng loại tàisản nhất định (pháp luật ghi nhận cho các chủ thể có những quyền năng nhấtđịnh đối cới tài sản của người khác để bất động sản có thể khai thác đượccông dụng một cách tốt nhất như quyền sử dụng hạn chế bất động sản liềnkề);

Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đốitượng là bất động sản trong trường hợp các bên không có thỏa thuận (theoquy định tại Điều 284 BLDS 2005 thì trong trường hợp các bên không cóthỏa thuận khác thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi có bất động sản nếuđối tượng của nghĩa vụ là bất động sản Nếu đối tượng không phải là bấtđộng sản thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi cư trú, trụ sở của người cóquyền);

Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu (như tại Điều 239 BLDS 2005quy định nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là độngsản sẽ thuộc sở hữu của người phát hiện còn nếu vật là bất động sản thì sẽthuộc sở hữu nhà nước…);

Trang 6

Xác định hình thức của hợp đồng (theo quy định của Điều 459 BLDS

2005 thì việc mua bán đấu giá bất động sản phải được thành lập thành vănbản có công chứng, chứng thực hoặc phải được đăng kí nếu pháp luật có quyđịnh…);

Là căn cứ để xác định thời hạn thời hiệu và các thủ tục khác (thời hạnchuộc lại với đối với tài sản đã bán trong hợp đồng mua bán có chuộc lại đốivới động sản là một năm và đối với bất động sản là năm năm theo điều 462BLDS);

Xác định phương thức kiện dân sự: Theo điều 257; Điều 258 BLDS

2005 thì điều kiện để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyềnyêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với động sản và bất động sản là khác nhau.); Xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự

Thứ hai, dựa vào nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản thì có thể

phân tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức

Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng khai thác công dụng thìsinh ra lợi ích vật chất nhất định

Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại (hoa quả thu hoạch từcây cối, con nghé do con trâu đẻ ra)

Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà khôngphải do tài sản tự sinh ra (tiền cho thuê nhà, tiền lãi…)

Như vậy cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khaithác và sử dụng tài sản gốc

Việc phân loại tài sản theo hướng này có những ý nghĩa nhất định: xácđịnh chủ sở hữu của tài sản (hoa lợi sẽ thuộc chủ sở hữu của tài sản, lợi tức

sẽ thuộc về người có quyền sử dụng hợp pháp tài sản đó.);

Xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc chỉđược hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản gốc mà không được khai thác côngdụng của tài sản để thu lợi tức (trường hợp cầm giữ tài sản trong hợp đồngsong vụ thì bên cầm giữ tài sản có quyền thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ vàđược dùng để bù trừ nghĩa vụ theo Điều 416 BLDS 2005)

Thứ ba, căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò, ý nghĩa của tài sản đối với

chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, quản lí nhà nước thì ta phân ra tài sản

có đăng kí quyền sở hữu, tài sản không đăng kí quyền sở hữu

Trang 7

Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật quy định bắtbuộc phải đăng kí, nếu không đăng kí sẽ không được công nhận quyền sởhữu đối với tài sản đó (nhà, máy bay, súng săn…)

Tài sản không đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà theo quy định củapháp luật không buộc phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền(quần áo, đồ chơi…)

Với cách phân loại tài sản này cũng có ý nghĩa pháp lí trong một sốtrường hợp nhất định:

Xác định thời điểm phát sinh, chuyển giao quyền sở hữu (đối với tài sản

có đăng kí quyền sở hữu thì theo quy định của pháp luật quyền sở hữu chỉphát sinh khi hoàn thành thủ tục đăng kí, không phụ thuộc tài sản đó là bấtđộng sản hay động sản căn cứ vào Điều 439 BLDS 2005);

Xác định phương thức kiện dân sự (kiện vật quyền hay kiện trái quyềnđược quy định từ Điều 257 đến Điều 260 BLDS 2005.);

Xác định hình thức của hợp đồng (theo quy định của Điều 467 BLDS

2005 thì tặng cho bất động sản phải được thành lập văn bản có công chứng,chứng thực hoặc phải đăng kí, nếu theo quy định của pháp luật bất động sảnphải đăng kí quyền sở hữu.)

Thứ tư, căn cứ vào chế độ pháp lí đối với tài sản, người ta phân chia tài

sản thành ba loại: tài sản cấm lưu thông, tài sản hạn chế lưu thông và tài sản

tự do lưu thông

Tài sản cấm lưu thông là tài sản mà ví lợi ích của nó đối với nền kinh tếquốc dân, ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước cấm giao dịch (vũkhí quân dụng, ma túy, chất phóng xạ, động vật quý hiếm…)

Tài sản hạn chế lưu thông là tài sản khi dịch chuyển trong giao dịch dân

sự nhất thiết phải tuân theo những quy định riêng pháp luật Trong một sốtrường hợp phải được sự đồng ý, cho phép của cơ quan nhà nước có thẩmquyền (vũ khí thể thao, thanh toán bằng ngoại tệ với số lượng lớn…)

Tài sản lưu thông tự do là những tài sản mà không có quy định nào củapháp luật hạn chế việc dịch chuyển đối với tài sản đó, nếu có sự dịch chuyểnthì các chủ thể không cần phải xin phép

Việc xác định đúng loại tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc xác địnhhiệu lực pháp lí của giao dịch dân sự Cụ thể: tài sản cấm lưu thông khôngthể trở thành đối tượng trong giao dịch dân sự Chính vì vậy nếu các bên vẫn

Trang 8

xác lập giao dịch này thì giao dịc đó sẽ là giao dịch vô hiệu tuyệt đối do cónội dung vi phạm điều cấm của pháp luật; và khi đó tài sản giao dịch, hoalợi, lợi tức sẽ bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Thứ năm, căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập

quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản được phân thành loại tài sản hiện có vàtài sản hình thành trong tương lai

Tài sản hiện có là tài sản đã có và tồn tại vào thời điểm hiện tại và đãđược xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó

Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặcchưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét (thường là thời điểm xác lậpnghĩa vụ hoặc giao dịch dân được giao kết) nhưng chắc chắn sẽ được hìnhthành trong tương lai (tiền lương sẽ được hưởng, xe máy đang được lắpráp…) Ngoài ra tài sản hình thành trong tương lai còn gồm cả tài sản đãđược hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm đó thìtài sản mới thuộc sở hữu của các bên (tài sản có được do mua bán, trao đổi )Với việc phân loại tài sản này ta có thể thấy ý nghĩa của nó:

Xác định đối tượng được phép giao dịch (Điều 282 BLDS 2005 có quyđịnh đối tượng của nghĩa vụ dân sựu phải được xác định cụ thể và theo Điều

411 BLDS 2005 thì trong trường hợp ngay từ khi kí kết, hợp đồng có đốitượng không thể thực hiện được vì lí do khách quan thì hợp đồng này vôhiệu.);

Xác định hình thức thủ tục xác lập (Việc xác lập giao dịch có đối tượng

là tài sản sẽ có trong tương lai buộc các bên phải bàn giao những giấy tờchứng minh mình là người có quyền sở hữu đối với tài sản sẽ hình thànhtrong tương lai đó.)

Thứ sáu, căn cứ vào điều 163 BLDS 2005 ta cũng có một cách phân

loại tài sản Cách phân loại này mang tính chất liệt kê, theo đó thì tài sảnđược phân thành: vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản Đây là cáchphân loại tài sản hiện hành của pháp luật Việt Nam, bên cạnh một số hạn chếthì nó mang nhiều ý nghĩa pháp lí Khi đối tượng của giao dịch là các loại tàisản khác nhau thì phương thức thực hiện cũng sẽ được áp dụng khác nhau.Như vậy việc phân thành các loại tài sản như trên sẽ có ý nghĩa trong việchình thành nên các quy phạm điều chỉnh của pháp luật sao cho phù hợp vớichúng để tránh gây ra tranh chấp trong quá trình giao thông dân sự Bên

Trang 9

cạnh đó cách phân loại này còn có ý nghĩa trong Luật hình sự khi xác địnhđược đúng các loại tài sản, sẽ giúp xác định đúng tội danh như tội vậnchuyển trái phép hàng hóa tiền tệ (Điều 154 BLHS),…

Ngoài ra, tài sản còn được phân thành nhiều loại như tài sản chung, tàisản riêng; tài sản là tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng; tài sản có thật, tài sảnảo; tài sản cố định, tài sản lưu động; tài sản công, tài sản tư…

II Tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành.

1 Vật.

a, Khái niệm

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất và con người có thể chiếm hữu,

sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của mình cả về vật chất lẫn tinhthần Bộ luật dân sự năm 2005 đã có sự mở rộng phạm vi về vật từ “vật cóthực” (BLDS 1995) sang “vật” (BLDS 2005) là tài sản Như vậy, khái niệmvật không chỉ dừng lại ở khái niệm vật hiện hữu mà vật hình thành trongtương lai cũng có thể được coi là tài sản Tại Điều 175 BLDS 2005 đã xácđịnh loại tài sản này là hoa lợi, lợi tức đây chính là sự gia tăng của tài sảntrong điều kiện nhất định

Do sự phát triển của khoa học và công nghệ khái niệm vật trong khoahọc pháp lí cũng được mở rộng như chất thải nếu sử dụng làm nguyên liệu

sẽ được coi là vật nhưng ở dạng bình thường thì không coi là vật

Bộ luật dân sự đã quy định vật với tư cách là một loại tài sản của quan

hệ pháp luật dân sự nhưng lại không giải thích vật là gì Vì vậy có nhiềutranh luận về điều kiện về vật là tài sản Tuy nhiên có một sự thống nhất chorằng vật là tài sản hữu hình, nó sẽ mang đặc tính của một tài sản hữu hìnhnhư thuộc sở hữu của ai đó, mang một lợi ích vật chất hoặc tinh thần, có thểđang tồn tại hoặc được hình thành trong tương lai

b, Đặc điểm

Vật có một số đặc điểm sau: Vật thuộc thế giới vật chất và phải do conngười chiếm hữu được; đối với vật chúng ta có thể khai thác công dụng hữuích từ chính vật đó; vật có thể do nhiều chủ thể sáng tạo ra (vật có thể đượccấu tạo đơn giản hoặc phức tạp, do vậy đối với những vật có kết cấu cầu kìthì không phải một chủ thể có thể tạo ra nó được cần phải có sự hợp tác củanhiều chủ thể như xe máy, ôtô…); chủ sở hữu của vật sẽ có quyền định đoạtđối với vật (hủy bỏ, đập bỏ…), thay đổi hình dáng vật thuộc sở hữu

Trang 10

c, Phân loại.

Trong các loại tài sản thì vật là tài sản thông dụng nhất, phổ biến nhất

và được đưa vào giao dịch dân sự nhiều nhất Tuy nhiên mỗi loại vật lại cóđặc tính khác nhau và khi trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự lạicần phải có quy chế pháp lí để điều chỉnh riêng, chính vì thế có các cáchphân loại vật sau:

Thứ nhất, dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc về công dụng của vật đối

với nhau mà vật được phân thành vật chính và vật phụ

Vật chính là vật độc lập có thể khai thác công dụng theo tính năng Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vậtchính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính

Việc phân loại vật thành vật chính vật phụ có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định đúng nghĩa vụ giao vật Theo nguyên tắc chung, vật chính vàvật phụ là đối tượng thống nhất, nếu các bên không có thỏa thuận gì khác,thì vật phụ phải đi kèm vật chính khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vậtchính, tuy nhiên các bên có thể thỏa thuận khác Ngoài ra việc phân loại nàycòn có ý nghĩa trong việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu trong trườnghợp sáp nhập tài sản (Điều 236 BLDS)

Thứ hai, dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra

thành nhiều phần nhỏ mà BLDS phân chia vật thành vật chia được và vậtkhông chia được

Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tínhnăng sử dụng ban đầu.( xăng, gạo…)

Vật không chia được tức là vật khi chia thành nhiều phần nhỏ thì mỗiphần không thể có được tính chất cũng như tính năng sử dụng ban đầu củavật (đồng hồ, điện thoại…) Những vật không chia được khi buộc phải chiathì phải trị giá bằng tiền để chia

Việc phân loại này đặc biệt có ý nghĩa khi cần phải phân chia tài sản làvật, ngoài ra nó còn có ý nghĩa trong việc xác định phương thức thực hiệnnghĩa vụ dân sự Nếu vật chia được thì nghĩa vụ có thể phân chia được theophần (Điều 300 BLDS 2005)

Thứ ba, dựa vào đặc tính, giá trị tài sản sau khi sử dụng người ta chia

vật ra thành hai loại là vật tiêu hao và vật không tiêu hao

Ngày đăng: 29/08/2012, 19:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w