Lời mở đầu Việt Nam là nước có tổng đầu tư FDI lớn nhất trong khu vực ĐNÁ hiện nay, tính từ giai đoạn 2000 – 2013 tổng vốn đầu tư FDI nước ta mỗi năm tăng xấp xỉ 22,4%, đóng góp nhiều và
Trang 1Lời mở đầu
Việt Nam là nước có tổng đầu tư FDI lớn nhất trong khu vực ĐNÁ hiện nay, tính từ giai đoạn
2000 – 2013 tổng vốn đầu tư FDI nước ta mỗi năm tăng xấp xỉ 22,4%, đóng góp nhiều vào tăng trưởng GDP và ngân sách nhà nước, cung cấp lượng lớn việc làm cho lao động tại Việt Nam, cũng như mở đường cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận được với công nghệ kĩ thuật tiên tiến Đồng thời, cũng mang lại không ít khó khăn cho việc quản lý của Chính phủ, mặt khác đây cũng là một trong những trở ngại lớn nhất trong cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân
Trong báo cáo này, chúng tôi dựa theo phương pháp tổng hợp, phân tích các số liệu thống kê
để khảo sát và so sánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tai Việt Nam và khu vực doanh nghiệp tư nhân Từ đó, tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngày càng suy yếu của doanh nghiệp tư nhân, và thảo luận đưa ra về một vài phương pháp cho sự phát triển của doanh nghiệp
Trang 2Mục lục
1 Tổng quan về FDI 3
1.1 Khái niệm 3
1.1.1 FDI là gì? 3
1.2 Các hình thức của FDI 3
1.3 Đặc điểm 4
1.4 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp 4
1.4.1 Nhân tố thị trường 5
1.4.2 Nhân tố lợi nhuận 5
1.4.3 Nhân tố về chi phí 5
1.4.4 Nhân tố về tài nguyên 5
1.4.5 Chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp FDI 5
1.5 Điểm tích cực và tiêu cực của việc thu hút đầu tư FDI 6
1.5.1 Điểm tích cực 6
1.5.2 Điểm tiêu cực 6
2 Thực trạng doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp ngoài nhà nước 6
2.1 Những điều FDI mang lại 6
2.1.1 Xuất siêu và tăng trưởng GDP 7
2.1.2 Giải quyết thất nghiệp 8
2.1.3 Hạn chế và tồn tại 8
3 Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 9
3.1 Rào cản về vốn 10
3.2 Cầu giảm 10
3.3 Cung nguyên vật liệu 11
3.4 Nhân lực 11
4 Giải pháp phát triển cho doanh nghiệp tư nhân Việt Nam 12
Trang 31 Tổng quan về FDI
1.1 Khái niệm
1.1.1 FDI là gì?
FDI ( Foreign Direct Invesment) là đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trích Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, theo điều 2, đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này
Thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó Dây là loại hình đầu tư mà các hủ đầu tư nước ngoài tham gia đóng góp một số vốn đủ lớn vào việc sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia quản lý điều hành đối tượng đầu tư
FDI chủ yếu được thực hiện từ nguồn vốn tư nhân, vốn của các công ty nhằm mục đích thu lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài
(Theo giáo trình Kinh tế quốc tế, chương 3, mục 3.3)
Vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một nước là quá trình đầu tư dài hạn của một cá nhân hay
tổ chức nước ngoài đối với nước này với vốn bằng tiền hoặc bằng bất kì tài sản nào để có được quyền tham gia quản lý, điều hành một thực thể trong nền kinh tế nước này nhằm nâng cao lợi nhuận bằng cách khai thác các nguồn lực giá rẻ tại nước sở tại
1.2 Các hình thức của FDI
Theo tính chất góp vốn, doanh nghiệp FDI chia là 3 dạng:
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Doanh nghiệp góp vốn liên doanh
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Tùy theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, các hình thức đầu tư trên được áp dụng ở mức
độ khác nhau Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đâu tư, Chính phủ nước sở tại còn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ như: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và đặc khu kinh tế, đồng thời còn áp dụng các hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (B.O.T), xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (B.T.O) và xây dựng – chuyển giao (B.T)
Trang 41.3 Đặc điểm
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số tối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật doanh nghiệp mỗi nước
Quyền quản lý, điều hành đối tượng đầu tư tùy thuộc vào mức độ góp vốn Nếu góp vốn 100% thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý
Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và được phân chia theo phần tram góp vốn trong vốn pháp định
FDI được xây dựng thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới hoặc mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cô phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau Đây là một thủ thuật được áp dụng rất nhiều hiện nay bởi các nhà đâu
tư nước ngoài đối với các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ hoạt động rất hiệu quả, cần vốn
để mở rộng quy mô nhưng không tiếp cận được vốn vay hay gặp khó khăn trong những quy định hạn hẹp, ban đầu sẽ là doanh nghiệp góp vốn liên doanh vì nếu ở dạng doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài sẽ được ưu đãi nhiều hơn, song lâu dài sẽ trở thành 100%vốn nước ngoài, điều này ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế vĩ mô của nước sở tại
1.4 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp
FDI là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, nhưng tuyệt đối rất quan trọng đối với các nước đang phát triển FDI bổ sung cho nguồn vốn đầu tư, cung cấp công nghệ mới, giải quyết việc làm phát triển nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng thị trường xuất khẩu Vì lí do đó mà các nước tăng cường thu hút đầu tư FDI vào nước mình, dưới đây là những yếu tố mời gọi đầu tư
Trang 51.4.1 Nhân tố thị trường
Qui mô và tiềm năng phát triển của thị trường là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đâu tư nước ngoài họ sẽ quan tâm rất nhiều đến chỉ số GDP, chỉ số đo lường qui mô nền kinh tế Tiên phong đầu tư vì động cơ này là các công ty đa quốc gia, nhằm duy trì và chiếm lĩnh thị phần nên họ thường xuyên tìm đến các nước có mức tăng trưởng GDP ổn định và một vài yếu tố khác để thiết lập các trụ sở, nhà máy sản xuất để nhanh chóng lan ra các thị trường lân cận và giảm đáng kể chi phí sản xuất cũng như vận chuyển hàng hóa
1.4.2 Nhân tố lợi nhuận
Tối đa hóa lợi nhuận là một trong những động cơ và mục tiêu hàng đâu của các nhà đầu tư bất kể những khó khăn về điều kiện gia nhập hoặc hành lang pháp lý của nước nhận đầu tư Việc thực hiện thiết lập các nhà máy sản xuất hoặc các văn phòng hoạt động tại các nước khác giúp những công ty này tạo ra mối liên hệ chặt chẽ với khách hàng và thị trường thông qua việc gia tăng giá trị khách hàng bằng những tiện ích trong cung cấp dịch vụ hỗ trợ, chia nhỏ rủi ro trong kinh doanh và tránh được các rào cản thương mại
1.4.3 Nhân tố về chi phí
ở đây chúng ta đề cập về chi phí nguyên vật liệu đầu vào và lực lượng lao động Theo các nghiên cứu quốc tế về đặc điểm lao động của các nước đang phát triển cho thấy tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của các nước này cao kéo theo lực lượng lao động cao dẫn đến giá lao động
rẻ Đây là một trong những lợi thế về chi phí lao động thu hút các nhà đầu tư Bên cạnh đó, việc đặt các nhà máy sản xuất giúp các công ty giảm thiểu chi phí vận chuyển, chi phí xuất nhập khẩu, tiếp cận với nguồn nguyên liệu giá rẻ từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh
1.4.4 Nhân tố về tài nguyên
Trước tiên chúng ta sẽ đề cập về tài nguyên con người Nguồn nhân lực giá rẻ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chi phí sản xuất từ đó quyết định giá bán của sản phẩm Thứ hai là tài nguyên của nước sở tại, nguyên vật liệu tại chỗ giá rẻ là một yếu tố tích cực thúc đầy thu hút đầu tư nước ngoài
1.4.5 Chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp FDI
Dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào còn chụi sự tác động và chi phối của chính trị Sự ổn định nền kinh tế vĩ mô kết hợp ổn định về chính trị là mối liên kết chặt chẽ giúp nhà đầu tư vững tâm hơn trong việc đầu tư mới hoặc nâng cao mở rộng quy mô sản xuất
Về tài chính, hiện nay thuế suất áp dụng cho khu vực FDI chỉ còn 20% trong khi các doanh nghiệp khu vực tư nhân là 25%, hỗ trợ vay vốn trong ngắn hạn bằng tiền VND là 9%, còn đối với doanh nghiệp tư nhân là trên 10% Miễn thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp BOT, BT, BTO
Về đất đai, các chính quyền địa phương cạnh tranh thu hút doanh nghiệp FDI bằng cách mở rộng các ưu đãi về quyền sử dụng đất đai từ giải phóng mặt bằng, hỗ trợ quảng cáo cho đến khen thưởng những người lao động làm việc trong các doanh nghiệp này
Trang 6Trên đây, chỉ là một số chính sách ưu đãi chung, còn đối với những dự án đầu tư vào diện được khuyến khích thì còn có những chính sách ưu đãi đặc biệt khiến cho các doanh nghiệp
tư nhân không khỏi phân bì Một chủ doanh nghiệp tư nhân chia sẻ: “ chúng tôi chỉ ước được một phần mười các ưu đãi của doanh nghiệp nước ngoài, nếu có được những ưu đãi như vậy thì chúng tôi cũng có thể đáp ứng những mặt hàng này” theo báo Thanh niên
1.5 Điểm tích cực và tiêu cực của việc thu hút đầu tư FDI
1.5.1 Điểm tích cực
Đối với nhà đầu tư
Có khả năng kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư và có thể dưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ nên vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả
Giúp nhà đầu tư nước ngoài tránh được các rào cản về bảo hộ mậu dịch, chiếm lĩnh thị trường ở nước sở tại và khu vực lân cận
Chủ đầu tư nước ngoài có thể giảm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm tăng năng lực cạnh tranh nhờ khai thác được nguồn nguyên liệu và lao động giá rẻ ở nước sở tại
Đối với nước nhận đầu tư
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ kĩ thuật tiên tiến, giải quyết tình trạng thất nghiệp
Khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn trong nước, kèm theo là tăng trưởng GDP góp phần mở rộng tích lũy cho nền kinh tế
1.5.2 Điểm tiêu cực
Đồi với nhà đầu tư
Nhà đầu tư có thể gặp rủi ro cao nếu không hiểu rõ môi trường đầu tư của nước sở tại
Có tểh xảy ra tình trạng chảy chất xám nếu chủ đầu tư để mất bản quyền sở hữu công nghệ, bí quyết sản xuất trong quá trình chuyển giao
Đối với nước nhận đầu tư
Dễ mắc lỗi về thẩm định công nghệ kỹ thuật nên du nhập công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường lại không nâng cao năng suất
Nước sở tại gặp khó khăn trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và theo vùng lãnh thổ dễ dẫn dấn hiện tượng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên bị khai thác quá mức và có khả năng trở thành “bãi rác công nghệ”
2 Thực trạng doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp ngoài nhà nước
2.1 Những điều FDI mang lại
Được biết đến là một trong những điểm sáng trong nền kinh tế của các nước đang phát triển FDI mang lại nhiều lợi ích cho các nước nhận đầu tư song đồng thời do hành lang pháp lý,
Trang 7các điều kiện thủ tục bất cập chưa hợp lý tạo nên nhiều hạn chế tiêu cực của doanh nghiệp FDI
Các doanh nghiệp FDI giải quyết vấn đề việc làm cho phần lớn lao động của nước sở tại, nhờ quá trình tích cực sản xuất của loại hình doanh nghiệp này giúp đẩy mạnh độ tăng trưởng GDP, gia tăng xuất nhập khẩu
2.1.1 Xuất siêu và tăng trưởng GDP
Theo báo cáo số 4135/BC-BKHĐT ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2014 (Tài liệu phục vụ họp báo Chính phủ ngày 01/7/2014) thì tổng xuất nhập khẩu nước ta vẫn duy trì cân bằng cán cân thương mại, xuất khẩu vẫn trên đả tăng trưởng, liên tục có xuất siêu kể từ đầu năm cụ thể là vào tháng 1/2014 và tháng 4/2014
Theo tổng cục Hải quan thì tổng gia trị xuất khẩu nước ta trong 6 tháng đầu năm là 71,108 tỷ USD trong đó đóng góp của khu vực doanh nghiệp FDI là 43,721 tỷ USD
Trong 7 tháng đầu năm 2014, các báo cáo về tình hình xuất nhập khẩu liên tục bá xuất siêu và lượng xuất siêu đó là nhờ “công” của khu vực FDI Theo Tổng cục Hải quan, nhập khẩu ở khu vực này đạt 46,171 tỷ USD, tăng 10,5 % so với củng kỳ 2013, về xuất khẩu đạt 51, 468
tỷ USD tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước Như vậy, chỉ trong 7 tháng đầu năm nay, khu vực này đã xuất siêu hơn 5,3 tỷ USD
Không chỉ trong năm 2014, mà kể từ khi Việt Nam mở cửa kinh tế, mời gọi các nhà đầu tư quốc tế trên mọi lĩnh vực vào xây dựng cơ sở, sản xuất kinh doanh thì loại hình doanh nghiệp
Trang 8này đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế, nhất là về khía cạnh xuất nhập khẩu thương mại , làm tăng dự trữ ngoại hối và bù đắp cán cân thương mại
Từ khi tham gia sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng nhanh hơn những khu vực kinh tế khác nên doanh nghiệp FDI đóng góp cho GDP ngày càng cao, cụ thể là 6,3% GDP vào năm 1995, tăng lên 15,2% năm 2000 và 19,6% năm 2013
2.1.2 Giải quyết thất nghiệp
Ngoài những lợi ích trên, các doanh nghiệp FDI từ khi xuất hiện tại Việt Nam đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Tính đến nay doanh nghiệp FDI giải quyết hơn 2 triệu lao động trực tiếp và từ 3 – 4 triệu lao động gián tiếp, bình quân mỗi năm thu hút thêm khoảng 216,5 nghìn lao động, có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, nâng các trình độ kỹ thuật cho công nhân
2.1.3 Hạn chế và tồn tại
2.1.3.1 “Bỏ quên ngành nông nghiệp”
Nền kinh tế Việt Nam coi nông nghiệp là một trong những trụ cột tăng trưởng kinh tế, thế nhưng tính đến hết tháng 4/2014 theo cục đầu tư nước ngoài thì số vốn đầu tư vào nông nghiệp của khu vực FDI chỉ khoảng 1,5% tổng vốn đầu tư
Các dự án FDI đầu tư vào ngành nông nghiệp chủ yếu là chế biến nông sản thực phẩm, chế biến lâm sản, chăn nuôi và thức ăn gia súc Phần lớn các quy mô dự án nhỏ, phân bố không đều, tập trung ở những khu vực có nguồn nguyên liệu và lợi thế về cơ sở hạ tầng như ĐBS Hồng và ĐBS Cửu Long
Vậy vấn đề được đặt ra là do đâu mà các doanh nghiệp ngày càng thu hẹp vốn cũng như quy
mô đầu tư vào ngành nông nghiệp nước ta?
Trang 9Theo ông Trần Văn Công – chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) lý giải thì thứ nhất là do các chiến lược phát triển ngành này chưa có cơ chế, cũng như các đề xuất dự án phù hợp, không được theo dõi sát sao để hỗ trợ những vướng mắc trong quá trình xúc tiến và thực hiện các dự án FDI Thứ hai, là do ảnh hưởng bởi thời tiết vùng miền gây rủi ro trong sản xuất cao, cơ sở hạ tầng và trình độ lao động ở nâng thôn còn thấp không thu hút được doanh nghiệp FDI Cuối cùng là do các chính sách Nhà nước chưa thực sự ưu đãi cho đầu tư và đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
2.1.3.2 Tình trạng chuyển giá
Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn hay nhóm liên kết không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các tập thể trên Có thể hiểu, hành vi chuyển giá của các chủ thê kinh odanh nhằm tác động đến giá cả hay thay đổi giá trị hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ các bên của một nhóm liên kết
Một số doanh nghiệp nước ngoài có thương hiệu đã lợi dụng kẽ hở này để không đóng thuế cho nước sở tại Điều này là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trong và cả trong đạo đức kinh doanh, gây phẫn nộ người tiêu dùng
3 Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 201 – 2013 cả nước có thêm 224,2 nghìn doanh nghiệp mới thành lập, bằng 40,9% so với giai đoạn 20 năm trước tức là vào 1991 – 2000, nhưng chủ yếu với quy mô từ rất nhỏ, nhỏ đến vừa
Song song đó, thì số lượng doanh nghiệp đăng kí ngày càng giảm, liên tục 3 năm từ 2010 –
2012, từ 83,6 nghìn giảm xuống còn 69,8 nghìn doanh nghiệp, cùng với việc thu hẹo quy mô vốn để nâng cao an toàn trong sản xuất kinh doanh Không chỉ vậy mà số lượng doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động ngày càng nhiều, cụ thể là từ 2010 – 2013 thì số lượng này đã lên đến 60737 doanh nghiệp, và vào quý I/2014 có thêm 16.745 doanh nghiệp
Trang 10Điều này chứng tỏ doanh nghiệp tư nhân có “sức khỏe” kém không đủ khả năng tồn tại trong môi trường khắc khiệt của nền kinh tế hiện nay, trước những áp lực cạnh tranh về mọi mặt từ chất lượng đến giá cả sản phẩm với các đối thủ trong ngành, cùng với những thách thức về vốn về đội ngũ, kỹ thuật lao động và những khó khăn, cùng với các bất công trong chính sách
ưu đãi đầu tư của Chính phủ đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và ưu tiên về quyền sử dụng các nguồn lực được áp dụng cho doanh nghiệp quốc doanh
3.1 Rào cản về vốn
Tiếp cận về vốn là rào cản phổ biến, theo đài tiếng nòi Việt Nam tính đến 3/2014 có đến 50,5% doanh nghiệp không vay vốn ngân hàng để kinh doanh, con số này vào năm 2012 là 42%, qua đó cho thấy trước những khó khăn về lãi suất, chứng minh khả năng hoàn vốn, chiến lược kinh doanh có hiệu quả trong dài hạn và ngăn hạn, cũng như một số mặt và pháp
lý, thì doanh nghiệp đã không còn hi vọng về việc tiếp cận nguồn vốn từ việc vay ngân hàng Điều này cũng đôi phần giải thích nguyên do thu hẹp quy mô vốn đề đạt an toàn trong sản xuất kinh doanh vì họ chỉ dựa vào vốn của mình Hiện nay, chỉ có khoảng 1/3 doanh nghiệp
có khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, từ đó khiến cho viêc mua sắm thiết bị sản xuất, đổi mới công nghệ ngày càng kho khăn, tình trạng này kéo dài khiến cho doanh nghiệp mất khả năng cạnh tranh với các khu vực doanh nghiệp trong cùng ngành dẫn theo việc hi sinh doanh thu, lợi nhuận để bù đắp những thiếu hụt trong quá trình sản xuất dần dài dẫn đến sự giải thể hoặc phải ngừng hoạt động
3.2 Cầu giảm
Nhu cầu nội địa giảm ảnh hưởng mạnh mẽ đến các doanh nghiệp, sự xuất hiện các mặt hàng ngoại có thương hiệu lâu năm hay các mặt hàng cùng loại giá rẻ, khiến cho cầu trong nước lơ
là đối với các mặt hàng của doanh nghiệp Việt Nam Và khi các khoản chi phí khác tăng lên