1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CHÍNH PHỦ - ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT HIẾN PHÁP

16 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 555,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CP là cơ quan chấp hành của Quốc hội Với 3 lý do chính: Thứ nhất, CP do QH lập ra: - Cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm bao nhiêu Bộ, cơ quan ngang Bộ và tên gọi của các Bộ, cơ quan ng

Trang 1

CHÍNH PHỦ

I Vị trí, tính chất pháp lý của Chính phủ:

Theo Điều 94 Hiến pháp 2013 và Điều 1 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 thì Chính phủ có 2 tính chất sau:

1 CP là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN (nhấn mạnh tính hành chính của CP)

Tính hành chính được làm sáng tỏ thông qua 3 khía cạnh:

- CP được QH lập ra để thực hiện chức năng quản lý: lập chính phủ ra để điều hành, quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Quản lý đã trở thành chức năng, là phương diện hoạt động thường xuyên và chủ yếu (quản lý tức là hành chính) Cho nên, CP là 1 cơ quan HC hay còn được gọi là cơ quan quản lý Vì vậy,

CP sẽ được xếp vào vị trí là hệ thống các cơ quan quản lý, hay hệ thống các cơ quan hành chính

- Trong hệ thống hành chính (có nhiều cơ quan), trong tất cả các cơ quan trong hệ

thống hành chính này thì: Chính phủ là cao nhất, CP được xác định là trung tâm mệnh lệnh, chỉ đạo điều hành cả hệ thống hành chính.

Cụ thể:

Ở trung ương Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất: cấu thành CP là các cơ quan chuyên môn đó là các Bộ, cơ quan ngang Bộ Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của CP là UBND cấp tỉnh, cấu thành cơ quan cấp tỉnh là các Sở và tương đương Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND cấp tỉnh là cấp huyện, cấu thành UBND cấp huyện là các Phòng Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND cấp huyện là UBND cấp xã

Tất cả các cơ quan trên đều có chức năng quản lý nhưng quản lý của CP khác với quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ:

 CP là cơ quan quản lý ở trung ương, 1 mệnh lệnh của CP đưa ra có phạm vi trong cả nước, không bị giới hạn bởi đơn vị hành chính lãnh thổ

 CP là cơ quan quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

 Trong khi đó, Bộ cũng là cơ quan quản lý ở trung ương nhưng theo ngành, theo lĩnh vực nhất định

 UBND các cấp cũng là cơ quan quản lý có thẩm quyền chung nhưng thẩm quyền này bị giới hạn bởi đơn vị hành chính lãnh thổ

Ví dụ:

Trang 2

Khi có thông tin về ca bệnh ở đầu tiên ở Vũ Hán và nguy cơ lây lan của

COVID-19, ngày 16/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Y tế (phối hợp với Tổ

chức Y tế thế giới - WHO) khẩn trương xây dựng các kịch bản, phương án phòng, chống dịch; chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ công tác cách ly, xét nghiệm, khám, điều trị

Đến ngày 23/01/2020 khi phát hiện ca nhiễm bệnh đầu tiên ở Việt Nam, Thủ tướng

Chính phủ ban hành Công điện số 121/CĐ-TTg và liên tiếp các ngày 28 và 31/01/2020, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 28/01/2020 “Về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra”, Chỉ thị số 06/CT-TTg, ngày 31/01/2020 “Về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống trước các diễn biến phức tạp mới của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra”, trong đó quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để phòng, chống dịch Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch được thành lập

Tóm lại, từ những phân tích vừa rồi để thấy được CP là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, là trung tâm, mệnh lệnh, chỉ đạo, điều hành cả hệ thống hành chính

- Với tư cách là cơ quan hành chính thì CP phải là nơi hay gọi là phủ của những chính sách, là nơi nắm mọi nguồn nhân lực, vật lực, biên chế, cán bộ, công chức, đội ngũ, lương bổng và tiềm năng quốc gia Vì vậy theo 1 quy tắc bất

thành văn, CP là rất quan trọng, người đứng đầu hành pháp sẽ có thực quyền

Trên thế giới các quốc gia phân loại chính thể tổng thống, chính thể cộng hòa và bán tổng thống dựa vào tiêu chí quan trọng nhất là ai nắm hành pháp Thủ tướng chế, nội các chế, đại nghị chế: thủ tướng nắm trọn quyền hành pháp; tổng thống chế: tổng thống nắm trọn quyền hành pháp; bán tổng thống chế: cả tổng thống và thủ tướng chia nhau quyền hành pháp

Từ tất cả những đặc điểm trên nhằm mục đích làm sáng tỏ tính hành chính của

Chính phủ, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, là trung tâm mệnh lệnh, chỉ đạo điều hành toàn bộ hệ thống hành chính.

2 CP là cơ quan chấp hành của Quốc hội

Với 3 lý do chính:

Thứ nhất, CP do QH lập ra:

- Cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm bao nhiêu Bộ, cơ quan ngang Bộ và tên gọi của các Bộ, cơ quan ngang Bộ là do Quốc hội ra nghị quyết quyết định trong từng nhiệm kỳ Quy trình là tập thể CP xây đề án, CP trình ra QH và QH quyết định

Trang 3

- Quốc hội quyết định số lượng Phó Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Thủ tướng

- Quốc hội bầu ra Thủ tướng Chính phủ trong số các đại biểu Quốc hội theo sự giới thiệu của Chủ tịch nước Quy định này nhằm đảm bảo tính chấp hành của Chính phủ trước Quốc hội thể hiện ở chỗ:

 Nếu là đại biểu Quốc hội thì Thủ tướng sẽ đương nhiên tham dự các kỳ họp của Quốc hội để nghe và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đường lối, chủ trương của Quốc hội để từ đó triển khai cho Chính phủ thi hành

 Mặt khác, quy định này đặt ra yêu cầu đòi hỏi Thủ tướng phải đạt được sự tín nhiệm nhất định của cử tri thông qua việc phải được bầu làm đại biểu Quốc hội

Thứ hai, Chính phủ phải chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách trong Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, được nhân dân trực tiếp trao cho quyền lực, Quốc hội nói chung và các đại biểu Quốc hội nói riêng có nhiệm vụ quan trọng là tiếp công dân và tiếp xúc cử tri để thu thập tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; đem ra kỳ họp Quốc hội bàn bạc, thảo luận và biến những tâm tư, nguyện vọng ấy thành chủ trương, quyết sách trong Hiến pháp, luật và nghị quyết Quốc hội lập ra Chính phủ là để Chính phủ thi hành chủ trương

và quyết sách đó Với tư cách là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ nước ta không có quyền phủ quyết các dự luật của Quốc hội cũng như các pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- CP ban hành văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành: Chính phủ phải tự mình hoặc chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (nghị định, thông tư…) để triển khai thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội trong thực tế cuộc sống

- Các cuộc họp của CP là tìm biện pháp thi hành đường lối, chủ trương: Chính phủ phải họp bàn tìm biện pháp cụ thể và phân công, chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang

Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp tiến hành những biện pháp cụ thể để chủ trương, quyết sách của Quốc hội được thực thi trên thực tế

Tóm lại, bản thân QH chỉ đề ra đường lối, chủ trương nên lập ra CP để đưa đường lối, chủ trương vào thực tế

Thứ ba, QH giám sát hoạt động của CP.

- Chính phủ phải báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trang 4

- Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ phải trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội và phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm: Thể hiện sự tín nhiệm của Quốc hội đối với Chính phủ thông qua việc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với các chức danh của Chính phủ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Chức danh nào của Chính phủ không được quá nửa số phiếu tín nhiệm của đại biểu Quốc hội thì người đã giới thiệu chức danh đó cho Quốc hội bầu hoặc đề nghị Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm chức danh đó có trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức chức danh đó

- Quốc hội có quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ nếu các văn bản đó trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội Trong khi đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội thì có quyền đình chỉ thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ nếu các văn bản đó trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ nếu các văn bản đó trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Quốc hội có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Chủ tịch nước; phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ

 Sau khi phân tích 3 phương diện trên chúng ta có thể đi đến kết luận dù có

đề cao tính hành chính đến đâu thì cũng không thể bỏ qua tính chấp hành của CP (đã được qua định liên tục trong các bản HP của nước ta) Đảm bảo tính chấp hành để nâng cao sự phân định rạch ròi giữa LP và HP

So sánh Điều 94 HP 2013 với Điều 109 HP 92:

Có 2 điểm mới quan trọng:

1 Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến của Nhà nước ta, Hiến pháp đã chính thức thừa nhận Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp.

Thực hiện quyền hành pháp có ý nghĩa gì:

- Phân công, phân nhiệm rõ ràng hơn, triệt để hơn, rành mạch hơn

HP 1992: có nói về quyền LP, HP, TP nhưng không chỉ rõ cơ quan nào thực hiện

quyền gì

HP 2013: nói về quyền LP, HP, TP và chỉ rõ rõ cơ quan nào thực hiện quyền gì Cụ

thể:

Trang 5

Điều 69: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực

hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất

nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước

Điều 94: Chính phủ Thực hiện quyền hành pháp

Điều 102: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

Dẫn đến hệ quả là, CP giờ đây là một nhánh quyền lực thật sự, thực hiện một loại quyền lực Vị trí của CP có phần độc lập tương đối và cân bằng hơn so với QH, không còn là thân phận phái sinh của QH Cho nên CP phải kiến tạo, năng động, là nơi khơi nguồn hầu hết các chính sách quốc gia quan trọng và kèm theo với tự chịu trách nhiệm

Phân biệt quyền hành chính và quyền hành pháp:

Hành pháp: là 1 nhánh quyền lực trọn vẹn, là 1 loại quyền nên sẽ bao gồm:

- Hoạch định chính sách hành pháp

- Điều hành quản lý để thực thi chính sách hành pháp

Hành chính là điều hành quản lý nên chỉ là 1 nội dung của hành pháp

Ở VN trước năm 2013 không quy định CP thực hiện quyền hành pháp là vì với tư duy quyền hành pháp là của dân, dân trao cho QH, nhưng QH không trao hết cho

CP nên CP chỉ là cơ quan hành chính, thực hiện 1 nội dung của hành pháp còn người hoạch định chính sách là Quốc hội Cả 2 cơ quan này cùng chia sẻ quyền hành pháp nên CP không năng động và sáng tạo

Ngày nay, CP phải năng động, sáng tạo phải là phủ của những chính sách

2 Đặt nội dung “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” lên trước nội dung “là cơ quan chấp hành của Quốc hội”

Nhắc đến CP trước hết phải nhấn mạnh tính hành chính, là cơ quan được lập ra trước hết là để điều hành, quản lý, để thực thi chính sách, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của người dân để phát triển đất nước

Trên cơ sở điều hành quản lý này khi nào QH họp sẽ làm cơ sở để báo cáo, để chịu trách nhiệm

HP 92 quy định tính chấp hành lên trước tính hành chính, thì dễ đưa đến nhận thức sai lầm là CP lập ra để phục vụ QH, đặt sứ mệnh phục vụ QH lên trước phục vụ nhân dân và đất nước, CP bị động, đợi QH họp, QH quyết gì làm đó

Trang 6

II Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ

Điều 96 Hiến pháp 2013, so sánh với Điều 112 Hiến pháp 1992

III Cơ cấu, tổ chức của Chính phủ

3.1 Thành viên của Chính phủ

Điều 95 Hiến pháp năm 2013 quy định về các thành viên của Chính phủ bao gồm: Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Thứ nhất, Thủ tướng Chính phủ :

Thủ tướng Chính phủ là một thành viên của Chính phủ nhưng lại không bị lẫn vào Chính phủ, để lại dấu ấn cá nhân đậm nét trong toàn bộ sự vận hành của Chính phủ

và nền hành chính quốc gia Kế thừa những quy định tiến bộ của Hiến pháp sửa đổi

2001, Hiến pháp (năm 2013) tiếp tục đề cao vai trò của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời làm sáng tỏ hơn vị trí trang trọng của người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương

Hiến pháp năm 1980 quy định Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo trước Hội đồng Nhà nước Hiến pháp năm 1992 quy định Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Chủ tịch nước (chỉ phải báo cáo công tác) là phù hợp với vị trí của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Hiến pháp năm 2013 quy định thêm Thủ tướng không chỉ báo cáo công tác của Chính phủ mà còn báo cáo cả công tác của Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Điều này là phù hợp hơn với yêu cầu tăng cường tính độc lập của Chính phủ và đề cao vai trò của Thủ tướng Chính phủ trong hoạt động quản lý điều hành

Thứ hai, Phó Thủ tướng:

Phó Thủ tướng là người giúp việc cho Thủ tướng, đồng thời là một thành viên của

Chính phủ

Phó Thủ tướng do Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo

đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công

Chính phủ nước ta có nhiều Phó Thủ tướng nên khi Thủ tướng vắng mặt, một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt Thủ tướng lãnh đạo công tác của Chính phủ

Thứ ba, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ:

Trang 7

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang

Bộ, lãnh đạo công tác của Bộ, cơ quan ngang Bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công đồng thời tham gia thực hiện các nhiệm

vụ chung của tập thể Chính phủ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Thủ tướng Hiến pháp năm 2013 quy định trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tương đối đầy đủ và toàn diện: trước tiên, Bộ trưởng, Thủ trưởng

cơ quan ngang Bộ phải chịu trách nhiệm cá nhân không chỉ trước Quốc hội, trước Thủ tướng mà còn trước tập thể Chính phủ về ngành, lĩnh vực phụ trách; tiếp theo,

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ Hiến pháp năm 2013 không quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phải báo cáo công tác trước Quốc hội và Chủ tịch nước là nhằm mục đích tránh sự chồng chéo, trùng lặp và đề cao vai trò của Thủ tướng

Hiến pháp năm 1980 quy định tất cả các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng đều

do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Quy định này cho thấy Hiến pháp năm

1980 không đề cao vai trò của người đứng đầu trong việc lựa chọn các thành viên khác của Hội đồng Bộ trưởng Điều này đã gây khó khăn cho Chủ tịch Hội đồng

Bộ trưởng trong việc chỉ đạo, điều hành đối với các thành viên khác Rút kinh nghiệm này, Hiến pháp hiện hành quy định Quốc hội chỉ bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với Thủ tướng Thủ tướng sẽ lập danh sách các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và Thủ trưởng ngang bộ đề nghị Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Bên cạnh đó, Điều 2 Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng năm

1981 quy định: “Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là đại biểu Quốc hội, các thành viên khác của Hội đồng Bộ trưởng chủ yếu chọn trong số các đại biểu Quốc hội” Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ngoài Thủ tướng ra, các thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội” Đến Hiến pháp hiện hành

chỉ quy định Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, còn các thành viên khác của Chính phủ, Hiến pháp không quy định Điều đó có nghĩa các thành viên khác của Chính phủ có thể là đại biểu Quốc hội hoặc có thể không là đại biểu Quốc hội Điều này đã tạo ra cơ sở xã hội rộng rãi cho Thủ tướng trong việc lựa chọn các thành viên của Chính phủ, từng bước tách bạch giữa hành pháp với lập pháp để đảm bảo sự giám sát khách quan của Quốc hội đối với Chính phủ nhưng vẫn đảm bảo tính chấp hành của Chính phủ trước Quốc hội

Quy trình thành lập các chức danh của Chính phủ:

Trang 8

3.2 Cơ quan cấu thành Chính phủ

Cơ quan cấu thành Chính phủ gồm:

- Các Bộ

- Các cơ quan ngang Bộ

Chính phủ được thành lập bao nhiêu bộ, bao nhiêu cơ quan ngang Bộ là sẽ được thực hiện theo các quy trình sau đây:

Bước 1: tập thể chính phủ sẽ cùng nhau thảo luận và xây dựng các đề án về việc

thành lập các Bộ cơ quan ngang bộ, cũng như tên gọi của các Bộ cơ quan ngang bộ

là gì

Bước 2: sau khi đã có đề án về việc thành lập các Bộ cơ quan ngang Bộ thì thủ

tướng chính phủ sẽ thay mặt tập thể chính phủ trình đề án này ra trước Quốc hội

Bước 3: Quốc hội Việt Nam sẽ ra một Nghị Quyết để Quyết ý định về số lượng các

Bộ, cơ quan ngang Bộ trong từng nhiệm kỳ

Như vậy điều đó có nghĩa rằng số lượng các bộ và cơ quan ngang Bộ là có cái sự thay đổi, nó không có ổn định Trong nhiệm kỳ này thì số lượng các Bộ cơ quan ngang Bộ là như thế nhưng nhiệm kỳ sau thì số lượng các Bộ cơ quan ngang Bộ có

Trang 9

thể khác đi, có sự sắp xếp để đáp ứng yêu cầu quản lý cho phù hợp với từng thời kỳ

Tuy nhiên mặc dù có sự khác nhau giữa số lượng các Bộ cơ quan ngang Bộ trong từng nhiệm kỳ nhưng mà một cái quy luật tất yếu hiện nay ở trong việc cải cách hành chính nhà nước ở trung ương là chúng ta đang tiến hành sáp nhập các bộ và

cơ quan ngang Bộ lại với nhau để làm sao tạo ra được những tiến bộ, những cơ quan ngang Bộ có khả năng quản lý đa ngành đa lĩnh vực, với cái mục đích thu gọn đầu mối quản lý, làm cho chính phủ trở nên gọn nhẹ hiệu quả đó là một trong những yêu cầu quan trọng của cải cách hành chính nhà nước ở trung ương

Điều đó có nghĩa là các bộ và cơ quan ngang Bộ nó có thể khác nhau theo từng

nhiệm kỳ nhưng mà cái nhiệm kỳ sau thì các Bộ cơ quan ngang bộ số lượng nó phải ngày càng ít đi so với những nhiệm kỳ trước Ví dụ: về số lượng các Bộ và

cơ quan ngang Bộ ở nước ta trước năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng bao gồm 37 cơ quan (28 Bộ, 8 Ủy ban nhà nước, 1 Ngân hàng nhà nước) Trong khi đó, Chính phủ nước ta giai đoạn năm 2002 đến năm 2006 bao gồm 26 cơ quan (20 Bộ, 6 cơ quan ngang Bộ) Từ 2006 đến nay, Chính phủ nước ta chỉ còn 22 cơ quan (18 Bộ và 4 cơ quan ngang Bộ)

Theo đó, theo quy định tại Nghị quyết 03/2011/ QH13 được Quốc hội thông qua

ngày 02/8/2011 thì Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm có 22 bộ và cơ quan ngang

bộ Trong đó, có 18 bộ và 04 cơ quan ngang bộ, cụ thể như sau:

18 Bộ:

1 Bộ Quốc phòng;

2 Bộ Công an;

3 Bộ Ngoại giao;

4 Bộ Tư pháp;

5 Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

6 Bộ Tài chính;

7 Bộ Công thương;

8 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

9 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

10 Bộ Giao thông vận tải;

11 Bộ Xây dựng;

12 Bộ Tài nguyên và Môi trường;

13 Bộ Thông tin và Truyền thông;

14 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

15 Bộ Khoa học và Công nghệ;

16 Bộ Giáo dục và Đào tạo;

17 Bộ Y tế.

Trang 10

18 Bộ Nội vụ;

04 cơ quan ngang bộ:

1 Ủy ban Dân tộc

Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật (đứng đầu là chủ nhiệm UBDT) Lãnh đạo Ủy ban dân tộc là Chủ nhiệm ủy ban dân tộc, cũng là một thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, làm thành viên của chính phủ

2 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước là Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam, một thủ trưởng

cơ quan ngang bộ, thành viên của chính phủ

Lưu ý: là trong cơ cấu của chính phủ các bộ và cơ quan ngang bộ của chính phủ

hiện nay là 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ thì có hai cái cơ quan có cái chức năng đều quản lý tiền, đó là ngân hàng nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính, 2 cơ quan này đều quản lý nhà nước có liên quan đến tài chính tiền tệ nhưng các bạn cần phải lưu ý tới sự khác biệt của hai cơ quan này trong đó là gì Nếu như ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý chủ yếu là sự lưu thông của đồng tiền trong xã hội, các vấn đề liên quan đến tỷ giá đồng tiền thì Bộ Tài chính lại là cơ quan quản

lý về thu tiền, thu thuế, giữ tiền và chi tiêu tiền cho các cơ quan nhà nước hoạt động Như vậy là cùng quản lý nhà nước về tiền nhưng ở những mảng khác nhau nên Việt Nam và hầu hết các mức nước trên thế giới thì người ta đều thành lập cả

bộ tài chính và cả các ngân hàng nhà nước

3 Thanh tra Chính phủ

Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật Lãnh đạo là Tổng thanh tra, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ

4 Văn phòng Chính phủ

Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, hiện nay lãnh đạo Văn phòng Chính phủ đó là Chủ nhiệm văn phòng chính phủ và Chủ nhiệm văn phòng chính phủ là thủ trưởng

cơ quan ngang Bộ là một thành viên của Chính Phủ

Ngày đăng: 16/01/2022, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w