Tiểu luận Môn Dân sự 1 Những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế Đề tài: Điều kiện được công nhận là pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam Nộp vào năm 2020, có tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
ĐIỀU KIỆN ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ PHÁP NHÂN
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Người thực hiện: Đào Phương Linh MSSV: 2053801090059
Lớp: TMQT45A(2)
Trang 2BLDS Bộ luật dân sự
Trang 3MỤC LỤC
1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP NHÂN 1
1.1 Pháp nhân là gì 1
1.2 Phân loại pháp nhân 1
1.3 Ý nghĩa của việc công nhận là pháp nhân 2
2 ĐIỀU KIỆN ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ PHÁP NHÂN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2
2.1 Pháp nhân phải được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và luật khác có liên quan 2
2.1.1 Nội dung điều kiện 3
2.1.3 So sánh điều kiện này với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 5
2.1.4 Ý nghĩa của quy định pháp nhân phải được thành lập theo luật định: 5
2.2 Pháp nhân phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ theo quy định tại Điều 83 Bộ luật Dân sự năm 2015 6 2.2.1 Nội dung điều kiện 6
2.2.2 Ý nghĩa của các quy định về cơ cấu tổ chức của pháp nhân 6
2.3 Pháp nhân phải có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình 7
2.3.1 Nội dung điều kiện 7
2.3.2 Hạn chế của điều kiện này 8
2.3.3 Ý nghĩa của điều kiện này 9
2.4 Pháp nhân phải nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập 10
2.4.1 Nội dung điều kiện 10
2.4.2 Hạn chế của điều kiện này 10
2.4.3 Ý nghĩa của điều kiện này 11
3 KẾT LUẬN 11
Trang 41 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP NHÂN
1.1 Pháp nhân là gì
- Hiện nay, pháp luật nước ta chưa đưa ra một khái niệm cụ thể để định nghĩa pháp nhân là gì Tuy nhiên, Điều 74 BLDS năm 2005 đã nêu ra những điều kiện để được công nhận là pháp nhân như sau:
“Điều 74 Pháp nhân
1 Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
2 Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
- Từ ý chí của quy định trên và các quy phạm pháp luật khác có liên quan tại Thông tư số 525 ngày 26/3/1975 của Trọng tài Kinh tế, Nghị định số 17 ngày 16/01/1990 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự ngày 01/7/1991, có thể đưa ra khái niệm pháp nhân như sau: Pháp nhân là tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng
và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập1
1.2 Phân loại pháp nhân
- Điều 100 BLDS năm 2005 dùng cách liệt kê để phân các loại pháp nhân bao gồm:
“Điều 100 Các loại pháp nhân
1 Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
2 Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
3 Tổ chức kinh tế
4 Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
5 Quỹ xã hội, quỹ từ thiện
6 Tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 của Bộ luật này.”
- Việc phân chia pháp nhân như trên dường như không theo một tiêu chí rõ rệt, hợp lý nào2 Do
dó, BLDS năm 2015 đã khắc phục điểm này và phân loại pháp nhân trên dựa trên một tiêu chí rõ rệt là mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của pháp nhân và việc phân chia lợi nhuận cho các thành viên3 Điều 75 và Điều 76 BLDS năm 2015 phân chia pháp nhân thành hai loại là: + Điều 75: Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
+ “Điều 76: Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên
- Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn, việc phân loại pháp nhân có thể được dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, nhưng cách phân loại như quy định của BLDS năm 2015 phù
1 Hoàng Đức Cường (2017), “Pháp nhân thương mại trong pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,
số 3(331), tr 18
2 Trương Thanh Đức, “Bình luận về chế định Pháp nhân và đại diện pháp nhân trong BLDS năm 2005”, Hội thảo Thực tiễn thi
hành một số chế định của BLDS năm 2005 phục vụ công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự - Bộ Tư pháp, Hà Nội
25/5/2012
3 Trần Tuấn Vũ (2017), “Những điểm mới của chế định của chế định pháp nhân trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số vấn đề
liên quan”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 01(104)/2017, tr 34-40
Trang 52 hợp hơn với bản chất pháp lý của chủ thể các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc
tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm Trên cơ sở nguyên tắc này, sự khác biệt lớn nhất giữa các pháp nhân không phải là ở thành phần chủ thể, cơ cấu tổ chức, quy mô hoạt động mà là mục đích hoạt động của pháp nhân4
1.3 Ý nghĩa của việc công nhận là pháp nhân
Tư cách pháp nhân có nhiều ý nghĩa đặc biệt và đem lại những thuận lợi nhất định cho các tổ chức được công nhận
- Đầu tiên, việc công nhận tư cách pháp nhân sẽ mang lại sự ổn định pháp lý cho tổ chức + Nếu như không thừa nhận tư cách pháp nhân cho tổ chức, thì mọi thể nhân là thành viên của tổ chức đều sẽ phải tham gia vào xác lập các giao dịch pháp lý, và những giao dịch này sẽ đứng tên các thành viên Điều này tạo ra sự phức tạp không nhỏ cho đời sống pháp
lý của tổ chức cũng như các bên tiến hành giao dịch cùng
+ Được công nhận tư cách pháp nhân khiến cho sự tồn tại và chấm dứt của pháp nhân không phụ thuộc vào đời sống các cá nhân trong tổ chức Bản thân đời sống cá nhân của mỗi thành viên trong tổ chức có tính ổn định không cao và có khả năng xảy ra nhiều biến
cố Vậy nên, nếu tổ chức không có tư cách pháp nhân và phụ thuộc hoàn toàn vào đời sống của những thể nhân tạo ra nó thì tính ổn định của tổ chức sẽ không được đảm bảo
- Thứ hai, việc được công nhận tư cách pháp nhân cho tổ chức đó có quyền tự nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập Điều này tạo nên sự chủ động và linh hoạt cho tổ chức trong quá trình hoạt động của mình, tăng tính hiệu quả cho tổ chức
- Cuối cùng, đặc biệt là đối với những pháp nhân thương mại, việc công nhận tư cách pháp nhân tạo ra sự tách bạch về tài sản giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp Vì vậy các thành viên trong doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp của mình cho doanh nghiệp (trừ các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh) Còn chủ sở hữu doanh nghiệp hay tổ chức không có tư cách pháp nhân thì phải chịu trách nhiệm vô hạn với toàn bộ tài sản của mình Điều này giảm bớt rủi ro trong kinh doanh cho chủ sở hữu doanh nghiệp và khuyến khích các nhà kinh doanh mạnh dạn đầu tư.5
2 ĐIỀU KIỆN ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ PHÁP NHÂN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
2.1 Pháp nhân phải được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và luật khác có liên quan
- Điều kiện này được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 74 BLDS năm 2015
- Việc thành lập và đăng ký pháp nhân theo quy định của BLDS năm 2015 được ghi nhận ở Điều 82, theo đó:
“Điều 82 Thành lập, đăng ký pháp nhân
1 Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2 Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật
4 Đinh Trung Tụng và tgk (2017), Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB Lao Động, tr 67
5 Dương Thị Cẩm Hằng, “Tư cách pháp nhân đối với đời sống của Doanh nghiệp”, [
http://poi.htu.edu.vn/nghien-cuu/121- t%C6%B0-c%C3%A1ch-ph%C3%A1p-nh%C3%A2n-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-%C4%91%E1%BB%9Di-
s%E1%BB%91ng-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p?highlight=WyJ0XHUxZWViIiwiY1x1MDBlMWNoIiwicGhcdTAwZTFwIiwidFx1MDFiMCBjXHUwMG UxY2giLCJ0XHUwMWIwIGNcdTAwZTFjaCBwaFx1MDBlMXAiLCJjXHUwMGUxY2ggcGhcdTAwZTFwIl0 =] (truy cập ngày 12/11/2021)
Trang 63 Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.”
2.1.1 Nội dung điều kiện
Thứ nhất, về việc thành lập pháp nhân:
- Dựa vào khoản 1 Điều trên cho thấy tất cả chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam đều có quyền thành lập pháp nhân Việc này thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 74 BLDS năm 2015: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
- Có thể thấy rằng chủ thể có quyền thành lập pháp nhân rất rộng, nhưng vẫn tồn tại một số trường hợp quyền này bị hạn chế, đặc biệt trong việc thành lập pháp nhân thương mại, cụ thể
là việc thành lập doanh nghiệp Theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 thì bảy nhóm đối tượng sau đây bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam: + Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
+ Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức
+ Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật Doanh nghiệp 2020, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
+ Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
+ Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;
+ Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự
- Trình tự, thủ tục thành lập pháp nhân phụ thuộc vào loại hình tổ chức và mục đích hoạt động của nó, có nhiều loại trình tự, thủ tục khác nhau được áp dụng cho từng loại pháp nhân tương ứng Tuy nhiên, cần xác định là, quy định của BLDS về pháp nhân là cơ sở pháp lý chung cho mọi loại pháp nhân Do đó, tất cả các loại pháp nhân khi thành lập đều phải tuân thủ các quy định chung của BLDS6 năm 2015
Thứ hai, về việc đăng ký pháp nhân:
- Khoản 2 Điều 82 BLDS năm 2015 quy định: “Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật.”
6 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự: Tái bản lần 1, có sửa đổi bổ
sung, NXB Hồng Đức, tr 163
Trang 74
- Tiếp đó, khoản 2 Điều 86 BLDS năm 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký.”
- Vậy, khi thành lập một pháp nhân thì phải trải qua ít nhất một bước đăng ký là đăng ký thành lập Bên cạnh đó, đối với một số tổ chức nhất định là còn phải trải qua bước đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân mới được phát sinh
- Bên cạnh đó, pháp nhân cũng phải đăng ký thay đổi thông tin khi có bất cứ thông tin gì có sự đổi khác so với khi đăng ký thành lập, đặc biệt là đối với doanh nghiệp7
- Khoản 3 Điều 82 BLDS 2015 quy định: “Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.”
+ Trước kia, để tra cứu thông tin đăng ký kinh doanh của một doanh nghiệp cụ thể, các cá nhân, tổ chức cần liên hệ Phòng đăng ký kinh doanh các tỉnh, thành phố để đề nghị được cung cấp thông tin theo quy định Ngày nay, với sự phát triển của Internet, thông tin đăng
ký doanh nghiệp được công bố, chia sẻ rất nhiều trên mạng Internet, trong đó, bên cạnh những thông tin phải trả phí, có rất nhiều thông tin được cung cấp hoàn toàn miễn phí8 + Một địa chỉ chính thống đăng tải công khai các thông tin đăng ký doanh nghiệp là
website Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp9 Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp cung cấp thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, là tập hợp dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc Thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và tình trạng pháp lý của doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ
sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý là thông tin gốc về doanh nghiệp Các thông tin đăng ký doanh nghiệp được đăng tải công khai trên Cổng thông tin bao gồm:
1 Tên doanh nghiệp bằng tiếng Việt;
2 Tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài;
3 Tên doanh nghiệp viết tắt;
4 Tình trạng hoạt động;
5 Mã số doanh nghiệp;
6 Loại hình pháp lý;
7 Ngày bắt đầu thành lập;
8 Tên người đại diện theo pháp luật;
9 Địa chỉ trụ sở chính;
10 Mẫu dấu;
11 Ngành, nghề kinh doanh
+ Theo điểm k và điểm m khoản 1 Điều 17 Luật tiếp cận thông tin năm 2016 thì một số những thông tin của cơ quan nhà nước, tức những pháp nhân phi thương mại, phải được công khai rộng rãi là:
“k) Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan và của đơn
vị trực thuộc; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết các công việc của Nhân dân; nội quy, quy chế do cơ quan nhà nước ban hành;
7 Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2020
8 Vũ Đăng Hoàng - Vũ Minh Quân (2018), “Công khai, minh bạch hóa thông tin đăng ký doanh nghiệp”,
[ https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/611/4844/cong-khai minh-bach-hoa-thong-tin-dang-ky-doanh-nghiep.aspx ] (truy cập ngày 12/11/2021)
9 Khoản 1 Điều 32 Luật Doanh nghiệp 2020: “Doanh nghiệp sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và phải nộp phí theo quy định của pháp luật.”
Trang 8
m) Danh mục thông tin phải công khai theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 của Luật này; tên, địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử của cơ quan nhà nước hoặc người làm đầu mối tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin;”
+ Các thông tin trên sẽ được công khai bằng hình thức: Đăng tải trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo; niêm yết tại trụ sở cơ quan nhà nước và các địa điểm khác; thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật; các hình thức khác thuận lợi cho công dân do
cơ quan có trách nhiệm công khai thông tin xác định10
+ Việc công khai thông tin rộng rãi đến người dân của các cơ quan nhà nước góp phần bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; là điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, làm tăng tính hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước; bảo đảm sự công bằng, dân chủ và tăng cường trách nhiệm của công dân
2.1.3 So sánh điều kiện này với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005
- BLDS năm 2005 chỉ quy định điều kiện này là “Được thành lập hợp pháp” Như vậy, quy định của BLDS năm 2015 cụ thể, rõ ràng hơn, thể hiện sự minh bạch của pháp luật và cũng thể hiện sự nhấn mạnh là pháp nhân phải được thành lập theo BLDS và các luật liên quan Điểm này nói lên tính “thứ bậc” của hệ thống pháp luật; đồng thời thể hiện sự minh bạch của pháp luật: việc thành lập pháp nhân chỉ có thể được điều chỉnh bằng đạo luật xác định (luật khác có liên quan), chứ không phảo là luật nói chung, và càng không thể là văn bản dưới luật11
- So với BLDS năm 2005, những điều kiện trong BLDS năm 2015 đã có sự thay đổi về chất Việc thành lập và đăng ký pháp nhân theo bộ luật này được điều chỉnh tại Điều 82, qua đó ghi nhận sự tồn tại của pháp nhân và tư cách pháp nhân của chủ thể đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được pháp luật công nhận, khác với việc thành lập một tổ chức12
2.1.4 Ý nghĩa của quy định pháp nhân phải được thành lập theo luật định:
- Thừa nhận sự ra đời và khai sinh pháp nhân: tạo hành lang pháp lý cho sự ra đời của pháp nhân, quy định sự kiện pháp lý làm phát sinh tư cách chủ thể của pháp nhân, đồng thời đó còn là thời điểm chuyển giao các quyền và nghĩa vụ, từ người được các sáng lập viên ủy quyền tiến hành các thủ tục cần thiết để thành lập pháp nhân, sang cho pháp nhân
- Một tổ chức được coi là hợp pháp nếu có mục đích, nhiệm vụ hợp pháp và được thành lập theo trình tự và thủ tục do luật định Nhà nước bằng các quy định về thẩm quyền ra quyết định thành lập, trình tự, thủ tục thành lập, điều kiện thành lập các tổ chức chi phối đến các tổ chức tồn tại trong xã hội13 Do đó, một tổ chức tổ chức muốn có tư cách pháp nhân, được
10 Lê Thanh Hải, “Các loại thông tin cơ quan nhà nước phải công khai theo Luật tiếp cận thông tin”,
[ https://sotttt.camau.gov.vn/wps/portal/?1dmy&page=trangchitiet&urile=wcm%3Apath%3A/sottttlibrary/siteofsotttt/tintucsukien/t hanhtra/cacloaithongtintheoluattiepcanthongtin ] (truy cập ngày 12/11/2021)
11 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự: Tái bản lần 1, có sửa đổi bổ
sung, NXB Hồng Đức, tr 162
12 Trần Tuấn Vũ (2017), “Những điểm mới của chế định của chế định pháp nhân trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số vấn đề
liên quan”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 01(104)/2017, tr 34-40
13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Tập 1 (Tái bản có sửa đổi, bổ sung), NXB Công an
nhân dân Hà Nội, tr.108
Trang 96 pháp luật công nhận, thì nó phải được thành lập vì một lợi ích thiết thực của Nhà nước hay lợi ích của xã hội
- Đây còn là cơ sở pháp lý để Tòa án và các cơ quan tài phán xem tính hợp pháp của các pháp nhân và giải quyết các tranh chấp liên quan đến sự thành lập và tồn tại của các pháp nhân
2.2 Pháp nhân phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ theo quy định tại Điều 83 Bộ luật Dân sự năm 2015
- Điều kiện này được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 74 BLDS năm 2015
- Việc cơ cấu tổ chức của pháp nhân trong BLDS năm 2015 được quy định như sau:
“Điều 83 Cơ cấu tổ chức của pháp nhân
1 Pháp nhân phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân
2 Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.”
2.2.1 Nội dung điều kiện
- Trước tiên, pháp nhân là một tập thể gồm nhiều thành viên được sắp xếp theo một hình thái nào đó phù hợp với chức năng, lĩnh vực hoạt động của nó Cơ cấu của pháp nhân phải được xây dựng và quy định chặt chẽ, hoàn chỉnh, ổn định, thống nhất nhằm làm đảm bảo tính hiệu
quả trong hoạt động của pháp nhân
- Từ quy định tại Điều 83 BLDS năm 2015 có thể thấy, cơ quan điều hành là một thành phần bắt buộc trong cơ cấu tổ chức của pháp nhân Tùy theo từng loại pháp nhân khác nhau mà có
cơ quan điều hành tương ứng
- Bên cạnh cơ quan điều hành, pháp nhân cũng phải có một số các cơ quan khác để có thể thực hiện chức năng của mình Đối với mỗi loại hình pháp nhân khác nhau sẽ xây dựng những cơ quan phù hợp để vận hành pháp nhân Tuy nhiên, có thể khái quát các bộ phận đó thành hai nhóm như sau:
+ Các bộ phận chuyên môn thực hiện các chức năng nhiệm vụ chính của pháp nhân;
+ Các bộ phận nghiệp vụ thực hiện các công việc chung để hỗ trợ và tạo điều kiện cần thiết cho các bộ phận chuyên môn hoạt động tốt
- Chính vì pháp nhân là một tổ chức cấu thành từ nhiều bộ phận, nhiều đơn vị khác nhau, nên cần phải có một “trung tâm đầu não” chỉ đạo và điều phối hoạt động cho từng bộ phận, từng
cá nhân của pháp nhân để có thể hoạt động một cách trơn tru Đó chính là cơ quan điều hành
- Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân Điều này thống nhất với điểm e khoản 2 Điều 77 BLDS năm 2015 quy định về nội dung chủ yếu trong điều lệ pháp nhân: “Cơ cấu tổ chức; thể thức cử, bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các chức danh của cơ quan điều hành và các cơ quan khác”
2.2.2 Ý nghĩa của các quy định về cơ cấu tổ chức của pháp nhân
- Tạo tiền đề thực tế giúp cho tổ chức có đủ năng lực cần thiết để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình và hoạt động có hiệu quả
- Đảm bảo sự tồn tại ổn định của tổ chức, không lệ thuộc vào số lượng và sự thay đổi thành viên
Trang 10- Hoạt động độc lập, không lệ thuộc về mặt tổ chức đối với thành viên và cơ quan sáng lập pháp nhân14
2.3 Pháp nhân phải có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
- Điều kiện này được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 74 BLDS năm 2015: “Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình”
- Nhìn chhung đối với điều kiện này, BLDS năm 2015 đã kế thừa của BLDS năm 2005
- Thực chất, điều kiên này chứa đựng hai nội dung: “có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác” và “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình” Tuy có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng đây là hai điều kiện độc lập với nhau về mặt pháp lý15
2.3.1 Nội dung điều kiện
Thứ nhất, pháp nhân phải có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác
- Theo quy định tại Điều 81 BLDS năm 2015 thì: “Tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.” Đây là quy định mới được bổ sung vào BLDS năm 2015
- Từ quy định trên có thể thấy, tài sản độc lập của pháp nhân không chỉ bao gồm các tài sản riêng của pháp nhân, mà còn bao gồm các loại tài sản khác mà pháp nhân được Nhà nước
tạm giao hoặc hỗ trợ để thực hiện các chức năng phi lợi nhuận, nhất là đối cới các cơ quan nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp, các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội 16
- Nhưng “tài sản riêng” của chủ thể thì không đồng nghĩa với “tài sản độc lập” của chủ thể
của chủ thể, vì hộ gia đình, tổ hợp tác cũng có tài sản riêng, nhưng tài sản này không hoàn toàn độc lập với tài sản của thành viên17
- Tính độc lập về tài sản của pháp nhân thể hiện ở chế độ quản lý, kiểm soát và cơ chế thực hiện quyền làm chủ của pháp nhân đối với tài sản của mình Tài sản độc lập của pháp nhân là tài sản thuộc quyền của pháp nhân đó, do pháp nhân chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong phạm vi nhiệm vụ và phù hợp với mục đích của pháp nhân18
- Tài sản của pháp nhân có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc thuộc hình thức sở hữu hỗn hợ hoặc các hình thức sở hữu khác nhưng các pháp nhân thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt như một chủ sở hữu trong khuôn khổ điều lệ hoặc quyết định thành lập pháp nhân ghi nhận19
- Tài sản của pháp nhân độc lập với tài sản của cá nhân – thành viên của pháp nhân, đồng thời độc lập với tài sản của pháp nhân khác – cơ quan cấp trên của pháp nhân và các tổ chức khác
14 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự: Tái bản lần 1, có sửa đổi bổ
sung, NXB Hồng Đức, tr 166
15 Phan Huy Hồng – Lê Nết (2006), “Trách nhiệm tài sản của pháp nhân: hữu hạn hay vô hạn”, Tạp chí khoa học pháp lý, số
6(31)/2005, tr 22-28
16 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự: Tái bản lần 1, có sửa đổi bổ
sung, NXB Hồng Đức, tr 167
17 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự: Tái bản lần 1, có sửa đổi bổ
sung, NXB Hồng Đức, tr 170
18 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Tập 1 (Tái bản có sửa đổi, bổ sung), NXB Công an
nhân dân Hà Nội, tr.110
19 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Tập 1 (Tái bản có sửa đổi, bổ sung), NXB Công an
nhân dân Hà Nội, tr.111