1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC - ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT HIẾN PHÁP

11 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 286,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” 1.1.1.. - Nhà nư

Trang 1

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

1 CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

1.1 Nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

1.1.1 Cơ sở lý luận

- Trong nhà nước phong kiến: BMNN được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền chuyên chế (quyền lực nhà nước nằm trong tay vua)

- Trong nhà nước tư sản: BMNN được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”: là sự cứu cánh cho việc thiết lập một nhà nước dân chủ, pháp quyền tư sản, chống lại chế độ chuyên chế trong lịch sử của nhân loại Nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận sự thống nhất quyền lực nhà nước, sự cân bằng, kiềm chế, đối trọng và kiểm soát lẫn nhau giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

- Nhà nước XHCN: tiêu biểu là Việt Nam không tổ chức BMNN theo nguyên tắc tập quyền chuyên chế như nhà nước phong kiến, cũng không nhắc đến nguyên tắc

“tam quyền phân lập”, nhưng trong Hiến pháp Việt Nam đã tiếp thu những yếu tố hợp lý của thuyết phân quyền, khái quát lên thành nguyên tắc “Quyền lực nhà nước

là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Chính sự phân công quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương là sự vận dụng lý thuyết phân quyền theo chiều ngang trong tổ chức quyền lực nhà nước

1.1.2 Cơ sở hiến định

Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp đã khẳng định nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

1.1.3 Nội dung của nguyên tắc

Thứ nhất, quyền lực nhà nước là thống nhất:

Theo nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực nhà nước thống nhất là ở Nhân dân Quan niệm thống nhất quyền lực nhà nước là ở Nhân dân thể hiện ở nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân được Hiến pháp quan niệm Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, Nhân dân thông qua quyền lập hiến giao quyền lực

Trang 2

nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tư pháp như các Hiến pháp trước đây Có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mới đúng, mới bảo đảm thực hiện đầy đủ, không hình thức Như vậy, thống nhất quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tập trung thống nhất ở Nhân dân chứ không phải tập trung ở Quốc hội Quan niệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực

Thứ hai, có sự phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp:

Đối với quyền lập pháp là quyền đại diện cho Nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia Lần đầu tiên trong Hiến pháp nước ta chỉ rõ Quốc hội thực hiện quyền lập hiến (không còn là duy nhất có quyền lập hiến như Hiến pháp năm 1992), quyền lập pháp (Điều 69)

Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủ đảm trách Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (Điều 94)

Quyền tư pháp là quyền xét xử, được Nhân dân giao cho tòa án thực hiện Tòa án Nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102)

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hoạt động tư pháp (Điều 107)

Thứ ba, có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp:

- Phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp: để QH thực hiện được quyền lập pháp, đòi hỏi phải có sự phối hợp với CP trong việc xây dựng các dự án luật có chất lượng, kịp thời trình QH xem xét, thông qua (hơn 95% dự án luật do CP trình QH); khi luật đã được QH thông qua thì CP, các bộ, cơ quan ngang Bộ phải ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn và tổ chức thi hành luật, biến các quy định của luật thành hiện thực

- Phối hợp trong việc thực hiện quyền hành pháp: Theo quy định tại Điều 94 Hiến pháp năm 2013, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp Quy định này, cùng các quy định khác liên quan đến Chính phủ, đều nhằm xây dựng một Chính phủ hành pháp mạnh, một hệ thống hành chính nhà nước thông suốt, được phân công rành mạch, có đầy đủ quyền năng và công cụ hiến định để thực hiện quyền hành pháp Ở Việt Nam, đa phần các nhà nghiên cứu cho rằng quyền hành pháp không chỉ là thụ động chấp hành, thi hành các đạo luật mà phải chủ động, sáng tạo trong việc xây dựng và thực thi chính sách quốc gia Xuất phát từ quan điểm này, Hiến pháp năm 2013 đã không chỉ quy định Chính phủ có thẩm quyền, nhiệm vụ

Trang 3

“tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” (Điều 96) như trước đây, mà còn bổ sung nội dung “đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều này”, cùng với thẩm quyền “trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội” (Điều 96)

- Phối hợp trong việc thực hiện quyền tư pháp: quyền hành pháp tổ chức và quán xuyến một số chức năng hỗ trợ quá trình thực hiện quyền tư pháp của tòa án, gồm điều tra, thi hành án, hệ thống trại giam, nhà tù Cơ quan thực hiện quyền hành pháp xây dựng khung pháp lý và thúc đẩy sự hình thành và hoạt động của một số chức năng xã hội, nghề nghiệp tham gia hỗ trợ thực hiện quyền tư pháp, ví dụ luật

sư, giám định tư pháp, trợ giúp pháp lý Hơn nữa, cơ quan thực hiện quyền hành pháp quán xuyến một số lĩnh vực công việc mang bản chất hành chính sự vụ để hỗ trợ cho cơ quan tư pháp thực hiện quyền tư pháp một cách hiệu quả Ví dụ, đào tạo pháp luật, đảm bảo cơ sở vật chất cho các cơ quan tư pháp

Tóm lại, với vai trò là cơ quan giải quyết các vấn đề hiện tại, cơ quan thực hiện quyền hành pháp thực hiện quyền lập pháp thông qua việc trù liệu những ứng xử trong tương lai Cơ quan thực hiện quyền hành pháp thực hiện điều đó thông qua quá trình nhận thức từ hoạt động thực tiễn của mình Tuy nhiên, cơ quan thực hiện quyền tư pháp mới chính là cơ quan áp dụng pháp luật để xử lý các vụ việc thực tiễn Chính thực tiễn xét xử tại tòa án mới là nơi bộc lộc rõ nhất các lỗ hổng của pháp luật Bên cạnh việc giải thích pháp luật để lấp đi những lỗ hổng đó, cơ quan

tư pháp còn có thể tổng kết và chuyển giao những kinh nghiệm của mình để cơ quan hành pháp đề xuất hoàn thiện pháp luật để cơ quan lập pháp thông qua

Thứ tư, có sự kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp:

So với Hiến pháp năm 1992 thì Hiến pháp năm 2013 có một điểm mới rất quan trọng là bổ sung từ “kiểm soát” vào sau từ phân công, phối hợp Có thể thấy tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta có sự thay đổi mang tính tiệm tiến, từng bước phù hợp với điều kiện và tình hình mới và phù hợp với xu thế của nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, việc từng bước bổ sung như trên thể hiện chúng ta từng bước tiếp thu một cách hợp lý, có chọn lọc nguyên tắc phân chia quyền lực, thể hiện sự đổi mới quan trọng trong cơ chế tổ chức và vận hành của bộ máy nhà nước

1.2 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước

1.2.1 Cơ sở lý luận

Trang 4

- Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng

- Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết và chủ yếu là lãnh đạo tổ chức và hoạt động của BMNN, vì thông qua BMNN, bản chất của nhà nước, các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước được thực hiện trên thực tế

1.2.2 Cơ sở hiến định

Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội

1.2.3 Nội dung của nguyên tắc

Thứ nhất, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam:

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội

Thứ hai, Đảng lãnh đạo thông qua các nội dung cơ bản:

1) Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, chính sách

2) Đảng lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa cương lĩnh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, kế hoạch, chương trình hành động

để thực hiện trong toàn xã hội

3) Đảng lãnh đạo bằng công tác chính trị, tư tưởng

4) Đảng lãnh đạo thông qua công tác cán bộ và vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên

5) Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra

Thứ ba, phương pháp lãnh đạo của Đảng là phương pháp tuyên truyền, vận động, thuyết phục

Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống

Trang 5

phá của các thế lực thù địch Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch

Thứ tư, các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thứ năm, so với Điều 4 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì Điều 4 Hiến pháp năm 2013 có những sửa đổi, bổ sung sau:

1) Thể hiện đầy đủ hơn bản chất của Đảng: không chỉ là “đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam” mà còn “đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”

2) Thay thế cách biểu đạt “bị động”: “theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” thành cách biểu đạt “chủ động” hơn: “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” Sự thay đổi về mặt câu chữ này còn phản ánh sự chủ động trong nền tảng lý luận chính trị tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam

3) Bổ sung quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình” (khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013) Quy định này nhằm nâng cao vị trí của Nhân dân và xác định rõ trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuyệt đối trung thành và bảo vệ lợi ích cho người dân

4) Nếu như ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chỉ quy định: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” thì Hiến pháp

2013 đã bổ sung thêm, ngoài caccs tổ chức của Đảng thì “đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” Quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa: tất cả các chủ thể,

kể cả Đảng – lực lượng lãnh đạo Nhà nước đều phải thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

1.3 Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản

lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.

1.3.1 Cơ sở lý luận

Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc hoàn toàn mới về cách thức diễn đạt, được sử dụng để thay thế cho nguyên tắc “pháp chế xã hội chủ nghĩa” từng sử dụng trước đây trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 nhằm khẳng định mạnh mẽ mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, vì Nhân dân của nước ta hiện nay

Trang 6

1.3.2 Cơ sở hiến định

“Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” (Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013)

1.3.3 Nội dung, yêu cầu của nguyên tắc

Một là, Nhà nước đặt mình dưới luật:

Việc chấp nhận “Nhà nước đặt mình dưới luật” và quyền lực nhà nước cần bị kiểm soát như Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã nêu, sẽ kéo theo vị thế của công dân trong tương quan với Nhà nước được nâng lên Chiều Công dân -> Nhà nước bắt đầu được chú trọng Và điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến dân chủ trực tiếp Mặt khác, nguyên tắc này còn khẳng định việc hình thành Nhà nước không phải bằng con đường “truyền ngôi thế tập” như trong xã hội phi dân chủ mà việc kiến tạo nên nhà nước trong xã hội dân chủ hiện nay phải dựa trên quy định của Hiến pháp và pháp luật Từ việc quy định về cơ cấu tổ chức, cách thành lập các cơ quan, các chức danh trong bộ máy nhà nước không phải mang tính chất tự phát, cảm tính mà phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của Hiến pháp cũng như tuân thủ các văn bản pháp luật nói chung

Hai là, luật pháp và việc áp dụng luật pháp phải mang lại kết quả công bằng hợp lý:

Nhưng nhà nước pháp quyền đòi hỏi pháp luật phải công bằng, phải có tính chính đáng và đặc biệt việc áp dụng nó phải mang lại kết quả công bằng hợp lý cho người dân Nếu pháp luật không đảm bảo yêu cầu này thì luật không còn là luật, và người dân có quyền bất tuân Bởi luật pháp không có mục đích tự thân, mà luật pháp cũng như nhà nước trong nhà nước pháp quyền là để phục vụ dân chứ không phải cai trị, nô dịch nhân dân Nếu pháp luật và việc áp dụng pháp luật không mang lại công bằng, hợp lý thì nó không còn đáp ứng mục đích đặt ra ban đầu nữa

Ba là, Nhà nước phải có công cụ pháp luật để thực hiện được sứ mệnh cao cả mà Nhân dân giao phó:

Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước đó là xuất phát từ nhu cầu của xã hội; xã hội cần đến Nhà nước, xem Nhà nước như một chủ thể trung gian đứng ra để điều tiết và quản lý các mối quan hệ xã hội Tất cả các quan

hệ xã hội đều được Nhà nước dựa trên pháp luật để quản lý, xử lý theo đúng trình

tự thủ tục đã được quy định

1.4 Nguyên tắc tập trung dân chủ

1.4.1 Cơ sở lý luận

Trang 7

Có thể thấy bất kỳ xã hội và kiểu nhà nước nào thì việc quản lý xã hội và thực hiện quyền lực nhà nước đều phải có sự tập trung quyền lực Đây là yếu tố bắt buộc và mang tính tất yếu nhằm điều khiển được toàn bộ các hoạt động xã hội, thiết lập và duy trì một trật tự xã hội phù hợp với ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị

xã hội Trong xã hội phong kiến, quyền lực nhà nước tập trung trong tay giai cấp thống trị phong kiến mà đại diện là nhà vua; đặc biệt ở các nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế, chế độ cai trị thể hiện sự độc đoán, chuyên quyền, phản dân chủ (hoặc có dân chủ nhưng rất hạn chế) Đến chế độ tư bản chủ nghĩa, tập trung, quan liêu là đặc trưng điển hình của việc tổ chức bộ máy nhà nước tư sản Các cơ quan cai trị với những quan lại cai trị được bổ nhiệm từ trên xuống luôn kiêu căng

và xa rời thực tế; chỉ chịu trách nhiệm trước cấp trên mà không chịu trách nhiệm trước nhân dân và không chịu sự giám sát của nhân dân Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kịch liệt phê phán cơ chế tập trung quan liêu đó Còn tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN, xét về bản chất là nhà nước của dân, do dân và vì dân mà cơ sở nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức – những người chiếm tuyệt đại đa số dân cư trong xã hội nên tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN phải theo nguyên tắc tập trung nhưng mang tính dân chủ

1.4.2 Cơ sở hiến định

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013: Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

1.4.3 Nội dung, yêu cầu của nguyên tắc

Trên bình diện toàn bộ bộ máy nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở một số nội dung cơ bản như:

• Toàn bộ các cơ quan nhà nước phải có một trung tâm quyền lực chỉ đạo một cách mạnh mẽ và thống nhất, mỗi cơ quan nhà nước đều có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định Ở nước CHXHCNVN, quyền lực nhà nước là thống nhất, có

sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp;

• Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải do nhân dân bầu ra theo bốn nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và

bỏ phiếu kín trên cơ sở dân chủ Các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, nói lên tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân Nếu không còn được

sự tín nhiệm của nhân dân thì đại biểu dân cử có thể bị bãi nhiệm;

Trang 8

• Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, nhưng những vấn đề quan trọng nhất của đất nước trước khi quyết định phải lấy ý kiến của nhân dân hoặc phải do nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc trưng cầu ý kiến của nhân dân Ở địa phương,

những vấn đề quan trọng ở địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến hoặc trực tiếp quyết định;

• Trên cơ sở qui định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và căn cứ vào đặc điểm, tình hình, lợi ích hợp lý của địa phương (và cấp dưới), các cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) có quyền quyết định đối với địa phương (và cấp dưới) Các cơ quan nhà nước địa phương (và cấp dưới) có quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) hoặc những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa phương hoặc đơn vị mình, nhưng không được trái với các quy định của trung ương (và cấp trên);

• Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải phân định những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu Những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục tùng đa số nhưng thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến, đa số cũng cần xem xét, tham khảo ý kiến của thiểu số để kiểm tra tính đúng đắn trong quyết định của mình Những vấn đề cá nhân có quyền quyết định thì cá nhân phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình;

• Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra (và do cấp trên phê chuẩn) và phải thực hiện các quyết nghị của cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cùng cấp

1.5 Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc

1.5.1 Cơ sở lý luận

Việt Nam là một quốc gia thống nhất với 54 dân tộc cùng chung sống Với tỷ lệ dân số không đồng đều (trong tổng số hơn 90 triệu dân Việt Nam, đồng bào các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14.3% với hơn 12.3 triệu người, thuộc 53 dân tộc); cư trú phân tán và xen kẽ nhau… cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều đặc điểm riêng so với các dân tộc khác trên thế giới

Có thể thấy rằng, trải qua các giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc, phát triển toàn diện về kinh

tế - chính trị - xã hội nhằm bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào

Trang 9

DTTS trên mọi mặt của đời sống trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc gia và một số chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc Do đó, bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc là nguyên tắc quan trọng được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

1.5.2 Cơ sở hiến định

“Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5 Hiến pháp 2013)

1.5.3 Nội dung của nguyên tắc

Về mặt tổ chức: Đồng bào dân tộc với tư cách là người dân được tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông qua đại diện và cả trực tiếp theo những quy định cụ thể, rõ ràng, nhất là hành lang “Quy chế dân chủ ở cơ sở” Nhiều nội dung, điều khoản quy định trong các luật, nghị quyết, văn bản hướng dẫn chính sách và ngay cả Chương trình 135 đều quy định rất rõ yêu cầu tham gia của người dân vào trong hoạt động quản lý kinh tế - xã hội ở cơ sở trên nguyên tắc

“dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” Đây là kênh quan trọng để thúc đẩy quyền về chính trị và tham gia các hoạt động quản lý nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Về mặt hoạt động: Về kinh tế; Về giáo dục, y tế, văn hóa;…

1. KHÁI NIỆM BỘ MÁY NHÀ NƯỚC:

2.1 Định nghĩa bộ máy nhà nước:

Bộ máy nhà nước là hệ thống (1) các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức theo những nguyên tắc chung (2), thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của

nhà nước.

• Phân tích:

(1) Mối liên hệ về tổ chức: Các cơ quan nhà nước được sắp xếp, liên

kết với nhau trong một chỉnh thể, tồn tại trong một trật tự nhất định

(1) Mối liên hệ về hoạt động: Mỗi cơ quan nhà nước có chức năng

khác nhau nhưng trong sự vận hành có mối liên kết chặt chẽ, phối hợp với nhau, kiểm tra giám sát lẫn nhau

Trang 10

(2) Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được hiểu

là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo mà trong toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động, BMNN phải tuân thủ theo những nguyên tắc hay

tư tưởng chỉ đạo này

• Tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 2013:

2.2 Định nghĩa cơ quan nhà nước:

• Khái niệm:

• KN 1: CQNN là bộ phận cấu thành nên BMNN Đây là một tổ chức chính chính trị mang quyền lực nhà nước, được thành lập trên cơ sở pháp luật và và được giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong phạm vi luật định

• KN 2: CQNN là bộ phận cơ bản cấu thành BMNN Là tổ chức chính trị có tính độc lập tương đối về tổ chức, cơ cấu Bao gồm những cán

bộ, viên viên chức được giao những quyền hạn nhất định để thực hiện những nhiệm vụ, chức năng của NN

• KN 3: CQNN là yếu tố cấu thành của bMNN, bao gồm một tập thể hoặc một cá nhân, nhân danh nhà nước để thực hiện quyền lực nhà nước

• Đặc điểm:

• CQNN được thành lập và hoạt động theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

• CQNN có tính chặt chẽ và độc lập tương đối về cơ cấu tổ chức, về cơ

sở vật chất

Ngày đăng: 16/01/2022, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w