Xuất phát từ những lý do trên cùng mong muốn trong từng bài dạy, trongtừng giờ học, học sinh luôn hứng thú, chủ động, yêu thích môn học, từ đó góp phầnnâng cao hiệu quả học đồng thời là
Trang 1Nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học Ngữ văn dựa trên phản hồi của học sinh
Trang 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
NGỮ VĂN DỰA TRÊN PHẢN HỒI CỦA HỌC SINH
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngữ văn
3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 8/ 2020 đến tháng 5/ 2021
4 Tác giả:
Trang 2MỤC LỤC Trang
1.1 Yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 4
1.2 Thực trạng của việc dạy học Ngữ văn trong trường THPT hiện nay 5
2.2 Dạy học phản hồi trong môn Ngữ văn ở trường THPT 9
2.2.3 Các nguyên tắc khi đưa ý kiến phản hồi xây dựng 10
2.3.1 Sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi của học sinh về văn bản trong
tiến trình đọc hiểu.
14
2.3.2 Các biện pháp sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi học sinh. 16
2.3.3.Thực nghiệm Phương pháp dạy học Ngữ Văn dựa trên phản hồi của học
sinh qua một số tác phẩm văn học chương trình Ngữ văn THPT.
19
3 Nội dung thực nghiệm và cách thức tiến hành thực nghiệm 30
6 Hiệu quả phản hồi sau khi dạy tiết dạy thực nghiệm 33
6.1 Hiệu quả phản hồi khi dạy tác phẩm Chí Phèo 34
6.2 Hiệu quả phản hồi trong quá trình dạy học Ngữ văn ở trường THPT 35
7 Đánh giá ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học Ngữ Văn trên cơ sở
phản hồi của HS qua quá trình thực nghiệm
38
Trang 3Nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học Ngữ văn dựa trên phản hồi của học sinh
Trang 3
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN
DỰA TRÊN PHẢN HỒI CỦA HỌC SINH
I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
1 Xuất phát từ mục tiêu đổi mới giáo dục
Đổi mới giáo dục là một yêu cầu tất yếu đang đặt ra đối với tất cả các ngành
học, cấp học của hệ thống giáo dục hiện nay, đó là “chuyển mạnh quá trình giáo
dục từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”, “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với gia đình và giáo dục xã hội”, đáp ứng yêu cầu đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước Để thực hiện tư tưởng
đó, cần “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng củangười học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trungdạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” Những định hướng trên đặt racho các nhà quản lí, chỉ đạo giáo dục và đội ngũ GV một yêu cầu và nhiệm vụ quantrọng là cần có những chuyển biến về nhận thức và hành động trong quá trình quản
lí và dạy học ngay từ bây giờ để chuẩn bị những điều kiện tốt nhất cho công cuộcđổi mới giáo dục, đặc biệt hướng tới việc triển khai Đề án thực hiện chương trìnhmới 2018 Một trong những yêu cầu đổi mới trong dạy học là cần chú trọng pháthuy cao nhất tính tích cực, chủ động của HS trong học tập, để HS có thể trở thànhchủ thể trong việc tiếp nhận tri thức và có năng lực vận dụng các kiến thức, kĩ năngtiếp nhận được trong học tập vào thực tiễn đời sống
2 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống
Trong cuộc sống, mỗi con người luôn là một cá thể trong mối quan hệ vớicộng đồng xã hội cũng như với rất nhiều sự vật, hiện tượng xung quanh Để khámphá và thích ứng với môi trường, hoàn cảnh, con người luôn có nhu cầu giao tiếp,đối thoại và phản hồi Mục tiêu giáo dục của chúng ta hiện nay đang tích cực rènluyện kĩ năng sống, phát triển năng lực cho học sinh Rời ghế nhà trường để bướcvào đời, các em không phải chỉ là những người có trình độ, có kiến thức mà còn
cần là người có kĩ năng sống, có năng lực giải quyết các vấn đề Đó là “khả năng
thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” (WHO) Phản hồi là một hoạt
Trang 4động, nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học Ngữ văn dựa trên phản hồi của họcsinh cũng là một trong những yêu cầu, mục tiêu cần hướng tới của chương trìnhgiáo dục phát triển năng lực.
3 Xuất phát từ thực tế dạy học hiện nay ở bộ môn Ngữ văn.
Thực hiện đổi mới Chương trình và SGK, trong đó có hoạt động dạy học
Ngữ văn theo hướng hình thành và phát triển năng lực, các kĩ năng cho HS,
phần dạy học Đọc - hiểu các văn bản trong Chương trình Ngữ văn sẽ góp phầnhình thành và phát triển những năng lực, kĩ năng nào?
Mục tiêu dạy học văn trong thời đại mới chú trọng ở tính thiết thực Học sinhphải biết vận dụng kiến thức được học từ môn Ngữ văn vào giải quyết những vấn
đề, những tình huống cụ thể, gần gũi trong cuộc sống Mục tiêu đó được cụ thể hóatrong chương trình ở từng cấp học, bậc học Các phương pháp dạy học Ngữ Văntruyền thống không đủ sức để giải quyết vấn đề này Vì thế vấn đề đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ Văn được đặt ra và trở thành mối quan tâm của những ngườilàm công tác giáo dục mà đặc biệt là những giáo viên (GV) dạy bộ môn Ngữ Văn.Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) không thể tùy tiện, nó phảidựa trên mục tiêu, nguyên tắc, chiến lược dạy học cũng như bám sát vào đặc trưng,
bản chất của môn học Quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm” là một
quan điểm giáo dục hiện đại, giải phóng và phát triển năng lực sáng tạo cho ngườihọc Quan điểm dạy học này là một định hướng dạy học tích cực, chi phối việc xácđịnh mục tiêu dạy học, lựa chọn nội dung và PPDH
Xuất phát từ những lý do trên cùng mong muốn trong từng bài dạy, trongtừng giờ học, học sinh luôn hứng thú, chủ động, yêu thích môn học, từ đó góp phầnnâng cao hiệu quả học đồng thời là tài liệu tham khảo cho các thầy cô giáo trong
quá trình dạy học Ngữ Văn, tôi chọn phương pháp Nâng cao hiệu quả phương
pháp dạy học Ngữ văn dựa trên phản hồi của học sinh với hi vọng mang đến một
PPDH mới cho việc dạy Đọc - hiểu văn bản, góp thêm một giải pháp cho việc đổimới phương pháp dạy học Ngữ Văn trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diệnnền giáo dục hiện nay
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1.1 Yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn
Qua việc khảo sát yêu cầu Chương trình Ngữ văn nói chung, tôi nhận thấy
chương trình giáo dục phổ thông xác định mục tiêu chung của việc dạy học Ngữvăn như sau:
Trang 5- Có những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống về những tácphẩm tiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn học Việt Nam và một số tác phẩm,đoạn trích của văn học nước ngoài.
- Hình thành và phát triển các năng lực cơ bản với yêu cầu cao hơn cấpTrung học cơ sở, bao gồm: năng lực sử dụng tiến Việt thể hiện ở bốn kĩ năng cơbản (đọc, viết, nghe, nói), năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, năng lực
tự học và năng lực thực hành, ứng dụng
- Có tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa; tình yêu gia đình, thiên nhiên;lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; tinh thần dân chủ, nhân văn ; nâng cao ýthức trách nhiệm công dân; ý thức tôn trọng, phát huy các giá trị văn hóa của dântộc và nhân loại
Tuy nhiên qua tìm hiểu tại một số trường học trên địa bàn, tôi nhận thấy việcthực hiện giáo dục dạy học phản hồi đã được đề cập tới trong đổi mới phương pháp
và kĩ thuật dạy học ở một số trường THPT Khi giảng dạy môn Ngữ văn ở trườngTHPT Mỹ Tho, tôi và các giáo viên dạy môn Ngữ văn đã áp dụng giải pháp: sửdụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực: khăn trải bàn, thảo luận nhóm, dựán đặc biệt đã sử dụng dạy học phản hồi kết hợp với công nghệ thông tin để tăngtính tích cực của học sinh Tuy nhiên chúng tôi vẫn nhận thấy:
- Học sinh vẫn chưa thực sự hứng thú với môn Ngữ văn, chưa chủ động vớiviệc chiếm lĩnh kiến thức Trong các tiết đọc hiểu, học sinh chưa tích cực phản hồi.Việc cảm thụ tác phẩm của học sinh vẫn theo định hướng của giáo viên, học sinh ítsáng tạo, chất lượng học tập chưa cao
- Học sinh không vận dụng được những kiến thức liên môn đã học để tìmhiểu văn bản, thờ ơ và thấy rằng học những tác phẩm văn học là không cần thiết,không thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống vì thế chưa có những tình huống phảnhồi hiệu quả
- Giáo viên còn lúng túng trong việc sử dụng công nghệ thông tin và áp dụngcác phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong tiết đọc hiểu văn học Vì thế giờhọc thường trôi qua nặng nề, học sinh chưa hứng thú và rút ra được những bài họccho riêng mình
1.2 Thực trạng của việc dạy học Ngữ văn trong trường THPT hiện nay
Để có thêm cơ sở thực tiễn về việc nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ Văn theođịnh hướng phát triển năng lực cho học sinh thông qua phản hồi của học sinh, tôi tiếnhành điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Ngữ văn cho học sinh ở các trường THPTthuộc địa bàn tỉnh Nam Định thông qua hình thức sử dụng phiếu hỏi đối với giáo viêncủa các huyện Ý Yên, Vụ Bản; dùng phiếu thăm dò ý kiến đối với học sinh ở các
Trang 6trường THPT trong huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Đó là THPT Đại An, THPT Mỹ Tho, THPT Lý Nhân Tông.
a Khảo sát tình hình giảng dạy chương trình Ngữ văn của GV ở trường THPT
- Số GV được phỏng vấn: 135
- Thời gian phỏng vấn: 25/10/2020
- Mục đích khảo sát: Tìm hiểu thực tế dạy học Ngữ văn trong chương trình
phổ thông của GV hiện nay ở các trường THPT trong địa bàn tỉnh Nam Định để
làm cơ sở thực tiễn cho Báo cáo Nâng cao hiệu quả phương phápdạy học Ngữ văn
dựa trên phản hồi của học sinhcủa khối học này.
- Nội dung khảo sát:(Phụ lục 2)
ở trường phổ thông Vấn đề này đã được các nhà trường chỉ đạo thực hiện song vẫnmang tính hình thức như chỉ thể hiện trên giáo án hoặc ở các tiết dạy thanh tra, hộigiảng Học sinh chưa được giáo viên thường xuyên chú trọng đến việc phản hồitích cực Vì vậy các em còn nhút nhát, thiếu tự tin Khi gặp các tình huống phátsinh trong thi cử, đời sống hoặc tham gia các hoạt động tập thể, các em bộc lộ rất rõđiểm yếu này
b Khảo sát tình hình học chương trình Ngữ văn qua việc phản hồi tích cực của học sinh ở trường THPT
Trang 7Tôi sử dụng 242 phiếu điều tra cho 06 lớp 10,11,12 ban khoa học cơ bản của
03 trường THPT trong huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Đó là trường THPT Lý NhânTông, trường THPT Mỹ Tho, trường THPT Đại An, cụ thể như sau:
Bảng: 1.4 Đối tượng khảo sát học sinh
Định
11 A4
11 A7
4041
Định
12 A3
12 A8
4240
- Mục đích khảo sát: Tìm hiểu thực tế quá trình dạy học Ngữ văn qua việc
phản hồi tích cực của học sinh ở một số trường THPT hiện nay để làm cơ sở thựctiễn cho Sáng kiến
- Nội dung khảo sát: (Phụ lục 3)
- Kết quả điều tra khảo sát:
52(21,5%)
22(9,1%)
2 Trước khi vào giờ học Ngữ
văn (Ngữ văn 10), các em có
được phản hồi tích cực
không?
18(7,4%)
150(62%)
74(30,6%)
3 Khi chuẩn bị bài ở nhà
(nếu có), em có tìm thêm tài
liệu tham khảo hoặc những
đường link về bài học không?
120(49,6%)
92(38%)
30(12,4%)
4 Khi học Ngữ văn, em có
chú ý các đến kĩ năng giao
22(9,1%)
89(36,8%)
131(54,1%)tiếp với thầy cô không?
Trang 85 Trong quá trình tổ chức
các hoạt động học, thầy (cô)
11(4,5%)
151(62,4%)
80(33%)
có thường đặt các câu hỏi để
văn, em có hay đưa ra nhận
xét, đánh giá của cá nhân về
177(73,1)
52(21,5%)thức như trải nghiệm thực tế
hay diễn hoạt cảnh không?
GV có thẻ nắm bắt được kiến thức của người học một cách tích cực đồng thời cóthể chủ động điều chỉnh phương pháp của mình cho phù hợp Song, việc học phânmôn này đang diễn ra một cách tự nhiên, không ý thức, chưa có tính mục đích rõ
ràng, không tạo được hứng thú cho học sinh Do đó, tôi nhận thấy việc Nâng cao
hiệu quả phương phápdạy học Ngữ văn dựa trên phản hồi của học sinh trong
khuôn khổ thực hiện của sáng kiến là hoàn toàn có cơ sở thuyết phục về mặt thựctiễn Điều này rất cần thiết trong việc hình thành cho các em những năng lực cơ
Trang 9bản, thái độ sống nhân văn, sâu sắc của một công dân trong xã hội hiện đại.
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
2.1 Xác định rõ mục tiêu
Qua các tài liệu tập huấn, các lớp bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ
và thực tế dạy học tôi nhận thấy Nâng cao hiệu quả phương phápdạy học Ngữ văn
dựa trên phản hồi của học sinhcó thể giúp cho học sinh:
- Nắm vững kiến thức đã học, trên cơ sở đó học sinh vận dụng kiến thức đểgiải quyết những bài tập hoặc xây dựng kiến thức cho bài học mới; nắm vững kiếnthức đã học, có khả năng liên hệ, liên kết các kiến thức bởi những vấn đề thực tiễnliên quan
- Vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào trong học tập, trong cuộc sống giúpcác em học đi đôi với hành Giúp học sinh xây dựng thái độ học tập đúng đắn,phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết,đặc biệt là năng lực tự học;
- Hình thành cho học sinh kĩ năng quan sát, thu thập, phân tích và xử lýthông tin, hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học; hình thành và phát triển kĩnăng nghiên cứu thực tiễn; có tâm thế luôn luôn chủ động trong việc giải quyếtnhững vấn đề đặt ra trong thực tiễn
- Giúp cho học sinh có được những hiểu biết về cuộc sống, những tác độngtích cực cũng như tiêu cực đối với con người cũng như ảnh hưởng của con ngườiđến cuộc sống
- Thông qua việc hiểu biết về thế giới quanh mình bằng việc vận dụng kiếnthức đã học để tìm hiểu, các em sẽ ý thức được hoạt động của bản thân, có tráchnhiệm với chính mình, với gia đình, nhà trường và xã hội ngay trong cuộc sốnghiện tại cũng như tương lai sau này của các em
- Đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho học sinh, phát triển ở các emtính tích cực, tự lập, sáng tạo, khả năng giao tiếp tốt để vượt qua khó khăn trên conđường dẫn tới thành công
2.2 Dạy học phản hồi trong môn Ngữ văn ở trường THPT
2.2.1 Khái niệm
Phản hồi là cách thức giao tiếp mà người ta sẽ đưa và nhận thông tin trongcách ứng xử Là sự thông báo qua lại giữa học sinh (HS) và giáo viên (GV) Thôngqua sự phản hồi từ HS đến GV, người GV có thể biết mức độ nắm vững kiến thức
và kĩ năng của HS Bên cạnh đó, GV cũng kiểm nghiệm lại phương pháp dạy học(PPDH) và hiệu quả dạy học của mình, từ đó kịp thời điều chỉnh PPDH, kế hoạchdạy học cho phù hợp
Trang 10Kỹ năng phản hồi được thể hiện qua 2 cách:
+ Phản hồi xây dựng (phản hồi tích cực): là đưa ra những thông tin cụ thể,trọng tâm vào vấn đề và dựa trên sự quan sát, nêu lên những điểm tích cực vànhững điểm cần cải thiện
+ Phản hồi theo kiểu “khen và chê”: là những đánh giá mang tính cá nhân,chung chung, không rõ ràng, chú trọng vào con người và dựa trên quan điểm , cảmnhận của người đưa ý kiến phản hồi
Trong quá trình học tập, cũng có khi HS là người nhận phản hồi từ các thầy
cô và bạn bè, nhưng cũng có khi HS chính là người đưa ra ý kiến phản hồi chochính thầy cô hoặc bạn bè của mình Nhưng dù ở vai trò nào, chúng ta hãy cố gắng
để đừng bị rơi vào cái bẫy của kiểu phản hồi “khen và chê” Trong phạm vi sáng
kiến này, tôi đề cập đến Kỹ năng phản hồi xây dựng (phản hồi tích cực).
2.2.2 Kỹ năng phản hồi tích cực
Kỹ năng phản hồi tích cực là kỹ năng người giao tiếp sẽ đưa ra các thông tin
cụ thể về vấn đề căn cứ trên sự quan sát tỉ mỉ, từ đó nêu lên những điểm tích cực vànhững điểm cần cải thiện Phản hồi tích cực được biểu hiện qua việc lắng nghe tíchcực, tóm tắt được những điểm chính trong giờ học, kết hợp hoàn hảo giữa phản hồibằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
Các loại phản hồi tích cực
- Khuyến khích là sự tác động đến tinh thần để gây phấn khởi, tin tưởng mà
cố gắng hơn
- Trấn an là làm cho yên lòng, hết hoang mang lo sợ
- Động viên là tác động đến tinh thần làm cho phấn khởi vươn lên
- Ca ngợi là nêu lên để khen, để tỏ lòng yêu quý, khâm phục
Kỹ năng phản hồi là một phần rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày nói chung
và trong môi trường học tập nói riêng Khi một người nhận được những phản hồimang tính xây dựng nó sẽ giúp cho họ sẵn sàng thay đổi để hoàn thiện mình hơn vàtối đa hóa khả năng của mình
2.2.3 Các nguyên tắc khi đưa ý kiến phản hồi xây dựng
- Chỉ nên đưa ý kiến phản hồi khi có sự chấp thuận của người nhận
- Đưa ý kiến phản hồi càng sớm càng tốt, khi mà sự việc vẫn còn tươi mớitrong đầu của cả người đưa và nhận phản hồi Tuy nhiên, khi đưa ý kiến phản hồinhững điểm cần cải thiện, cần lưu ý: Nếu ngay khi sự việc xảy ra, tâm trạng củangười đưa hoặc người nhận phản hồi không tốt, hãy giành thời gian để cả hai phíabình tĩnh trở lại và người đưa phản hồi sắp xếp ý tưởng cho hợp lý, có được giọngnói, ngữ điệu phù hợp và đã “sẵn sàng” khi đó hãy tiến hành phản hồi
Trang 11- Chọn địa điểm thích hợp, đặc biệt là khi đưa ý kiến phản hồi những vấn đề
cá nhân cần cải thiện nên chọn chỗ riêng tư
- Người đưa phản hồi cần dựa trên những hành vi cụ thể, những hiện tượngvừa quan sát và ghi chép được để phản hồi, không tự đánh giá, áp đặt hoặc suydiễn
- Hãy bắt đầu phản hồi bằng cách nêu bật những điểm tích cực trước; Nênđưa ra những điểm cần cải thiện, không nên xâu chuỗi những lỗi, khuyết điểmtrong quá khứ, trừ trường hợp cần nhấn mạnh hành vi có tính chất hệ thống
- Không nên đưa ra đưa ra quá 4 điểm cần cải thiện trong một lần phản hồi
- Khi phản hồi về những điểm cần cải thiện nên chú trọng vào những hành vi
có thể thay đổi, thảo luận giải pháp cải thiện một cách cụ thể
- Khuyến khích người nhận phản hồi tự đưa ra giải pháp, sử dụng những câuhỏi mở như: “Anh chị thấy việc này thế nào? Nếu lần sau làm lại việc này, anh/chị
sẽ làm khác đi như thế nào?
- Phản hồi là vì người nhận, không vì người đưa phản hồi Do vậy khi đưaphản hồi, bạn cần nhạy cảm với những tác động của những thông tin mà bạn đưara
Cần đặc biệt lưu ý: Người nhận phản hồi có sẵn sàng cải thiện hay không lại phụthuộc nhiều vào cách thức bạn đưa ý kiến hơn là nội dung bạn phản hồi Do vậytrong quá trình đưa phản hồi bạn nên:
Phản hồi tích cực thường được sử dụng như một công cụ hữu ích trong môitrường giáo dục Trong quá trình học tại trường, bạn sẽ thường xuyên gặp các tìnhhuống giảng viên đưa phản hồi cho sinh viên, sinh viên phản hồi cho nhau trongquá trình thực hành, thậm chí sinh viên cũng có thể đưa phản hồi cho giảng viên
Dù phản hồi được thực hiện trong dưới hình thức nào, nhưng nếu những nguyên tắc
cơ bản trên được sử dụng thường xuyên và bạn nghiêm túc cân nhắc những phảnhồi tích cực để cải thiện mình thì đó sẽ là con đường ngắn nhất đi đến đích hoànthiện các kỹ năng của bản thân
Trang 122.2.4 Dạy học phản hồi trong môn Ngữ văn
Dạy học phản hồi trong môn Ngữ văn ở trường THPT là một chiến lược dạyhọc GV sử dụng để điều chỉnh những kinh nghiệm, kiến thức và những cách thứcdạy học để trợ giúp sự phát triển tư duy cho HS Mô hình dạy học này được hìnhthành từ lý thuyết dạy học văn dựa trên quan điểm của người học Mô hình nàycũng được xây dựng dựa trên tiến trình hiểu một tác phẩm văn chương Ngoài việcngười đọc hướng tới việc tạo nghĩa cho văn bản khi họ tham gia vào hoạt động đọcthì họ còn hướng tới những ý tưởng khác do họ sáng tạo ra Những câu hỏi và sựsuy đoán lần lượt xuất hiện và trở thành động cơ “trải nghiệm những kinh nghiệm”
Mô hình dạy đọc văn bản văn học trên cơ sở phản hồi của HS là một mô hình dạyhọc mở, đặt trọng tâm vào đối tượng người học, giải phóng tối đa năng lực tư duysáng tạo của HS Trước mắt người học không phải là những bài giảng, những kiếnthức có sẵn, mà là những vấn đề, những tình huống, những mâu thuẫn được gợi ra
từ văn bản mà người học cần vượt qua Bản chất của mô hình dạy đọc văn bản vănhọc trên cơ sở phản hồi của HS là GV sử dụng những chiến lược dạy học để khơigợi, khuyến khích HS suy ngẫm và khám phá những cách hiểu có thể về văn bản,
từ đó giúp HS tham gia vào quá trình giải mã và tạo nghĩa cho văn bản
Trong giờ đọc hiểu văn bản, GV tổ chức những hoạt động như thảo luậnnhóm, đóng vai, phỏng vấn, tranh luận … để hướng dẫn HS đọc và khám phá tácphẩm trên cơ sở tự giác, tích cực, sáng tạo Giờ học được tổ chức xoay quanhnhững phản hồi của HS về văn bản, về ý kiến của bạn học GV theo sát các ýtưởng, câu trả lời của HS và từ những ý tưởng, câu trả lời này GV tiếp tục khơi gợi
để HS khám phá, trải nghiệm chân trời các cách hiểu có thể về văn bản
Sự phản hồi của HS rất đa dạng, có thể dưới dạng một câu trả lời, một câuhỏi hoặc một quan điểm, thậm chí đề xuất một cách hiểu hoàn toàn mới dựa trên sựhiểu biết, kinh nghiệm sống của các em GV tổ chức cho HS xem xét và phân tíchcác quan điểm khác nhau của HS trong lớp học để giúp HS phát triển, mở rộng sựhiểu biết về văn bản, giúp họ hiểu bạn học và hiểu chính bản thân mình Giờ họcvăn thật sự là một trải nghiệm đầy thú vị và bất ngờ của HS
Quá trình đọc và trải nghiệm, cho phép người đọc sử dụng các quan điểmkhác, sự hiểu biết về những văn bản có liên quan, kiến thức nền, ngữ cảnh khi vănbản ra đời và thời điểm đọc, giải mã và tạo nghĩa cho văn bản Mục đích giờ lên lớpcủa GV không phải là để truyền thụ những kiến thức đã được định sẵn trong giáo
án mà đó là một giờ cùng HS trải nghiệm, thám hiểm những chân trời của nhữngcách hiểu có thể về văn bản Giờ đọc văn trên lớp được xem là thời điểm để pháttriển sự hiểu biết vì HS đã có một quá trình trải nghiệm trước đó khi HS đọc văn
Trang 13bản một mình ở nhà Giáo án trong mô hình dạy học trên cơ sở phản hồi của ngườihọc lúc này không phải là bản ghi chi tiết các bước lên lớp, những kiến thức cầnphải truyền thụ cho HS mà là kế hoạch những hoạt động mà GV dự kiến sử dụng đểgiúp HS tự khám phá, phát huy vai trò chủ thể học tập Trong dạy học văn hiện nay,
GV thường chú trọng nhiều đến hai kĩ năng đọc – viết mà ít chú ý đến việc pháttriển hai kỹ năng nghe – nói cho HS Việc tổ chức giờ dạy học Ngữ Văn trên cơ sởphản hồi của HS sẽ phát triển song song bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS
Mô hình dạy đọc văn bản trên cơ sở phản hồi của người đọc – HS khác với
mô hình dạy đọc văn bản truyền thống của Việt Nam Đặc điểm mô hình dạy họcVăn truyền thống của nước ta là GV tìm hiểu văn bản, xác định mục tiêu bài học,định trước những hoạt động, lựa chọn những đơn vị kiến thức, soạn giáo án và lênlớp truyềnthụkiến thức ấy cho HS Giờ học lặp đi, lặp lại theo một quy trình địnhsẵẵ̃n, áp dụng với mọi giờ học GV khi lên lớp phải thực hiện đầy đủ các bước từ ổnđịnh lớp, kiểm tra sĩ số, kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, giảng bài, củng cố vàhướng dẫn chuẩn bị bài mới Thiếu một bước coi như tiết học chưa hoàn thành Mọigiờ học đều giống nhau, các bước lên lớp cứ lặp đi lặp lại nhàm chán, tẻ nhạt,không gây hứng thú đối với HS SGK và SGV được xem là pháp lệnh Đặc biệt khikiểm tra đánh giá giờ dạy, GV thường bị đánh giá vào các tiêu chí là có thực hiệnđầy đủ các bước lên lớp hay không, có bị “cháy” giáo án không, GV có truyền đạtđầy đủ kiến thức của bài học hay không Vì thế, để thực hiện tốt điều này, GVthường chạy đua với thời gian, không tổ chức được những hoạt động để các emđược trải nghiệm, được bày tỏ những ý kiến cá nhân về văn bản GV là người nắmgiữ kiến thức nên HS chỉ thụ động tiếp nhận từ GV và táihiện những kiến thức ấytrong những đợt kiểm tra, thi cử Đôi lúc HS cũng có những cảm nhận riêng, những
ý kiến sáng tạo nhưng chỉ dừng lại ở sự ghi nhận, tham khảo Trong giờ học ít có sựtương tác, đối thoại giữa GV – HS, giữa HS – HS HS ít đặt câu hỏi, thậm chíkhông biết đặt câu hỏi về bài học với GV và các bạn cùng lớp Mối quan hệ giữa
GV và HS xoay quanh trục: Thầy truyền đạt - trò tiếp nhận Ta có thể so sánh mộtcách khái quát mô hình dạy đọc văn bản truyền thống và mô hình dạy đọc văn bảndựa trên sự phản hồi của người đọc – HS như sau:
Mô hình dạy đọc văn bản
Trang 14thức tiếp nhận.
- HS thụ động tiếp nhận kiến thức - HS chủ động tìm kiếm kiến thức, ý kiến của
HS được khuyến khích và tôn trọng
- GV quyết định quy trình dạy học,
Bảng: Sự khác nhau giữa mô hình dạy học văn truyền thống và mô hình dạy Ngữ
Văn trên cơ sở phản hồi của học sinh.
Mô hình dạy học dựa trên phản hồi của người học là một mô hình mở, đặttrọng tâm vào đối tượng người học, cho phép giải phóng tối đa năng lực tư duysáng tạo của HS Trong giờ dạy học đọc hiểu, ngoài việc HS góp phần tạo nghĩacho văn bản khi tham gia các hoạt động đọc thì họ còn hướng tới những ý tưởngkhác do chính họ sáng tạo ra Đó là quá trình thăm dò, khám phá những cảm xúc,những mối quan hệ, gợi nhớ lại những gì người đọc đã biết về nhân vật, tác phẩm
và đặt những gợi nhớ đó trong những kinh nghiệm, trải nghiệm của người đọc vềcon người, cuộc sống, Theo hướng dạy học này, bài học văn không dừng lại ở chỗgiờ học kết thúc vì giờ học kết thúc nhưng người đọc – người học vẫn tiếp tục suyngẫm về những những cách giải thích, cắt nghĩa, về số phận, tính cách nhân vật, vềcách kết thúc hay hàm nghĩa mà các vấn đề trong tác phẩm đặt ra… mở rộng thêmchân trời cho việc đọc hiểu văn bản
2.3 Cách thức thực hiện biện pháp
2.3.1 Sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi của học sinh về văn bản trong tiến trình đọc hiểu.
Ivan Hannel từng nói “Đặt câu hỏi hiệu quả cao là cách thức giúp HS tham
giatích cực vào các hoạt động học tập” Khi thiết kế câu hỏi trong dạy học và kiểm
tra đánh giá mức độ nhận thức của HS, các nhà giáo dục thường dựa vào thangnhận thức của Bloom (1951) Thang nhận thức của Bloom gồm 6 bậc: nhớ, hiểu,vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Sau đó, thang nhận thức này đượcAnderson và Krathwohl (2001) chỉnh sửa lại gồm 6 bậc được sắp xếp theo mức độ
từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất: nhớ, hiểu, vận dụng (mức độ tư duy bậc thấp)phân tích, đánh giá và sáng tạo (mức độ tư duy bậc cao) Thang nhận thức này được
sử dụng phổ biến trong tất cả các môn học
Bản chất của mô hình dạy đọc văn bản dựa trên sự phản hồi của HS là dựatrên câu trả lời của HS; GV nêu câu hỏi tiếp theo để khơi gợi, phát triển sự hiểu biếtcủa HS về văn bản Việc sử dụng một hệ thống CH có chức năng kích hoạt kiến
Trang 15thức nền của HS, khơi gợi HS chia sẻ cách hiểu của họ về văn bản, giúp họ pháttriển ý tưởng và cách lý giải về văn bản rất quan trọng Từ thực tế giảng dạy củabản thân tôi xin đề xuất một số loại câu hỏi như: câu hỏi tái hiện kiến thức, câu hỏigiải thích minh họa, câu hỏi tìm tòi, câu hỏi tổng hợp khái quát, để học sinh chủđộng từng bước mở ra những ô kiến thức về tác giả, tác phẩm một cách hứng thúnhất Trong các PPDH thì phương pháp đàm thoại - vấn đáp cùng với kĩ thuật đặtcâu hỏi, đặc biệt là những câu hỏi mở và những câu hỏi có vấn đề để kích thích sựtương tác từ học sinh sẽ góp phần tạo nên một giờ học văn mở mang tính đối thoạicao
Loại câu hỏi Mục đích vận dụng vào mô hình dạy đọc
văn bản dựa trên sự phản hồi của học̣ sinh
- Cảm nhận đầu tiên của em khi đọc
- Tìm các chi tiết thể hiện tính cách, số
phận, tâm trạng của nhân vật…
- Đây là loại CH hướng dẫn HS tìm các chitiết quan trọng, nhận biết thông tin, phát triển vai trò giải mã văn bản
- Tìm những câu thơ, hình ảnh thơ
mới lạ của tác phẩm Tìm các biện
pháp nghệ thuật được sử dụng trong
tác phẩm,…
- Rèn kỹ năng phân tích, giải thích, so sánh, phát triển năng lực tạo nghĩa cho văn bản
Bảng: Loại câu hỏi trong mô hình dạy đọc văn bản dựa trên sự phản hồi của HS.
Ví dụ khi dạy văn bản Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, GV có thể sử
dụng hệ thống câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi của học sinh như sau:
Câu 1: Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện
tượng là đối tượng trần thuật của VB Hãy xác định điểm nhìn trần thuật của tác giảtrong VB
Câu 2: Tại sao tác giả lại đặt tên cho tuỳ bút là Người lái đò Sông Đà? Sông
Đà hay người lái đò sông Đà là nhân vật chính của tuỳ bút?
Câu 3: Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, hình tượng sông Đà hiện lên với
những vẻ đẹp nào?
Câu 4: Tìm những câu văn miêu tả tính cách “hung bạo” và “trữ tình” của
sông Đà Nhận xét về bút pháp miêu tả của tác giả qua những câu văn ấy
Câu 5: Em hình dung như thế nào về vẻ đẹp “hung bạo” của sông Đà? Hãy tả
lại cho các bạn cùng nghe
Trang 16Câu 6: Trong rất nhiều yếu tố làm nên nét tính cách hung bạo và trữ tình của
sông đà, em ấn tượng nhất với yếu tố nào nhất? Tại sao?
Câu 7: Hình tượng Người lái đò sông Đà được tác giả khắc họa bằng những
ấn tượng tiêu biểu nào?
Câu 8: Cảm xúc của em sau khi học xong tùy bút Người lái đò sông Đà của
Nguyễn Tuân
Câu 9: Nêu một số ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu mà theo em là có
giá trị khi tìm hiểu về tuỳ bút này Ý kiến của riêng của em khi đọc Người lái đò
sông Đà.
Ngoài việc đặt câu hỏi để chờ sự hồi đáp tích cực của người học, giáo viêncần chủ động trao đổi, lắng nghe chia sẻ của học sinh về những vấn đề liên quanđến văn bản Thường xuyên khích lệ, động viên các em mạnh dạn phản hồi quanđiểm của mình Thực tế, có nhiều học sinh trong lớp có năng lực Ngữ văn tốtnhưng bản tính nhút nhát, không thích thể hiện nên còn e ngại Khi đó, người giáoviên tinh tế cần biết động viên, khích lệ kịp thời sẽ thúc đẩy tinh thần hăng hái, sự
mạnh dạn trong các em (Ví dụ: Trong bài viết em luôn có những phát hiện rất sắc
sảo, thầy muốn được nghe quan điểm của em về vấn đề này? Em cứ mạnh dạn bày
tỏ ý kiến của mình cho thầy và cả lớp cùng nghe) Nếu ý kiến của học sinh tốt, giáo
viên cần khen ngợi, nếu ý kiến chưa hợp lí, giáo viên không nên phủ đầu mà trântrọng lắng nghe học sinh trình bày trọn vẹn ý kiến, động viên học sinh cố gắngtrong nhưng câu trả lời sau, đôi khi dùng những lời nhận xét pha chút dí dỏm, hàihước để học sinh vui vẻ, không rơi vào trạng thái tự ti Thiết nghĩ, một giờ họcthoải mái, thân thiện, nhân văn như thế sẽ khuyến khích học sinh dám nghĩ và dámphản hồi những suy nghĩ mới mẻ, riêng biệt
2.3.2. Các biện pháp sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi học sinh.
Việc đặt câu hỏi đối với HS trong quá trình tiếp nhận văn học có ý nghĩalàm thay đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở ra tình huống “có vấnđề”, xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức.Như đã nói, sự phản hồi của HS về văn bản rất đa dạng nên GV cũng cần đa dạng,linh hoạt, sáng tạo trong việc thiết kế câu hỏi nhằm phát huy tối đa tính tích cực,chủ động của người học và mở rộng kênh phản hồi của HS về văn bản,khắc phụctối đa lối dạy học áp đặt một chiều vẫn còn tồn tại xưa nay
a Phản hồi bằng hình thức trả lời miệng:
Phản hồi bằng hình thức trả lời miệng là hình thức phản hồi trực tiếp ngaytrong giờ đọc văn bản trên lớp Có hai hình thức sử dụng câu hỏi cho kiểu phản hồinày: câu hỏi khơi gợi HS trả lời với tư cách cá nhân và câu hỏi dành cho việc tổ
Trang 17chức hoạt động thảo luận nhóm nhỏ Trong giờ đọc văn bản, HS có thể phản hồitrực tiếp qua việc trao đổi đối thoại với GV và bạn học Sử dụng hình thức câu hỏinày GV có thể năng kiểm tra và đánh giá được năng lực của cá nhân mà cụ thể lànăng lực cảm thụ, phân tích, phản biện Hình thức nêu CH này có thể vận dụngtrong cả ba giai đoạn của mô hình dạy đọc văn bản trên cơ sở phản hồi của HS CHkhơi gợi sự trao đổi, đối thoại trực tiếp giữa GV – HS có thể thiết kế ở mức độ nhớ,hiểu, vận dụng Vì lúc này không cho phép HS dừng lại quá lâu để suy nghĩ Chẳnghạn, khi dạy bài Vội vàng – Xuân Diệu các câu hỏi sau có thể sử dụng để khơi gợi
sự trao đổi đối thoại trực tiếp của cá nhân HS với GV:
- Từ vội vàng gợi cho em suy nghĩ gì? Với nhan đề này, em có thể dự đoán
xem bài thơ nói về đề tài gì?
- Ngoài từ vội vàng, bài thơ còn những từ ngữ nào nói về thời gian nữa
không?
b Phản hồi bằng hình thức thảo luận trong nhóm:
Trong mô hình dạy đọc văn bản văn học trên cơ sở phản hồi của HS, sự phảnhồi của HS giữ vai trò quan trọng trong giờ học và trở thành những lí do để giờ họctiếp tục Tuy nhiên, không phải bất cứ phát biểu nào của HS về văn bản cũng đượcxem là một sự phản hồi tích cực và thuyết phục Vì thế, tổ chức cho HS thảo luậnnhóm dựa câu trả lời hoặc ý kiến của bạn về văn bản là một biện pháp khơi gợi sựphản hồi tiếp tục của tất cả các thành viên trong lớp học, làm sáng tỏ mọi hoài nghicủa các cách hiểu, mài sắc thêm cách lí giải của HS về văn bản Để thu hút sự quantâm và khơi gợi hứng thú trao đổi, tranh luận của HS, vai trò của GV hết sức quantrọng GV cần tinh nhạy nắm bắt những ý tưởng “có vấn đề” của HS để tổ chức cho
HS “xem xét lại” chính những ý tưởng đó của các em như một cách phản hồi tíchcực về văn bản ngay trong giờ học Thảo luận trong giờ đọc văn bản, HS phải đồngthời thực hiện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết,… người học được tạo cơ hội traođổi, chia sẻ những hiểu biết và trình bày quan điểm của mình Theo đó năng lựcgiao tiếp và kỹ năng làm việc nhóm cũng phát triển
Sử dụng câu hỏi (CH) cho học sinh thảo luận nhóm GV có thể kiểm tra kỹnăng tương tác và làm việc tập thể của HS Theo thang nhận thức của Bloom thìviệc thiết kế những CH mở, có mức độ tư duy bậc cao (phân tích, đánh giá, sángtạo) phù hợp để cho HS thảo luận nhóm Những CH này có độ phức tạp cao, đòihỏi học sinh phải dùng khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận để cùng nhau giảiquyết vấn đề
Trang 18Ví dụ khi dạy đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy
Tưởng, GV có thể đặt câu hỏi thảo luận để lắng nghe sự phản hồi của HS cácnhóm:
+ Tại sao không để Vũ Như Tô còn sống và Cửu Trùng Đài “vẫn cao cả, huy hoàng giữa cõi trần lao lực”?Anh/chị hãy đề xuất cách nào đó để có thể giữ được
cả cái đẹp,cả người tài?
+ Kết thúc truyện “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân và “Vĩnh biệt Cửu
Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng đều là cái chết của người nghệ sĩ Theo em, đó
có thể coi là những cái kết tương đồng, là “sự lặp lại người khác” của hai nhà văn?Tại sao?
c Phản hồi bằng hình thức viết:
HS viết và sáng tạo bài viết, những bài viết này phải được chính tác giả đọchoặc được chia sẻ rộng rãi với những người lớn khác như cha mẹ, thầy cô hoặc vớibạn bè cùng trang lứa trong hoặc ngoài trường học Nó tạo cơ hội cho HS một cơ
sở vững chắc để khám phá ý tưởng, ghi lại những sự kiện quan trọng, giúp HS thamgia phản hồi với những gì đã đọc, kiểm tra kiến thức của chính họ và khả năng giảithích một quan điểm, tổng hợp những gì đã học, đặt vấn đề
Tinh thần chung của mô hình dạy học mới này là khuyến khích tư duy của
HS Sự thám hiểm, thăm dò chân trời của những cách hiểu là điểm cốt yếu củanhững trải nghiệm văn chương Chân trời này là vô tận, luôn ở phía trước Kết thúcgiờ học tác phẩm nhưng không có nghĩa là mọi thứ đã chấm dứt Hoạt động tư duycủa HS về văn bản tiếp tục được khơi gợi khi GV để ngỏ một số vấn đề GV cũngyêu cầu HS xem xét lại những quan điểm đã được trình bày nhưng chưa làm các
em thỏa mãn hoặc các em có cách đánh giá, lí giải khác Những yêu cầu này là mộtdạng câu hỏi và HS trả lời câu hỏi này bằng cách viết phản hồi sau giờ học Nhữngphản hồi này tiếp tục được GV xem xét và đem ra cho cả lớp thảo luận trong tiếthọc sau
Một số câu hỏi GV có thể sử dụng để gợi ý cho HS viết phản hồi sau giờ
đọc văn bản: Theo em, những vấn đề nào của tác phẩm chưa được xem xét thỏa
đáng? Em có thể đưa ra cách lý giải của mình? Ngoài những vấn đề mà tác giả phản ánh trong văn bản, em có nghĩ rằng văn bản còn hướng tớớ́i điều gì khác nữa?
Em thích/ không thích nhân vật nào trong tác phẩm? Tóm lại, vấn đề mà hầu hết
GV dạy môn Ngữ văn luôn trăn trở là làm sao để khơi gợi sự hứng thú, yêu thíchcủa HS đối với môn học này? Bên cạnh đó, làm sao thông qua môn Ngữ văn đểphát triển năng lực cho HS Đó vừa là yêu cầu vừa là xu hướng của nền giáo dụchiện đại
Trang 19Bản chất của PPDH dựa trên phản hồi của người học được thể hiện ở chỗ:trong quá trình tổ chức, hướng dẫn HS tiếp nhận tác phẩm văn chương, GV sửdụng các biện pháp thích hợp để khơi gợi, khuyến khích HS mạnh dạn suy ngẫm vàkhám phá những cách hiểu có thể có về văn bản, từ đó giúp HS tham gia vào quátrình giải mã và tạo nghĩa cho văn bản Hoạt động trong giờ học chủ yếu được tổchức xoay quanh những phản hồi của HS về văn bản cũng như về những phản hồikhác của những HS khác; khi đó quá trình dạy học đọc hiểu văn bản trên lớp yêucầu HS phải huy động tổng hợp kiến thức nền, kiến thức liên văn bản, kiến thứcvăn học sử, kĩ năng phát biểu, lập luận, để giải mã và tạo nghĩa cho văn bản.Đồng thời, một cách tự nhiên, quá trình đó cũng sẽ trở thành quá trình HS so sánh,nhận thức và đánh giá lại những gì đã hiểu khi chuẩn bị bài học ở nhà để tầm đónnhận của mình phát triển toàn diện và sâu sắc hơn.
2.3.3. Thực nghiệm Phương pháp dạy học Ngữ Văn dựa trên phản hồi của học sinh qua một số tác phẩm văn học chương trình Ngữ văn THPT.
Trên cơ sở tìm hiểu về lí thuyết Phương pháp dạy học Ngữ Văn dựa trên phảnhồi của học sinh, tôi nhận thấy đây là một phương pháp có thể sử dụng rộng rãi ởcác môn- các kiểu bài học đặc biệt với môn Ngữ văn ở trường phổ thông Bản thântôi áp dụng phương pháp này thường xuyên và đã thu được kết quả tích cực, gópphần giúp các em có tình yêu đối với môn Văn và cải thiện được điểm số trong các
kì thi, kiểm tra Sau đây, tôi xin được minh họa lý thuyết trên bằng bài dạy cụ thể
I MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
CHÍ PHÈO (Nam Cao - tiết 1)
- Khái quát hoàn cảnh ra đời, nhan đề truyện ngắn Chí Phèo.
- Hình ảnh làng Vũ Đại, nhân vật Bá Kiến
- Hình tượng nhân vật Chí Phèo trước khi vào tù
- Giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm
- Những nét đặc sắc trong nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao như điển hình hoá nhânvật, miêu tả tâm lí, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ nghệ thuật,
2 Các năng lực cần hình thành cho học sinh
* Các năng lực đặc thù
- Đọc
+ Đọc hiểu nắm được cốt truyện, hệ thống nhân vật, các chi tiết tiêu biểu
+ Thấy được giá trị hiện thực sâu sắc của các tác phẩm
Trang 20+ Nhận biết và phân tích được các nhân vật.
-Viết
+ Viết được một đoạn văn nghị luận về một vấn đề trong văn bản
+ Viết bài văn nghị luận hoàn chỉnh
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến tác giả, tác phẩm của Nam Cao
- Năng lực đọc – hiểu truyện ngắn Chí Phèo.
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về tác giả, tác phẩm
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành công, hạn chế, những đóng góp nổi bật của nhà văn
- Năng lực phân tích, so sánh các đề tài trong sáng tác của Nam Cao
- Năng lực tạo lập văn bản nghị luận
- Năng lực giao tiếp, hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản
3 Phẩm chất: Nhân ái; trách nhiệm
- Có tinh thần nhân ái, cảm thông với cuộc đời người nôn dân, trân trọng với khátvọng của con người,biết yêu thương đồng cảm với những cảnh ngộ khổ đau trongcuộc sống
-Sống có lí tưởng, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, quê hương, đất nước; biếtđấu tranh chống lại các thế lực xấu trong xã hội
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp;
-Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà;
- Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi…
- Các phương tiện dạy học: máy tính, máy chiếu, giấy A0, bút màu…
2 Học sinh: theo hướng dẫn của GV:
Trang 21- Soạn bài theo hướng dẫn học bài Sách giáo khoa.
- Hoàn thành phiếu học tập theo câu hỏi GV giao
- Chuẩn bị bài soạn hoạt động nhóm
III.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG (5 phút)
a) Mục tiêu:Phản hồi bằng hình thức trả lời miệng
- Tạo mâu thuẫn nhận thức và tâm thế để HS bắt đầu tiết học mới
- Đánh giá năng lực cảm nhận của học sinh khi phản hồi Giúp học sinh nhận ra cái
chưa biết là số phận khốn khổ của Chí Phèo và đi tìm câu trả lời cho câu hỏi Tại
sao Chí Phèo rơi vào bi kịch như vậy?
b)Nội dung: GV cho HS xem đoạn video và phát vấn.
c)Sản phẩm học tập: câu trả lời của HS
d)Tổ chức thực hiện
Bước 1:GV cho HS xem trích đoạn phim Làng Vũ đại ngày ấy.
GV phát vấn:
Nhân vật xuất hiện trong đoạn phim tên là gì? Em biết gì về nhân vật này?
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ:
- HS xem đoạn video
- Trả lời được câu hỏi
Bước 3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:
- Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ
- Có thái độ tích cực, hứng thú
Bước 4: GV nhận xét, biểu dương; Giới thiệu bài: Mặc dù có những sáng tác
đăng báo từ 1936 nhưng phải đến ChíPhèo Nam Cao mới thực sự nổi tiếng trên văn
đàn Trước Nam Cao đã có những nhà văn thành công khi viết về đề tài nông dânnhư Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và cũng có những tác phẩm
hấp dẫn viết về đề tài lưu manh hóa như Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, đây thực sự là thử thách lớn với những cây bút đến sau, trong đó có Nam Cao Bằng ý thức khơi
những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có và bằng tài năng nghệ thật
độc đáo của mình của mình, Nam Cao đã vượt qua thử thách và khiến cho Chí
Phèo trở thành kiệt tác trong văn xuôi Việt Nam hiện đại.
2 HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC (32 phút)
HOẠT ĐỘNG 1: TÌM HIỂU CHUNG a) Mục tiêu:
Trang 22Giúp hình thành trong học sinh những kiến thức cơ bản theo chuẩn kiến thức kỹ
năng về tác phẩm Chí Phèo.
b)Nội dung:GV giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh:
- Dựa vào phần tiểu dẫn, tìm hiểu thêm từ tài liệu, internet hãy nêu hoàn cảnh ra đời
Thao tác 1: Tìm hiểu chung về
- Từ những hiểu biết về Nam Cao
và tác phẩm (Hoàn cảnh xuất thân,
những yếu tố liên quan đến tác
phẩm…) hãy tạo một Tình huống
giả định về cuộc trò chuyện giữa
một nhà văn trẻ và Nam Cao, qua
đó vừa giới thiệu được các nhan
đề tác phẩm
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ
HS làm việc theo nhóm đôi, thời
- Dựa vào những cảnh thật, người thật màNam Cao được chứng kiến và nghe kể về làngquê mình, có hư cấu
Trang 23+ Truyện ngắn đã mấy lần đổi
tên, đó là những tên nào?
+ Phát biểu suy nghĩ của em về
những lí do đặt tên, đổi tên và
mức độ phù hợp của từng nhan đề
cụ thể đối với chủ đề tư tưởng của
tác phẩm?
– GV yêu cầu các học sinh khác
đánh giá việc nhập vai của các bạn
và bày tỏ ý kiến của bản thân
Bước 4: GV chốt kiến thức bằng
sơ đồ trên máy chiếu cho học
sinh ghi bài.
Vừa trình chiếu GV vừa mở rộng
xuất hiện của Chí Phèo ở đầu
truyện, nơi người ta nhặt được Chí
trần truồng tím ngắt trong cái váy
đụp vàở phần cuối khi Thị Nở
nhìn xuống bụng mơ hồ lo lắng
cho sự ra đời của Chí Phèo con →
sự xuất hiện của Chí Phèo, sự
quẩn quanh bế tắc (tức là hiện
tượng Chí Phèo sẽ chưa hết nếu
bọn cường hào địa chủ còn tác oai,
tác quái trên đầu dân lành) Nhan
đề vẫn chưa làm nổi bật giá trị của
Trang 24Phèo - Thị Nở (bởi hơn 40 năm
vật lộn với đời, Chí Phèo chỉ được
thực sự sống vỏn vẹn như một con
người trong năm, sáu ngày ngắn
ngủi, ấm áp tình người Việc gặp
Thị Nở là sự bù đắp cho Chí, bởi
Thị không chỉ là người yêu, hơn
thế còn là chị, là Mẹ) (Tiến sĩ
Nguyễn Thành Thi) Nhưng với
nhan đề này chưa làm bao quát
được chủ đè của tác phẩm
- Sau cách mạng 1946, tác phẩm
được tái bản và được đổi tên một
lần nữa Chí Phèo, in trong tập
Luống cày → nhấn mạnh nhân vật
Chí Phèo (nhân vật chính của
truyện, mọi tình tiết, sự kiện, đều
xoay quanh số phận bi kịch của
nhân vật này: bi kịch của một
người bị tha hóa thành quỷ dữ, bi
kịch của con người bị từ chối
quyền làm người, bi kịch của một
sự thức tỉnh quá muộn và phải trả
giá bằngc ái chết) Khi đặt tên
nhan đề, tác giả muốn người đọc
tập trung vào nhân vật này chứ
không phải nhân vật khác, và tất
cả nội dung, chủ đề, giá trị của tác
phẩm cũng đều toát lên ở chính
nhân vật này chứ không phải nhân
vật khác
GV yêu cầu HS tóm tắt tác
phẩm Chí Phèo: (theo sự chuẩn
bị bài đã chia nhóm, HS cử đại
diện lên tóm tắt bằng sơ đồ)
4 Bố cục: 3 phần
- Phần 1: Từ đầu…không ai biết: Nhân vật Chí
Phèo xuất hiện cùng với tiếng chửi
- Phần 2: Tiếp theo…mau lên:Quá trình tha
hóa của Chí Phèo
- Phần 3: Còn lại: Quá trình thức tỉnh và bikịch bị cự tuyệt quyền làm người của cuộc đờiChí Phèo