1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung trong pháp luật dân sự việt nam

99 269 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc bổ sung quy định về điều kiện giao dịch chung trong BLDS năm 2015 là một điểm mới tiến bộ của pháp luật dân sự Việt Nam trong việc ghi nhận sự tồn tại của điều kiện giao dịch chung

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM HẢI YẾN

ĐỀ TÀI HỢP ĐỒNG THEO MẪU VÀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số:

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hải An

Hà Nội - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Phạm Hải Yến

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

4 Mục tiêu nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu luận văn 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5

7 Bố cục của luận văn 6

Chương 1 KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG THEO MẪU VÀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG 7

1.1 Hợp đồng theo mẫu 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hợp đồng theo mẫu 7

1.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng theo mẫu 15

1.1.2.1 Định nghĩa về hợp đồng theo mẫu 15

1.1.2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng 16

1.1.2.3 Nội dung của hợp đồng theo mẫu 19

1.1.2.4 Hình thức của hợp đồng theo mẫu 20

1.1.2.5 Điều khoản vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu 23

1.1.2.6 Giải thích hợp đồng theo mẫu 31

1.1.1.7 Kiểm soát hợp đồng theo mẫu 33

1.2 Điều kiện giao dịch chung 35

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của điều kiện giao dịch chung 35

1.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện giao dịch chung 43

1.2.2.1 Định nghĩa điều kiện giao dịch chung 44

1.2.2.2 Điều kiện giao dịch chung có hiệu lực 45

Trang 4

1.2.2.3 Kiểm soát điều kiện giao dịch chung 50

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THEO MẪU

VÀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG 55

2.1 Điều khoản bị vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung 59

2.2 Áp dụng điều kiện giao dịch chung 66

2.3 Giải thích hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung 72

2.4 Kiểm soát hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch 73

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong guồng quay của sự phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật, các hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung đã ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của môt nền sản xuất cung ứng hàng hóa, dịch vụ mang tính hàng loạt và liên tục cho vô số các khách hàng với đặc điểm là hàm chứa các điều khoản soạn sẵn, không được thương lượng giữa hai bên và được áp dụng cho nhiều lần giao dịch Việc sử dụng các điều khoản soạn sẵn cho nhiều giao dịch khác nhau đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí và thời gian đàm phán, qua đó tăng hiệu quả kinh tế của việc giao kết hợp đồng Chính vì lý do thiết thực này, hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại, đặc biệt là trong kỷ nguyên số với sự phát triển của thương mại điện tử hiện nay Tuy nhiên, việc áp dụng hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung cũng đặt ra thách thức đối với lý thuyết truyền thống về sự tự do hợp đồng Khi các hợp đồng theo mẫu

và điều kiện giao dịch chung được sử dụng, các bên không thực sự có cơ hội thương lượng và thỏa thuận Việc thiếu khả năng thương lượng và thỏa thuận

có thể dẫn đến một bên không nhận thức được sự tồn tại hay nội dung của các điều khoản soạn sẵn do một bên đơn phương đưa ra Đồng thời việc các điều khoản soạn sẵn do một bên “áp đặt” cho bên còn lại có thể làm giảm khả năng của bên kia trong việc đạt tới một thỏa thuận công bằng Điều đó đã đặt ra yêu cầu pháp luật phải có những quy định để kiểm soát hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung

Trong pháp luật Việt Nam, hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung vừa được coi như là một chế định trong pháp luật dân sự theo quy định tại Điều 405 và Điều 406 BLDS năm 2015 vừa được coi là một chế định đặc thù trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Trước khi BLDS năm 2015 có hiệu lực, cả hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung được điều chỉnh

Trang 6

2

chủ yếu bởi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Dựa trên quy định mang tính khái quát về hợp đồng theo mẫu tại BLDS năm 2005, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được xây dựng với những quy định chi tiết hơn để điều chỉnh hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung Tuy nhiên, các quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ áp dụng đối với các giao dịch giữa thương nhân và người tiêu dùng, trong khi đó hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch kinh doanh khác Điều đó đặt ra yêu cầu BLDS với tư cách là bộ luật gốc về hợp đồng cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về điều kiện giao dịch chung đối với tất cả các hợp đồng có sử dụng điều kiện giao dịch chung trong giao kết, không phân biệt hợp đồng tiêu dùng hay không tiêu dùng Việc bổ sung quy định về điều kiện giao dịch chung trong BLDS năm

2015 là một điểm mới tiến bộ của pháp luật dân sự Việt Nam trong việc ghi nhận sự tồn tại của điều kiện giao dịch chung bên cạnh quy định về hợp đồng theo mẫu – đều là những nội dung hợp đồng soạn sẵn, mang tính “áp đăt” đối với một bên của hợp đồng Mặc dù BLDS và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã có những quy định để điều chỉnh vấn đề này nhưng thực tiễn áp dụng cho thấy việc thực thi pháp luật về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch

ở Việt Nam còn yếu, quyền lợi của bên không được soạn thảo hay người tiêu dùng vẫn chưa đảm bảo một cách tốt nhất Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau mà một trong những nguyên nhân là do sự hạn chế trong quy định của pháp luật về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung Do đó, việc tìm hiểu và nghiên cứu nội dung của hợp đồng theo mẫu

và điều kiện giao dịch chung trong pháp luật dân sự là điều cần thiết để đánh giá những quy định của pháp luật về vấn đề này nhằm tìm ra hướng hoàn thiện cho quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng theo mẫu và điều kiện chung Xuất phát từ lí do trên, người

viết quyết định lựa chọn đề tài: “Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch

chung trong pháp luật dân sự Việt Nam” Các vấn đề đưa ra trong luận văn

Trang 7

3

xuất phát từ việc nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện nay, có tìm hiểu, tham khảo các quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới, qua đó định hướng và đề xuất một số giải pháp cụ thể hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung nhằm tạo ra một cơ chế phù hợp hơn trong vấn đề này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, chế định hợp đồng đã được rất nhiều nhà khoa học triển khai nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, vấn đề hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung lại chưa được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học Nghiên cứu về vấn đề hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung đã có các công trình nghiên cứu:

 Luận án, luận văn: Luận văn thạc sỹ "Pháp luật về hợp đồng dân sự theo mẫu trên thế giới - những kinh nghiệm đối với Việt Nam" của Nguyễn Thị Ngọc Anh (2011) đã phân tích chế định hợp đồng theo mẫu trong pháp luật quốc tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh chế định hợp đồng theo mẫu; luận án "Pháp luật về điều kiện thương mại chung - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Nguyễn Thị Hằng Nga (2016) trình bày những vấn đề lý luận về điều kiện thương mại chung và quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện thương mại chung Ngoài ra, nghiên cứu về vấn đề hợp đồng nói chung còn có luận văn "Một số vấn đề về giao kết hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam" của Vũ Đức Lịch (2010); luận văn "Hình thức hợp đồng dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Nguyễn Thị Trang (2013); luận văn "Thực hiện hợp đồng dân

sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Thái Thị Hải Yến (2013)…

 Các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: "Chế định hợp đồng dân sự theo mẫu và một số đề xuất sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2005" của Nguyễn Hằng Nga (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 16/2015); Hợp đồng theo mẫu và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Nguyễn Văn Vân (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04/2000); Bình luận các quy định liên quan đến hợp đồng theo

Trang 8

4

mẫu và điều kiện giao dịch chung trong Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi của

Đỗ Giang Nam (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05/2015); Hợp đồng gia nhập - kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam của Trần Thị Thu Phương (Tạp chí Luật học, số 09/2015); Sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng gia nhập của Ngô Văn Hiệp (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 07/2016)…

Trên đây là những tài liệu, công trình nghiên cứu có giá trị lớn về mặt khoa học và thực tiễn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này chỉ mới

đề cập đến những vấn đề lý luận về hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng theo mẫu cũng như điều kiện giao dịch chung nói riêng mà chưa có công trình nghiên cứu nào về cả hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung trong pháp luật dân sự Việt Nam, đặc biệt là các quy định trong BLDS năm 2015 Việc nghiên cứu hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ bản chất của hai vấn đề này và những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung Trên cơ sở kế thừa các tài liệu, công trình nghiên cứu trên đây, luận văn sẽ đi sâu phân tích lý luận chung về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung, quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về vấn đề này Từ đó, đưa ra hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về những vấn đề này

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ các quy định về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung và vấn đề áp dụng quy định của pháp luật về vấn đề này trên thực tiễn

Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi luận văn, người viết tập trung vào các vấn đề sau:

 Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Trang 9

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu và làm rõ quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về hợp đồng theo mẫu

và điều kiện giao dịch chung Đồng thời, tìm hiểu thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung nhằm tìm ra những bất cập trong quy định của pháp luật thực định để từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này

5 Phương pháp nghiên cứu luận văn

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật cũng như sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử

Đối với hoạt động nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp sau: phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải nhằm làm rõ vấn đề mà luận văn đang nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở tìm hiểu những công trình nghiên cứu trước đó và qua quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ làm rõ được các vấn đề xung quanh hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung Cụ thể:

 Làm rõ một số vấn đề lý luận về hợp đồng theo mẫu như khái niệm của hợp đồng theo mẫu, phân tích các đặc điểm của hợp đồng theo mẫu

 Làm rõ một số vấn đề lý luận về điều kiện giao dịch chung như khái niệm điều kiện giao dịch chung, phân tích đặc điểm của điều kiện giao dịch chung

Trang 10

6

 Phân tích và làm rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng theo mẫu

và điều kiện giao dịch chung Từ đó, chỉ ra được những hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung

 Đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng theo mẫu

và điều kiện giao dịch chung

 Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 02 chương:

Chương 1: Khái quát những vấn đề chung về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung

Chương 2: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung

Trang 11

7

Chương 1 KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG THEO MẪU

VÀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG 1.1 Hợp đồng theo mẫu

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hợp đồng theo mẫu

1.1.1.1 Khái niệm

Hợp đồng được xác lập trên cơ sở thỏa thuận được xem là kết quả của

sự thống nhất ý chí tự nguyện của các bên , là nguồn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên Học thuyết tự do ý chí đã dẫn đến, thừa nhận một cách logic nguyên tắc tự do hợp đồng1 Từ nguyên tắc này làm ra đời hai

hệ quả trong giao kết hợp đồng là: 1) nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng (tự

do hợp đồng), và 2) hiệu lực bắt buộc của hợp đồng2 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng thể hiện ở hai nội dung cơ bản Một là, hợp đồng phải là kết quả của sự tự do thỏa thuận, tự nguyện của các bên, là sự thể hiện ý chí đích thực của các bên Hai là, các bên tự do xác định nội dung của hợp đồng, tự do thỏa thuận về các điều khoản hợp đồng Tuy nhiên, tự do hợp đồng không phải là

tự do tuyệt đối Theo Montesquieu, tự do ở đây không có nghĩa là có thể làm mọi điều mình muốn và cũng không có nghĩa là bị buộc phải làm những gì mà mình không muốn Tự do có nghĩa là quyền được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm Nếu một công dân có thể làm những gì mà luật cấm thì công dân đó sẽ không có tự do bởi vì những công dân khác cũng có thể sẽ làm như vậy3

Tự do ý chí và hệ quả pháp lý của nó là tự do hợp đồng chưa đủ để đảm bảo sự công bằng về mặt kinh tế- xã hội, chưa đủ để tạo sự cân bằng lợi ích và sự bình đẳng thực sự giữa các bên trong quan hệ hợp đồng Trên thực

tế, hợp đồng vẫn thường được sử dụng như một phương tiện để một người

1 Phạm Hoàng Giang (2006), “Sự phát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng

đến nguyên tắc công bằng”, Nhà nước và pháp luật, (10), tr.28

2

Phạm Hoàng Giang (2006), “Sự phát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng

đến nguyên tắc công bằng”, Nhà nước và pháp luật, (10), tr.28

3 Montesquieu: Tinh thần pháp luật, (người dịch: Hoàng Thanh Đạm), Nxb.Giáo dục, Hà Nội -1996, tr.99,

trích trong tài liệu: “Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb

Tư pháp, Hà Nội, tr.112”

Trang 12

8

buộc một người khác phải phụ thuộc vào mình Vì thế, pháp luật không hoàn toàn nhường chỗ cho tự do hợp đồng Pháp luật mặc dù không thể thay thế cho ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng nhưng cần hình thành những giới hạn trong khuôn khổ chung của trật tự xã hội nhằm thiết lập sự bình đẳng thực tế giữa các bên trong hợp đồng4 Sự can thiệp của pháp luật đối với quan

hệ hợp đồng đôi khi là cần thiết nhằm đảm bảo cho các bên được hưởng đầy

đủ quyền tự quyết của mình Như vậy, chỉ riêng ý chí của các bên chủ thể chưa đủ để hình thành hợp đồng một cách hợp pháp mà ý chí đó còn phải không trái với các quy định pháp luật Các bên được tự do thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự tự do ấy phải đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội Trong thực tiễn của pháp luật hợp đồng, trường hợp hợp đồng do một bên soạn thảo với những điều khoản lạm dụng rất phổ biến Do vậy, việc đề cao tuyệt đối quyền tự do giao kết hợp đồng trên thực tế không còn thể hiện sự “công bằng” mà có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng, bất công bằng về lợi ích giữa các bên khi một bên lạm dụng quyền tự do hợp đồng để vi phạm quyền tự do hợp đồng của bên kia Như vậy, cùng với

sự phát triển của xã hội và thực tiễn giao kết hợp đồng, các chuyên gia về pháp luật hợp đồng đều thừa nhận nguyên tắc này đã có sự thay đổi, phát triển theo hướng: hạn chế quyền tự do hợp đồng của cá nhân, đề cao lợi ích của tập thể nhằm bảo vệ sự công bằng trong quan hệ hợp đồng5

Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung ra đời trong sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp Mặc dù về khía cạnh kinh tế, không thể phủ nhận vai trò của nó trong việc đơn giản hóa quá trình ký kết và tiết kiệm thời gian, công sức cho cả hai bên khi tham gia quan hệ hợp đồng tuy nhiên

nó cũng đặt ra thách thức đối với quan niệm tự do hợp đồng truyền thống Việc các điều khoản hợp đồng do một bên soạn sẵn “áp đặt” cho bên còn lại,

4 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội,

tr.114

5 Phạm Hoàng Giang (2006), “Sự phát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng

đến nguyên tắc công bằng”, Nhà nước và pháp luật, (10), tr.29, trích trong tài liệu: “Dennis Mazeaud và

Herve Lecuyer, Kỷ yếu hội thảo về sự phát triển của pháp luật dân sự và thương mại, Nhà Pháp luật Pháp, Hà Nội tháng 9/1997”

Trang 13

Việt-9

việc thiếu đi khả năng thương lượng và đàm phán các điều khoản hợp đồng có thể dẫn đến tình trạng làm giảm khả năng của bên kia trong việc đạt tới một thỏa thuận công bằng Chính vì vậy, pháp luật dân sự các nước đưa ra giới hạn đối với tự do hợp đồng trong các trường hợp này nhằm khôi phục lại sự bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng

Trên thế giới, hợp đồng theo mẫu được tiếp cận dưới nhiều tên gọi khác nhau như hợp đồng mẫu tiêu chuẩn, hợp đồng gia nhập hay hợp đồng hàng loat Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt thì coi hợp đồng mẫu là một dạng của hợp đồng theo mẫu trong đó loại trừ mọi sự đàm phán6 Thuật ngữ hợp đồng gia nhập dùng để chỉ các quan hệ hợp đồng dựa trên phương thức giao kết “take it or leave it” (lựa chọn hay không lựa chọn) Theo định nghĩa của Viện thông tin pháp lý của trường đại học luật Cornell, Mỹ thì hợp đồng gia nhập được hiểu là loại hợp đồng được soạn thảo bởi một bên (thường là bên thương nhân có sức mạnh đàm phán) và kí kết với bên yếu thế hơn (thường là người tiêu dùng có nhu cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ của thương nhân); bên này phải gia nhập hợp đồng mà không được quyền đàm phán hoặc sửa đổi các điều khoản của hợp đồng7 Gọi hợp đồng gia nhập vì dựa trên phương thức giao kết “gia nhập” còn nếu xét theo tính ứng dụng số đông, nó được gọi là hợp đồng hàng loạt hay hợp đồng mẫu đại trà8

Pháp luật các quốc gia trên thế giới có các quy định khác nhau về định nghĩa hợp đồng theo mẫu Dưới tên gọi hợp đồng gia nhập, Điều 1379 của Bộ luật dân sự Quebec (Canada) đã đưa ra định nghĩa về hợp đồng gia nhập, theo

đó, một hợp đồng được coi là hợp đồng gia nhập khi các điều khoản thiết yếu của hợp đồng được áp đặt hoặc soạn thảo bởi một trong các bên nhằm bảo vệ cho lợi ích của bên đó hoặc theo chỉ dẫn của bên đó mà không thể thương

6

Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt (2009), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.192

7 Adhesion Contract (Contract of Adhesion), tại địa chỉ:

https://www.law.cornell.edu/wex/adhesion_contract_contract_of_adhesion ngày truy cập 01/06/2017

8 Nguyễn Thị Hằng Nga (2015), “Chế định hợp đồng dân sự theo mẫu và một số đề xuất sửa đổi BLDS năm

2005”, Nghiên cứu lập pháp, (16), tr.29

Trang 14

10

lượng9

Với định nghĩa này, hợp đồng gia nhập có 2 đặc điểm đó là: một là các điều khoản chủ yếu của hợp đồng do một bên đưa ra và soạn thảo; hai là các điều khoản chủ yếu này không thể được đàm phán hoặc thoả thuận một cách tự do giữa các bên Pháp luật Mỹ cũng sử dụng thuật ngữ “hợp đồng gia nhập” tuy nhiên tiêu chí xác định hợp đồng này lại không giống nhau ở các bang Theo Luật pháp California đã coi hợp đồng được tiêu chuẩn hoá, được xây dựng, soạn thảo bởi một bên có lợi thế đàm phán hơn và bên kia chỉ có thể chấp nhận hoặc từ chối giao kết hợp đồng là hợp đồng gia nhập10 Bản chất của hợp đồng gia nhập được thể hiện thông qua cách thức giao kết hợp đồng Một số bang khác của Mỹ lại xác định khi một hợp đồng được soạn thảo theo mẫu và bên được đề nghị không có khả năng để lựa chọn đồng ý hay không đồng ý một điều khoản nào đó của hợp đồng thì hợp đồng đó sẽ bị suy đoán là hợp đồng gia nhập Việc xác định hợp đồng gia nhập trong pháp luật dân sự Pháp lại được tiếp cận theo 2 cách: một là dựa trên việc các bên có được thỏa thuận về các điều khoản chính yếu trong hợp đồng hay không?; hai

là dựa trên việc các bên có được thỏa thuận về tất cả các điều khoản trong hợp đồng hay không?11

Hàn Quốc là một trong số ít các quốc gia ban hành luật riêng quy định về hợp đồng theo mẫu (nguyên tác là “Hợp đồng được tiêu

chuẩn hóa), theo đó, hợp đồng gia nhập “là các điều kiện và điều khoản chung

của hợp đồng, ngoại trừ tên, loại, phạm vi của hợp đồng, được chuẩn bị trước bởi một bên tham gia hợp đồng trong một hình thức nhất định với mục đích

để giao kết hợp đồng với một số lượng lớn đối tác”12

Dưới tên gọi hợp đồng hàng loạt, pháp luật Đài Loan đã định nghĩa:

“Hợp đồng hàng loạt là hợp đồng mà một phần hoặc toàn bộ Điều khoản cơ

9

Điều 1379 Bộ luật dân sự Quebec (Canada), tại đại chỉ:

http://ccq.lexum.com/w/ccq/en/#!fragment/sec1379/KGhhc2g6KGNodW5rxIVhbsSHb3JUZXh0OnNlYzEz NzkpLG5vdGVzUXVlcnk6Jycsc2Nyb2xsQ8SIxIo6IW7ErWVhcsSHxKXEp8SpxKvEusS8xIdTxJB0QsSpU kVMRVZBTkNFLHRhYjp0b2MpKQ ngày truy cập 01/06/2017

10

Trần Thị Thu Phương (2015),”Hợp đồng gia nhập – Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia và bài học

cho Việt Nam, Luật học, (9), tr.29

11 Trần Thị Thu Phương (2015),”Hợp đồng gia nhập – Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia và bài học

cho Việt Nam, Luật học, (9), tr.30

12

Article 2, Chapter 1: General provisions, Regulatiton of Adhension contract act

Trang 15

11

bản được soạn thảo bởi các doanh nghiệp kinh doanh”13 và “Điều khoản

hàng loạt của Hợp đồng là các Điều khoản được các doanh nghiệp kinh doanh đơn phương soạn thảo khi tham gia quan hệ hợp đồng với các bên không xác định với số lượng lớn Ngoài dạng văn bản, những Điều khoản cơ bản của hợp đồng còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, máy bay, thông điệp nơi công cộng, Internet và các phương tiện khác”14

Mặc dù được nhìn nhận dưới nhiều góc độ và tên gọi khác nhau nhưng

có thể thấy điểm chung của các hợp đồng này là các điều khoản hợp đồng do một bên soạn thảo; bên được đề nghị giao kết hợp đồng không có khả năng đàm phán, thương lượng về các điều khoản đó

Từ những điều trên có thể định nghĩa hợp đồng theo mẫu là những hợp đồng được giao kết giữa các bên mà trong đó các điều khoản của hợp đồng do một bên đưa ra và bên kia chỉ có thể đồng ý hoặc không đồng ý nội dung hợp đồng mà không có khả năng thương lượng, sửa đổi nội dung hợp đồng

1.1.1.2 Đặc điểm

Hợp đồng theo mẫu là một dạng đặc thù của hợp đồng dân sự nên khác với các hợp đồng thông thường khác, hợp đồng theo mẫu có những đặc trưng riêng biệt sau:

Thứ nhất, các điều khoản của hợp đồng do một bên đưa ra Với đặc điểm này, hợp đồng theo mẫu là ý chí đơn phương của một bên trong quan hệ hợp đồng với các điều khoản hợp đồng được soạn sẵn Điều này làm cho hợp đồng theo mẫu có sự khác biệt với hợp đồng truyền thống – là những hợp đồng được hình thành trên nền tảng của việc trao đổi và thảo luận ý chí giữa các bên Tuy nhiên, việc sử dụng mẫu hợp đồng được soạn thảo bởi một trong các bên không thể đưa đến suy đoán đó là hợp đồng theo mẫu khi các bên của hợp đồng hoàn toàn có thể tự do đàm phán để sửa đổi mẫu hợp đồng này hoặc một số điều khoản của hợp đồng Các hợp đồng gồm các điều khoản được soạn sẵn bởi một bên chỉ được xác định là hợp đồng theo mẫu khi một trong

13 Khoản 9, Điều 2, Luật bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan

14

Khoản 7, Điều 2, Luật bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan;

Trang 16

và các điều kiện khác liên quan đến dịch vụ do nhà cung cấp dịch vụ tự mình quy định ra Nói cách khác khách hàng muốn sử dụng dịch vụ thì buộc phải

“gia nhập” vào hợp đồng theo mẫu đã định Hợp đồng theo mẫu khác với điều

Trang 17

13

khoản mẫu trong hợp đồng Nếu toàn bộ nội dung của hợp đồng được bên đề nghị đưa ra và bên được đề nghị chỉ có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng thì đó là hợp đồng mẫu Bên được đề nghị chỉ đưa ra các thông tin về nhân thân ví dụ như hợp đồng mua bán điện, nước, dịch vụ viễn thông Còn điều khoản mẫu được hiểu là trong một hợp đồng có một số điều khoản mẫu do bên đề nghị đưa ra không thể thỏa thuận còn các bên vẫn có thể thỏa thuận một số điều khoản khác ví dụ như trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ đưa ra một số điều khoản mẫu còn một số nội dung khác vẫn thuộc quyền quyết định của bên mua bảo hiểm như số tiền bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, người thụ hưởng

Thứ ba, hợp đồng theo mẫu thường thường có độ chuẩn hóa và ổn định cao Điều này xuất phát từ việc các điều khoản trong hợp đồng do bên đề nghị đưa ra thường là các điều khoản đã được lựa chọn kỹ lưỡng, có sự tham khảo của các chuyên gia trong việc soạn thảo hợp đồng Đồng thời, trên thực tế, chủ thể ban hành hợp đồng mẫu thường là các doanh nghiệp có số lượng khách hàng lớn nên các hợp đồng theo mẫu phải chuẩn xác và chặt chẽ để bảo

vệ quyền lợi của chính doanh nghiệp Tính ổn định của hợp đồng theo mẫu được thể hiện ở chỗ nó hàm chứa các điều khoản ít có sự thay đổi qua các lần giao dịch với các đối tác

Một số loại hợp đồng theo mẫu phổ biến là hợp đồng mua bán điện, nước, hợp đồng sử dụng dịch vụ viễn thông, các hình thức hợp đồng được thể hiện dưới dạng vé, đơn hàng, phiếu nhận hàng

1.1.1.3 Ý nghĩa của hợp đồng theo mẫu

Hợp đồng theo mẫu được áp dụng phổ biến trong nền kinh tế phát triển Lợi ích không thể phủ nhận của hợp đồng theo mẫu là sự tăng các hiệu quả về mặt kinh tế, giảm thiểu chi phí giao dịch một cách đáng kể về mặt thời gian

và công sức để thương lượng chi tiết từng điều khoản nội dung của từng hợp đồng trong mỗi lẫn giao dịch Trên thực tế, việc thiết lập các hợp đồng theo mẫu được áp dụng đồng loạt cho mọi khách hàng nên việc sử dụng hợp đồng

Trang 18

14

theo mẫu sẽ giúp rút ngắn thời gian đàm phán, tiết kiệm chi phí giao dịch cho các bên trong quan hệ hợp đồng Hơn nữa, ngôn ngữ của hợp đồng theo mẫu thường có tính chuẩn xác, chặt chẽ và thường được các doanh nghiệp thuê luật sư soạn thảo nên có tính chuẩn hóa và ổn định cao Chính vì vậy, hợp đồng theo mẫu thường dự kiến được các khả năng xảy ra, thuận tiện cho việc giải quyết các tranh chấp

Tuy nhiên, việc sử dụng hợp đồng theo mẫu có thể dẫn đến việc xâm phạm quyền của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, điển hình là người tiêu dùng – đối tượng tham gia hợp đồng theo mẫu phổ biến nhất Việc thiếu đi yếu tố thương lượng sẽ dẫn đến việc thiếu thông tin khi mà một bên không nhận thức được sự tồn tại của các điều khoản hợp đồng có sẵn được soạn trước bởi một bên, nhất là khi hợp đồng theo mẫu có những điều khoản hạn chế, loại bỏ quyền của bên được đề nghị giao kết hợp đồng Bên cạnh đó, ngôn ngữ của các hợp đồng theo mẫu thường là các ngôn ngữ pháp lý nên thường gây khó khăn cho việc hiểu trọn vẹn ngữ nghĩa Nhiều hợp đồng theo mẫu được soạn thảo dưới ngôn ngữ phức tạp và được in dưới dạng khó đọc cho chủ ý nên việc tiếp cận toàn bộ các điều khoản, nội dung của hợp đồng là rất khó khăn, đặc biệt khi bên được đề nghị giao kết ở thế chấp nhận hoặc không chấp nhận, không có sự lựa chọn khác hoặc có rất ít sự lựa chọn nên cũng ít ý thức về việc đọc hợp đồng Chính vì vậy, bên cạnh pháp luật hợp đồng nói chung, đòi hỏi phải có can thiệp đặc thù đến các quan hệ hợp đồng này nhằm đảm bảo sự tự do ý chí và sự công bằng thỏa đáng giữa các bên, nhất là việc kiểm soát các điều khoản hợp đồng soạn sẵn bất công bằng của người soạn thảo hợp đồng – bên luôn có xu hướng chỉ bảo vệ lợi ích của bên được quyền soạn thảo

Pháp luật dân sự Việt Nam cũng đã dành sự quan tâm cho vấn đề hợp đồng theo mẫu với quy định từ BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và hiện nay là Điều 405 của BLDS năm 2015 Bên cạnh quy định của BLDS về hợp đồng theo mẫu thì Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng có

Trang 19

15

những quy định riêng điều chỉnh vấn đề này Thậm chí trong một số lĩnh vực

cụ thể (như lĩnh vực viễn thông, điện lực ) pháp luật còn quy định về việc bắt buộc phải áp dụng hợp đồng theo mẫu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

1.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng theo mẫu

Thực tế, ngay từ BLDS năm 1995 đã xuất hiện quy định về hợp đồng theo mẫu tại Điều 406 Tuy nhiên, quy định này chỉ đưa ra một quy phạm định nghĩa về hợp đồng theo mẫu kèm theo đó là nguyên tắc mang tính truyền thống yêu cầu bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó BLDS năm 2005 đã tiến thêm một bước bằng quy phạm mang tính chất mặc định cho phép vô hiệu hóa các điều khoản miễn trừ trách nhiệm được sử dụng trong hợp đồng mẫu Quy định tại Điều 405 BLDS năm 2015 là

sự kế thừa quy định tại BLDS năm 2005 đồng thời có sự bổ sung quy định:

“Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải

biết về những nội dung của hợp đồng”

1.1.2.1 Định nghĩa về hợp đồng theo mẫu

Khoản 1 Điều 405 BLDS năm 2015 đã đưa ra định nghĩa về hợp đồng

theo mẫu, theo đó: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản

do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghĩ đã đưa ra” Với quy định này, có thể thấy

các nhà làm luật Việt Nam cũng đang tiếp cận hợp đồng theo mẫu với những đặc điểm giống như hợp đồng gia nhập trong pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới Căn cứ vào quy định trên, hợp đồng theo mẫu trong BLDS được xác định dựa trên các đặc điểm: 1) gồm những điều khoản do một bên đưa ra; 2) bên được đề nghị giao kết hợp chỉ có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng mà bên đề nghị đưa ra

Có thể thấy, việc xác định hợp đồng theo mẫu của BLDS căn cứ vào cách thức giao kết hợp đồng giữa các bên chủ thể Nếu hợp đồng do một bên

Trang 20

16

soạn thảo và bên kia chỉ có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị theo mẫu

có sẵn mà bên đề nghị đưa ra thì sẽ được coi là hợp đồng theo mẫu Tuy nhiên, cách quy định này vẻ chưa thực sự làm rõ được bản chất của loại hợp đồng này, chưa làm rõ sự khác biệt giữa hợp đồng này với các hợp đồng tùy ý khác Căn cứ vào quy định của BLDS về giao kết hợp đồng, việc giao kết hợp đồng thông thường cũng được thực hiện trên cơ sở do một bên soạn thảo (đề nghị giao kết) và bên kia nếu đồng ý thì có thể chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết Nếu căn cứ vào Điều 405 BLDS năm 2015 sẽ rất khó để xác định một hợp đồng là hợp đồng theo mẫu theo đúng mong muốn kiểm soát của nhà làm luật Việc sử dụng mẫu hợp đồng được soạn thảo bởi một bên không thể đưa đến khẳng định đó là hợp đồng theo mẫu khi các bên của hợp đồng hoàn toàn có thể tự do thỏa thuận, đàm phán để sửa đổi mẫu hợp đồng này hoặc một số điều khoản của hợp đồng Đặc trưng của hợp đồng theo mẫu là một bên trong quan hệ hợp đồng không có khả năng để đàm phán nội dung hợp đồng hoặc một số điều khoản chính yếu của hợp đồng mà sẽ phải chấp nhận hợp đồng hoặc từ chối hợp đồng Nếu hợp đồng được xác lập trên

cơ sở sự đàm phán của các bên về nội dung hợp đồng thì không thể coi đó là hợp đồng theo mẫu

1.1.2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng

Điều kiện chung của chủ thể tham gia giao dịch dân sự là:"Người tham

gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện"

(điểm a, b khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015) Trước hết người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự, đây là một trong những điều kiện bắt buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực (điểm a, khoản 1, Điều 117 BLDS năm 2015) Do đó, đối với chủ thể tham gia hợp đồng theo mẫu phải là người

có năng lực hành vi dân sự Đối với cá nhân, khi tham gia giao kết hợp đồng theo mẫu thì tư cách chủ thể của họ phải được xác định thông qua năng lực

hành vi dân sự “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá

nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Như

Trang 21

17

vậy cá nhân chỉ được coi là có năng đầy đủ năng lực hành vi dân sự khi người

đó có khả năng nhận thức được đầy đủ về hành vi của mình, công việc và hậu quả pháp lý của việc mình làm và có đủ khả năng điều khiển các hành vi của mình15 Người thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên, không có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, không bị mất hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, những người này được toàn quyền xác lập mọi giao dịch dân sự Những người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh lý khác dẫn đến tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình là người có năng lực hành vi dân sự nhưng chưa đầy đủ Đối với những người này thì trường hợp

từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải

có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi; trường hợp từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký hoặc các giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Những người dưới 6 tuổi được xác định là những người không có năng lực hành vi dân sự và những người mất năng lực hành vi dân sự (do bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình) thì các giao dịch dân sự của những người này phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Ngoài ra, những người bị Tòa án tuyên bố là người có khăn trong nhận thức và làm chủ hành

vi và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người đó phải có sự đồng ý của người giám hộ (các Điều

23, 24 BLDS năm 2015) Đối với pháp nhân, khi tham gia giao kết hợp đồng dân sự theo mẫu thì phải thỏa mãn điều kiện về chủ thể là pháp nhân: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức theo quy định của pháp luật; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của

15 Nguyễn Hải An (2012), Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam, ,Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, tr 138

Trang 22

18

mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập (Điều 74 BLDS năm 2015) Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (Điều 101 BLDS năm 2015)

Bên cạnh điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người tham gia quan hệ hợp đồng thì chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng theo mẫu phải hoàn toàn tự nguyện (điểm b, khoản 1, Điều 117 BLDS năm 2015) Đây là một trong bốn điều kiện để hợp đồng theo mẫu có hiệu lực, thể hiện ý chí của các bên không bị ràng buộc hoặc chịu tác động của bất kì yếu tố khách quan nào Yếu tố tự nguyện thể hiện ở sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các bên trong việc giao kết hợp đồng; pháp luật đã quy định một số trường hợp người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyện như bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa thì hợp đồng bị coi là vô hiệu16

Pháp luật đã quy định một số trường hợp người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyên như bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa thì hợp đồng bị coi là vô hiệu

Khi xem xét về chủ thể giao kết hợp đồng theo mẫu ta thấy có đặc điểm là bên đề nghị giao kết hợp đồng là bên chủ động đưa ra các điều khoản, có thời gian để nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung hợp đồng và cũng thường là bên có tính chuyên nghiệp và ở thế mạnh hơn trong quan hệ hợp đồng Bên được đề nghị thường nằm ở thế yếu hơn Việc yếu thế của bên được đề nghị xuất phát từ việc thiếu đi yếu tố thương lượng trong quá trình giao kết hợp đồng dẫn đến việc bên được đề nghị thiếu thông tin khi tiếp cận với các điều khoản của hợp đồng có sẵn được soạn trước bởi một bên

Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 405 BLDS năm 2015 thì bên đưa ra

hợp đồng phải để “cho bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý” Tuy

nhiên, việc xác định thời gian như thế nào là hợp lý lại không được pháp

16 Nguyễn Hải An (2012), Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam, ,Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, tr 141

Trang 23

1.1.2.3 Nội dung của hợp đồng theo mẫu

Nội dung của hợp đồng được hiểu là tổng thể các điều khoản của hợp đồng do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định17 Đối với hợp đồng theo mẫu thì nội dung của hợp đồng được xác định là tổng thể các điều khoản của hợp đồng do bên đề nghị đưa ra cho bên được đề nghị Đó có thể là những nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 398 BLDS năm 2015, bao gồm: đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng cũng như ý định soạn thảo của bên đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu mà nội dung của hợp đồng theo mẫu sẽ có thể bao gồm các nội dung trên hoặc các nội dung khác phù hợp với quy định của pháp luật Đối với những hợp đồng theo mẫu đặc thù trong từng lĩnh vực, pháp luật sẽ quy định những điều khoản bắt buộc trong hợp đồng ví dụ như đối với hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông thì theo Thông tư

số 39/2016/TT-BTTT của Bộ Thông tin và truyền thông ban hành ngày 26/12/2016 quy định về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung trong lĩnh vực viễn thông thì nội dung tối thiểu trong hợp đồng cung cấp và

sử dụng dịch vụ viễn thông bao gồm: thông tin về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (tên doanh nghiệp; số giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông; số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; số hợp đồng; mã số

17 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.600

Trang 24

20

thuế; tài khoản; địa chỉ, số điện thoại liên hệ, website), thông tin về người sử dụng dịch vụ viễn thông (họ và tên cá nhân hoặc tên tổ chức; ngày tháng năm sinh của cá nhân hoặc người đại diện tổ chức/doanh nghiệp; địa chỉ, số điện thoại liên hệ; số, ngày cấp, nơi cấp CMND; số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp), thông tin mô tả dịch vụ viễn thông sẽ cung cấp (loại hình dịch vụ, phương thức cung cấp; giá cước; hình thức, phương thức thanh toán giá cước; chất lượng dịch vụ; thời điểm và thời hạn cung cấp dịch vụ; địa chỉ cung cấp dịch vụ; thông tin về hỗ trợ, chăm sóc người sử dụng dịch vụ; các trường hợp tạm ngừng/ngừng cung cấp dịch vụ và hủy cung cấp dịch vụ; các dịch vụ giá trị gia tăng đi kèm), quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng Đối với một số hợp đồng như hợp đồng mua bán điện phục vụ sinh hoạt, hợp đồng dịch vụ cung cấp nước thì các nội dung trong các hợp đồng cũng được quy định sẵn trong các mẫu hợp đồng bắt buộc của Nhà nước như mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ban hành ngày 18/06/2014 của

Bộ Công thương, mẫu hợp đồng dịch vụ cung cấp nước ban hành kèm theo

Thông tư số 01/08/TT-BXD của Bộ Xây dựng

1.1.2.4 Hình thức của hợp đồng theo mẫu

Hình thức của hợp đồng là phương tiện thể hiện và ghi nhận ý chí của các chủ thể thiết lập hợp đồng Trong các hợp đồng, hình thức là phương tiện phản ánh và ghi nhận sự thỏa thuận, cam kết của các bên chủ thể Ý chí của chủ thể trong hợp đồng thuộc phạm trù nội dung mà nọi dung bao giờ cũng phải thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Vì vậy, muốn thiết lập một hợp đồng, các chủ thể nhất thiết phải sử dụng một trong các hình thức bằng lời nói, bằng hành vi hoặc bằng văn bản Hình thức của hợp đồng được BLDS năm 2015 quy định tại Điều 119

về “Hình thức giao dịch dân sự” như sau:

“1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc

bằng hành vi cụ thể

Trang 25

21

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản

2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”

Như vây, pháp luật dân sự cho phép các chủ thể được quyền thiết lập hợp đồng theo nhiều hình thức khác nhau Đối với các hợp đồng mà pháp luật

đã quy định phải được giao kết bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì khi thiết lập hợp đồng các bên phải tuân thủ theo hình thức đó Đối với hợp đồng dân sự theo mẫu thì căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều

405 có thể hiểu là hợp đồng theo mẫu được thể hiện dưới dạng văn bản Bởi hợp đồng theo mẫu theo quy định của BLDS là hợp đồng gồm những điều khoản soạn sẵn do bên đề nghị đưa ra cho bên kia trả lời trong một thời gian

hợp lí và nội dung của hợp đồng theo mẫu phải được công bố công khai

Liên quan đến hình thức của hình thức của hợp đồng theo mẫu thì theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì hợp đồng theo mẫu phải được lập thành văn bản và phải đáp ứng đủ các điều kiện về hình thức là ngôn ngữ sử dụng bằng tiếng Việt, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là 12; nền giấy và màu mực thể hiện nội dung hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải tương phản nhau (Điều 7 của Nghị định số 99/2011/NĐ-

CP của Chính phủ ban hành ngày 27/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) Ngoài ra, như đã nói ở trên, trong một số lĩnh vực chuyên ngành, Nhà nước đã ban hành các mẫu bắt buộc của các hợp đồng chẳng hạn như mẫu hợp đồng mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ban hành ngày 18/06/2014 của Bộ Công thương, mẫu hợp đồng dịch vụ cung cấp nước ban hành kèm theo Thông tư số 01/08/TT-BXD của Bộ Xây dựng

Trong các trường hợp do pháp luật quy định thì hợp đồng theo mẫu phải thực hiện việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi

Trang 26

22

được áp dụng Theo quy định tại Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/08/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg có 11 loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải thực hiện việc đăng ký hợp đồng theo mẫu bao gồm: Cung cấp điện nước sinh hoạt; cung cấp thông tin di động mặt đất; dịch vụ truy nhập Internet; vận chuyển hành khách đường hàng không; vận chuyển hành khách đường sắt; mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý chung cư cung cấp; phát hành thẻ ghi nợ nội đia, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng); bảo hiểm nhân thọ Trình tự đăng đý được thực hiện theo quy định tại Nghị định 99/2011/NĐ-CP Theo đó, Bộ công thương và Sở công thương là hai cơ quan

có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký hợp đồng theo mẫu Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký tiến hành xem xét hồ sơ đăng ký kể từ thời điểm nhận được hồ sơ hợp lệ Trong quá trình xem xét hồ sơ đăng ký, cơ quan có thẩm quyền đăng ký có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh giải trình các vấn đề liên quan đến nội dung hợp đồng theo mẫu đồng thời có quyền tham vấn ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Chậm nhất hai mươi (20) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm ra thông báo về việc chấp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu và gửi cho tổ chức, cá nhân kinh doanh Trong trường hợp không chấp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải gửi văn bản trả lời cho tổ chức, cá nhân kinh doanh trong đó nói

rõ lý do không chấp nhận Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, hợp đồng theo mẫu được công bố công khai và lưu trữ trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký Bên cạnh đó, Nghị định 99/2011/NĐ-

CP cũng quy định về việc đăng ký lại hợp đồng theo mẫu trong trường hợp:

“a) Khi pháp luật thay đổi làm thay đổi nội dung của hợp đồng theo mẫu,

điều kiện giao dịch chung; b) Tổ chức, cá nhân kinh doanh thay đổi nội dung

Trang 27

23

hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung” (Điều 15 của Nghị định

99/2011/NĐ-CP)

1.1.2.5 Điều khoản vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu

Hợp đồng vô hiệu là những hợp đồng không tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Vì hợp đồng là một loại giao dịch dân sự nên các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu cũng được áp dụng

để giải quyết đối với hợp đồng vô hiệu Điều này được thể hiện tại khoản 1

Điều 407 BLDS năm 2015, theo đó: “Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ

Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng

vô hiệu”

Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự nên điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Theo quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015 thì giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các

điều kiện sau đây: “a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi

dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” và “Hình thức của giao dịch dân

sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định” Hợp đồng sẽ bị tuyên vô hiệu khi không tuân thủ đầy đủ các

điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Từ điều 123 đến Điều 129 BLDS năm 2015 đã đưa ra các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu đó là giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123); giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124); giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành

vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125);

Trang 28

do có đối tượng không thể thực hiện được

Theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng theo mẫu vẫn có giá trị pháp lý như các hợp đồng khác Nếu môt hợp đồng theo mẫu được ký kết, hợp đồng

đó luôn có giá trị ràng buộc các bên Đối với hợp đồng theo mẫu thì các trường hợp hợp đồng vô hiệu cũng được áp dụng đối với hợp đồng theo mẫu Đồng thời, cũng giống như pháp luật các quốc gia khác trên thế giới, các nhà làm luật muốn bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng bằng cách quy định một số điều khoản của loại hợp đồng này sẽ chịu sự điều chỉnh

đặc biệt Cụ thể, tại khoản 3 Điều 405 BLDS năm 2015 đã quy định: “Trường

hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

Như vậy, đối với các điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này sẽ không có hiệu lực Tuy nhiên, trường hợp có thỏa thuận khác thì các điều khoản này trong hợp đồng theo mẫu vẫn có hiệu lực Có thể thấy, BLDS đã tạo ra một công cụ pháp lý nhằm bảo vệ lợi ích của bên không được soạn thảo hợp đồng khi tham gia giao kết hợp đồng theo mẫu Tuy nhiên, quy định nêu trên có một số bất cập:

Thứ nhất, đó là mâu thuẫn trong việc xác định những điều khoản cấm đưa vào hợp đồng theo mẫu Nghiên cứu quy định tại khoản 2 Điều 405 BLDS năm 2015 cho thấy, một mặt với việc không cấm đưa vào hợp đồng điều khoản hạn chế trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, BLDS thể hiện xu hướng bó hẹp các công cụ pháp lý bảo vệ lợi ích của bên yếu thế,

Trang 29

25

nhưng mặt khác với việc thừa nhận điều khoản “tăng trách nhiệm” là yếu tố

có thể đưa đến sự vô hiệu của điều khoản hợp đồng, BLDS lại thể hiện xu hướng mở rộng các phương tiện bảo vệ lợi ích của bên yếu thế khi tham gia hợp đồng theo mẫu18 Điểm mâu thuẫn này dễ tạo cơ chế mà nhờ đó doanh nghiệp có thể soạn thảo những điều khoản hạn chế trách nhiệm của mình mà vẫn phù hợp với quy định của pháp luật Thực tế cũng cho thấy, trong các hợp đồng theo mẫu do các doanh nghiệp kinh doanh vận tải, bảo hiểm ban hành, hiếm khi nào có thể thấy điều khoản miễn trách nhiệm hoàn toàn cho doanh nghiệp hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của khách hàng một cách lộ liễu Ngoài ra, quy định tại khoản 2 Điều 405 về những điều khoản bị cấm đưa vào hợp đồng theo mẫu có một vấn đề nữa cũng cần nghiên cứu làm rõ đó là việc

“tăng trách nhiệm” cho bên kia đến mức độ nào thì có thể tuyên bố vô hiệu Theo quan điểm lập pháp các nước, không phải bất cứ sự tăng trách nhiệm nào cho bên kia cũng được coi là yếu tố dẫn đến điều khoản bị tuyên bố không có hiệu lực; việc bảo vệ lợi ích của bên không soạn thảo hợp đồng chỉ khi việc “tăng trách nhiệm” đến mức độ “quá nặng nề”19 So với cách tiếp cận của BLDS thì cách tiếp cận của các nước hợp lý và cụ thể hơn, khắc phục được tình trạng tùy tiện trong thực tiễn

Thứ hai, đó là bất cập trong quy định về hiệu lực của các điều khoản mẫu trong hợp đồng theo mẫu Để bảo vệ lợi ích của bên không được soạn thảo hợp đồng trong hợp đồng theo mẫu, pháp luật hạn chế sự ép buộc đơn phương điều kiện hợp đồng của bên đưa ra hợp đồng bằng cách cấm đưa vào hợp đồng một số điều khoản nhất định Về nguyên tắc, những điều khoản bị cấm này sẽ không có hiệu lực cho dù hợp đồng theo mẫu đã được ký kết Trái lại, theo quy định tại khoản 2 Điều 405 thì các bên có thể thỏa thuận điều khoản cấm đó có hiệu lực Điều này có thể hiểu rằng, ở Việt Nam, khi hợp đồng theo mẫu đã được bên chấp nhận hợp đồng đặt bút ký thì các điều khoản

18 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội,

tr.129

19 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội,

tr.130

Trang 30

26

miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia sẽ đương nhiên có giá trị pháp lý, được pháp luật công nhận Bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu sẽ không có quyền yêu cầu tuyên bố những điều khoản đó vô hiệu nữa, dù rằng chúng đã xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích chính đáng của họ Rõ ràng cách quy định như vậy của BLDS đã tự mâu thuẫn với chính nguyên tắc của BLDS nước ta về bảo vệ lợi ích của bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu, bảo đảm công bằng và bình đẳng trong quan hệ hợp đồng

Hiện nay BLDS không có quy định về điều khoản miễn trách nhiệm Theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận (khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015), các bên có quyền tự do, tự nguyện giao kết hợp đồng, miễn là nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 117 BLDS năm 2015) Đối với hợp đồng theo mẫu hay hợp đồng có sử dụng điều kiện giao dịch chung, việc tự do thỏa thuận các điều khoản và điều kiện hợp đồng không diễn ra trên thực tế Trong các hợp đồng này, một bên quy định các điều khoản và điều kiện hợp đồng; bên còn lại không được đàm phán, thương lượng mà chỉ có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận với nội dung hợp đồng đó Nếu ta giả thiết rằng các bên có quyền tự do thỏa thuận các điều khoản hợp đồng thì họ sẽ thỏa thuận theo hướng có lợi nhất cho họ Vậy thì, một điều khoản miễn trách nhiệm được quy định rõ ràng và không trái với quy định của pháp luật thì không có

lý do gì không cho phép những điều khoản đó có hiệu lực Bởi mặc dù điều khoản miễn trách nhiệm là những điều khoản “bất thường” nhưng chúng cũng

có những lợi ích nhất định Các điều khoản này phân định rõ ràng nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng, phân định rủi ro mà mỗi bên phải gánh chịu, cũng như khuyến khích những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư

có rủi ro cao20 Ví dụ trong hợp đồng gửi giữ đồ vật của một khách sạn có ghi:

20 Lê Nết (2005), “Góp ý dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) về điều khoản miễn trừ trách nhiệm và hạn chế quyền lợi trong hợp đồng”, tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/10/135/, ngày truy cập 03/07/2017

Trang 31

27

“Khách sạn không chịu trách nhiệm về mọi mất mát xảy ra trừ trường hợp

khách hàng kê khai giá trị tài sản gửi giữ” Việc đưa ra một quy định như vậy

là hợp lý Bởi nếu như khách sạn không biết trong túi của khách hàng có gì thì không thể chịu trách nhiệm về mất mát xảy ra Việc quy định như vậy, sẽ giúp các bên biết được rủi ro của mình tới đâu khi tham gia hợp đồng Nếu khách hàng muốn đảm bảo cho khoản tiền hay vật có giá trị mà họ gửi tại khách sạn thì họ phải kê khai tài sản gửi giữ với người gửi giữ và khách sạn đó sẽ phải

có biện pháp thích hợp để quản lý tài sản đó Như vậy, cách giải quyết của Điều 405, theo đó, mọi điều khoản miễn trách nhiệm trong hợp đồng được soạn sẵn đều vô hiệu là không tính đến tình hình thực tế và sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích của các quy định pháp luật21 Khi hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung được sử dụng, các bên không thực sự có cơ hội thương lượng và thỏa thuận Việc thiếu đi khả năng thương lượng và thỏa thuận có thể dẫn đến việc một bên không nhận thức được sự tồn tại hay nội dung của các điều khoản mẫu do một bên đơn phương đưa ra Hơn nữa, việc

“áp đặt” cho bên còn lại có thể làm giảm khả năng của bên kia trong việc đạt tới một thỏa thuận công bằng Do đó, điểm mấu chốt trong việc kiểm soát nội dung của hợp đồng theo mẫu hay điều kiện giao dịch chung không phải sự tồn tại của các điều khoản miễn trách nhiệm mà sự bất công bằng về quyền và nghĩa vụ mà các điều khoản đó mang lại khi bên soạn thảo các điều khoản soạn sẵn áp đặt ý chí của mình lên bên không được soạn thảo hợp đồng

Pháp luật các quốc gia trên thế giới cũng nhìn nhận điều khoản hơp đồng theo mẫu vô hiệu khi xem xét điều khoản đó công bằng và hợp lý hay không BLDS Quebec nêu rõ các điều khoản lạm dụng (điều khoản bị coi là lạm dụng nếu gây bất lợi một cách quá đáng và bất hợp lý cho người tiêu dùng hoặc bên gia nhập) trong hợp đồng tiêu dùng hoặc hợp đồng gia nhập sẽ

21 Lê Nết (2005), “Góp ý dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) về điều khoản miễn trừ trách nhiệm và hạn chế quyền lợi trong hợp đồng”, tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/10/135/, ngày truy cập 03/07/2017

Trang 32

28

vô hiệu (Điều 1437)22; đối với điều khoản bên ngoài (là điều khoản mà hợp đồng viện dẫn đến) trong hợp đồng gia nhập nếu tại thời điểm giao kết, người tiêu dùng hoặc bên gia nhập không được biết về điều khoản đó, trừ khi bên kia chứng minh được điều ngược lại thì điều khoản này sẽ không có hiệu lực (Điều 1435)23; đối với các điều khoản không thể đọc được hoặc không thể hiểu được trong hợp đồng gia nhập sẽ vô hiệu nếu bên gia nhập chịu thiệt hại

từ điều khoản đó, trừ khi bên kia chứng minh được rằng đã có giải thích phù hợp với bản chất và nội dung của điều khoản cho đối tác (Điều 1436)24

BLDS Pháp cũng quy định hiệu lực của một số điều khoản đặc biệt hoặc liên quan đến điều khoản lạm dụng trong một số lĩnh vực khi điều chỉnh hợp đồng gia nhập Hiệu lực của một số điều khoản trong hợp đồng gia nhập có thể bị xem xét nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa các bên chủ thể về quyền và nghĩa

vụ cũng như bảo vệ tốt nhất quyền lợi của bên gia nhập; một số điều khoản

mà pháp luật Cộng hoà Pháp đặc biệt lưu ý như:1) Điều khoản miễn trừ, làm tăng trách nhiệm hoặc giới hạn trách nhiệm của một bên ; 2) Điều khoản viện dẫn tài liệu khác, không đính kèm trong hợp đồng; 3) Điều khoản không thể đọc được hoặc không thể hiểu được25 Liên quan đến điều khoản lạm dụng, pháp luật Pháp đã quy định tại Bộ luật tiêu dùng, theo đó điều khoản lạm dụng được hiểu là điều khoản lạm dụng là điều khoản tạo nên sự mất cân bằng đáng kể về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng được kí kết giữa một bên là người làm nghề chuyên nghiệp và một bên là người tiêu dùng hoặc người không chuyên nghiệp26

Theo Luật về Điều khoản bất công

22

http://ccq.lexum.com/w/ccq/en/#!fragment/sec1435/KGhhc2g6KGNodW5rxIVhbsSHb3JUZXh0OnNlYzE 0MzUpLG5vdGVzUXVlcnk6Jycsc2Nyb2xsQ8SIxIo6IW7ErWVhcsSHxKXEp8SpxKvEusS8xIdTxJB0QsS pUkVMRVZBTkNFLHRhYsSqJykp, ngày truy cập 08/08/2017

23 http://ccq.lexum.com/w/ccq/en/#!fragment/sec1435/KGhhc2g6KGNodW5rxIVhbsSHb3JUZXh0OnNlYzE 0MzUpLG5vdGVzUXVlcnk6Jycsc2Nyb2xsQ8SIxIo6IW7ErWVhcsSHxKXEp8SpxKvEusS8xIdTxJB0QsS pUkVMRVZBTkNFLHRhYsSqJykp, ngày truy cập 08/08/2017

24 http://ccq.lexum.com/w/ccq/en/#!fragment/sec1435/KGhhc2g6KGNodW5rxIVhbsSHb3JUZXh0OnNlYzE 0MzUpLG5vdGVzUXVlcnk6Jycsc2Nyb2xsQ8SIxIo6IW7ErWVhcsSHxKXEp8SpxKvEusS8xIdTxJB0QsS pUkVMRVZBTkNFLHRhYsSqJykp, ngày truy cập 08/08/2017

25 Trần Thị Thu Phương (2015), “Hợp đồng gia nhập – kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia và bài học

cho Việt Nam”, Luật học, (09), tr.30

26 Trần Thị Thu Phương (2015), “Hợp đồng gia nhập – kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia và bài học

cho Việt Nam”, Luật học, (09), tr.30

Trang 33

29

(Unfair Contract Terms Act – UCTA 1977), Điều 11(1), một điều khoản miễn trừ trách nhiệm có thể được coi là có hiệu lực nếu điều khoản đó có nội dung hợp lý27

và các Tòa án ở Anh còn quy định mọi điều khoản hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm phải được chứng minh là hợp lý cho các bên trước khi được đưa vào hợp đồng

Cùng quy định về điều khoản vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng – bên yếu thế trong quan

hệ với thương nhân, Luật bảo vệ người tiêu dùng đã liệt kê các điều khoản hợp đồng đương nhiên vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu Theo đó, có 9 loại điều khoản của hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung không có hiệu lực, bao gồm: Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật; Hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng; Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương thay đổi điều kiện của hợp đồng đã thỏa thuận trước với người tiêu dùng hoặc quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch

vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng; Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ; Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định hoặc thay đổi giá tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giải thích hợp đồng trong trường hợp điều khoản của hợp đồng được hiểu khác nhau; Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua bên thứ ba; Bắt buộc người tiêu dùng phải tuân thủ các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không hoàn thành nghĩa vụ của mình; Cho phép tổ chức, cá nhân kinh

27 Lê Nết (2005), “Góp ý dự thảo sửa đổi Bộ luật dân sự (sửa đổi) về điều khoản miễn trừ trách nhiệm và hạn chế quyền lợi trong hợp đồng”, tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/10/135/ ngày truy cập 03/07/2017

Trang 34

30

doanh hàng hóa, dịch vụ chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho bên thứ ba mà không được người tiêu dùng đồng ý (khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) Khác với quy định tại BLDS có quy định ngoại trừ, thì tại quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng những điều khoản này không có ngoại trừ, tức là kể cả khi người tiêu dùng đã đọc, hiểu

và chấp thuận ký kết hợp đồng thì các điều khoản này vẫn có thể bị tuyên bố

vô hiệu Khi đó, người tiêu dùng hoàn toàn có thể không cần phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ bất hợp lý mà doanh nghiệp đặt ra dù trước đó đã chấp thuận thực hiện Việc tuyên bố và xử lí chúng phải được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự

Hậu quả pháp lý của hợp đồng theo mẫu vô hiệu được xác định theo

quy định tại Điều 131 BLDS năm 2015, theo đó: “1 Giao dịch dân sự vô hiệu

không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên

kể từ thời điểm giao dịch được xác lập

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả

3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó

4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Như vậy, theo quy định trên thì khi hợp đồng theo mẫu vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gi đã nhận Trường hợp không hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền đề hoàn trả Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường Đối với các điều khoản của hợp đồng vô hiệu

mà không ảnh hưởng đến những nội dung khác của hợp đồng thì bị coi là vô hiệu từng phần, theo hướng không công nhận hiệu lực của điều khoản bị vô hiệu, các nội dung còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp luật

Trang 35

31

1.1.2.6 Giải thích hợp đồng theo mẫu

Khi hợp đồng được xác lập và có hiệu lực, các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý

do khác nhau mà hợp đồng được xác lập có nội dung không rõ ràng dẫn đến việc các bên không có cách hiểu thống nhất về nội dung hợp đồng Điều này đặt ra yêu cầu hợp đồng phải được giải thích để làm rõ nội dung của hợp đồng, tạo thuận lợi và hiệu quả trong việc thực hiện hợp đồng Đối với hợp đồng theo mẫu, pháp luật quy định nguyên tắc giải thích hợp đồng theo hướng không có lợi cho bên được quyền soạn thảo hợp đồng đối với những điều khoản có cách hiểu khác nhau về kỹ thuật, điều khoản hợp đồng mơ hồ hoặc không rõ nghĩa Nguyên tắc này được xuất phát từ một thuật ngữ Latinh

“verba chatarum forties accipiuntur contra proferentum” nghĩa là “từ ngữ trong văn bản sẽ được giải thích chống lại người chèn nó vào”28 Nguyên tắc này được xem xét xây dựng chủ yếu với mục đích nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích trong việc điều chỉnh hiệu lực của hợp đồng, mà nền tảng của nó là nguyên tắc thiện chí, trung thực, hợp tác, nguyên tắc công bằng, và nguyên tắc đảm bảo cân bằng lợi ích29 Tại Điều 4.6 Bộ nguyên tắc UNIDROIT đã

đưa ra quy tắc contra proferentum với nội dung là: “Trong trường hợp không

rõ ràng, các điều khoản hợp đồng được giải thích theo hướng không có lợi cho bên đề xuất” Ví dụ đối với hợp đồng bảo hiểm, theo đó doanh nghiệp bảo

hiểm là bên đưa ra các điều khoản mẫu để khách hàng xem xét trả lời chấp nhận trong một khoảng thời gian hợp lý, nếu khách hàng đồng ý tham gia bảo hiểm đồng nghĩa với việc chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng, người mua bảo hiểm không được đàm phán, thỏa thuân về việc sửa đổi, bổ sung các điều khoản trong hợp đồng đó, họ chỉ có thể thể hiện ý chí của mình qua việc chấp nhận hay không chấp nhận tham gia giao kết hợp đồng Do đó, trong trường hợp này, khi xảy ra tình huống cần giải thích hợp đồng đối với một hoặc một

28 Nguyễn Thị Hằng Nga (2015), “ Chế định hợp đồng dân sự theo mẫu và một số đề xuất sửa đổi Bộ luật

dân sự năm 2005”, Nghiên cứu lập pháp, (16), tr.32

29 Nguyễn Hồng Hiển (2016), Giải thích hợp đồng dân sự theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Luận

văn thạc sĩ, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 76

Trang 36

32

số điều khoản của hợp đồng, trong thực tế, chủ thể giải thích sẽ có xu hướng bảo vệ cho bên mua bảo hiểm trong các tình huống này

Pháp luật dân sự Việt Nam cũng đưa ra quy định về giải thích hợp đồng

theo mẫu tại khoản 2 Điều 405 BLDS năm 2015: “Trường hợp hợp đồng theo

mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó” Có thể thấy cách tiếp cận của

BLDS khi quy định về giải thích hợp đồng theo mẫu cũng có sự tương tự như thông lệ quốc tế và pháp luật các quốc gia khác trên thế giới Theo Bộ luật dân sự Pháp, khi giải thích hợp đồng trong trường hợp các điều khoản của hợp đồng có điểm không rõ ràng thì phải xem xét ý định đích thực của các bên ký kết (Điều 1156) và trong trường hợp có nghi ngờ về nội dung của một điều khoản hợp đồng, thì phải giải thích hợp đồng điều khoản đó theo hướng

có lợi cho người có nghĩa vụ (Điều 1162)30

Điều 1432 của BLDS Quebec cũng quy định trong trường hợp không rõ ràng, hợp đồng sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bên có nghĩa vụ và chống lại bên đưa ra điều khoản; trong mọi trường hợp, hợp đồng luôn được giải thích theo hướng có lợi cho bên gia nhập hoặc người tiêu dùng31

Điều 5 Luật quy định về hợp đồng gia

nhập của Hàn Quốc quy định: “1 Hợp đồng gia nhập phải được giải thích

một cách không thiên vị phù hợp với nguyên tắc tin cậy và thiện chí và không được giải thích một cách khác biệt phụ thuộc vào khách hàng; 2 Nếu nghĩa của hợp đồng gia nhập không rõ ràng, thì phải được giải thích vì lợi ích của khách hàng 32” Đây là một quy định hợp lý Bởi lẽ đối với hợp đồng theo mẫu, bên tham gia giao kết hợp đồng không có khả năng thương lượng và thỏa thuận các điều khoản chi tiết của hợp đồng và phải chấp nhận các điều khoản do bên soạn thảo hợp đồng đưa ra Trong khi đó, bên đưa ra hợp đồng theo mẫu là bên soạn thảo nội dung hợp đồng, chủ động đưa ra các điều

30

Nxb Tư pháp (2005), Bộ luật dân sự Pháp, Hà Nội, tr.688-689

31 http://ccq.lexum.com/w/ccq/en/#!fragment/sec1379/KGhhc2g6KGNodW5rxIVhbsSHb3JUZXh0OnNlYzE zNzkpLG5vdGVzUXVlcnk6Jycsc2Nyb2xsQ8SIxIo6IW7ErWVhcsSHxKXEp8SpxKvEusS8xIdTxJB0QsSp UkVMRVZBTkNFLHRhYjp0b2MpKQ, ngày truy cập 01/06/2017

32

Article 5, Regulation of adhesion contract act

Trang 37

33

khoản, có thời gian để nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung của hợp đồng và cũng thường là bên có tính chuyên nghiệp và mạnh thế trong quan hệ hợp đồng Việc giải thích hợp đồng ưu tiên theo hướng có lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu là yếu tố để đảm bảo tính công bằng trong quan hệ hợp đồng Về nguyên tắc, việc giải thích nội dung hợp đồng chỉ áp dụng trong trường hợp các bên có xung đột và có cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, việc giải thích phải được xem xét một cách tổng thể dựa trên các yếu tố khác như mức độ hợp lý của việc bảo vệ lợi ích của bên ban hành, mức độ rõ ràng về thông tin của điều khoản

Bên cạnh hướng giải thích các điều khoản không rõ ràng trong hợp đồng theo mẫu, vấn đề cần quan tâm tiếp theo là chủ thể có thẩm quyền giải thích hợp đồng theo mẫu Hiện nay, pháp luật không có quy định cụ thể về chủ thể nào có thẩm quyền giải thích các điều khoản không rõ ràng trong hợp đồng theo mẫu Theo các tác giả của Viện khoa học pháp lý chỉ dẫn:

“Pháp luật không quy định cụ thể ai là người có trách nhiệm giải thích

nội dung của giao dịch dân sự Thông thường, trong trường hợp có sự hiểu không đúng về nội dung của giao dịch dân sự trước hết cần có sự bàn bạc thỏa thuận của các bên Nếu các bên không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc Tòa án quyết định”33

Như vậy, thông thường chủ thể giải quyết tranh chấp có thể là thẩm phán (theo thủ tục tố tụng tại tòa án), trọng tài viên (giải quyết theo thủ tục trọng tài thương mại) Đối với những chủ thể như vậy thì các yêu cầu về chủ thể giải quyết tranh chấp hợp đồng cũng đã được đảm bảo (về chuyên môn, trình độ, mức độ am hiểu trong lĩnh vực giải quyết ), do đó cũng đáp ứng đầy đủ khả năng đối với vấn

đề giải thích hợp đồng

1.1.1.7 Kiểm soát hợp đồng theo mẫu

Nội dung của hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được

đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng là một điểm

33 Nguyễn Hồng Hiển (2016), Giải thích hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Luận văn thạc

sỹ, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 13

Trang 38

34

mới trong quy định về hợp đồng theo mẫu của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 thể hiện sự kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền đối với nội dung của các hợp đồng theo mẫu Trình tự, thể thức công khai được thực hiện theo quy định của pháp luật Việc công khai nội dung hợp đồng theo mẫu có ý nghĩa quan trọng để mọi chủ thể tham gia giao kết hợp đồng theo mẫu đều biết được “ý định” của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu và có “thời gian hợp lý” để nghiên cứu nội dung và quyết định tham gia giao kết hợp đồng Quan trọng hơn việc công khai nội dung của hợp đồng theo mẫu sẽ đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và lành mạnh của các điều khoản trong hợp đồng theo mẫu do một bên đơn phương đưa ra Tuy nhiên, quy định công khai hợp đồng theo mẫu trong BLDS năm 2015 mới chỉ dừng lại ở quy định mang tính khái quát Đây là nghĩa vụ của bên đưa

ra hợp đồng theo mẫu nhưng trường hợp bên đưa ra hợp đồng theo mẫu không thực hiện công khai nội dung của hợp đồng thì sẽ phải chịu trách nhiệm như thế nào và cơ chế kiểm soát đối với việc công khai hóa nội dung hợp đồng theo mẫu thì chưa có quy định

Trình tự, thể thức công khai hợp đồng theo mẫu được thực hiện theo quy định của pháp luật Tại khoản 6, Điều 12 của Luật bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng năm 2010 quy định thương nhân phải có nghĩa vụ “thông báo chính

xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch” và “tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch

vụ sử dụng điều kiện giao dịch chung có trách nhiệm thông báo công khai điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch với người tiêu dùng” Đồng

thời, Điều 19 của Luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng 2010 quy định về kiểm soát hợp đồng mẫu như sau:

“1.Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng

hóa, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trang 39

35

2 Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tự mình hoặc theo đề nghị của người tiêu dùng, yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ hủy bỏ hoặc sửa đổi hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong trường hợp phát hiện hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng.”

Đồng thời trong những trường hợp do pháp luật quy định thì hợp đồng theo mẫu phải thực hiện việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vấn đề này đã được đề cập tại mục 1.1.2.4

1.2 Điều kiện giao dịch chung

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của điều kiện giao dịch chung

1.2.1.1 Khái niệm

Điều kiện giao dịch chung được các luật gia phương tây mô tả là đứa con của cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX Với việc xuất hiện khả năng sản xuất và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mang tính hàng loạt và liên tục cho vô số các khách hàng đã đặt ra vấn đề “tiêu chuẩn hoá” các điều khoản của các hợp đồng mua bán Trong bối cảnh đó, từ giữa thế kỷ trước, các doanh nghiệp, trước tiên là bảo hiểm, giao thông, tín dụng rồi sau đó là các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ, đều thiết lập cho mình những quy tắc bán hàng thống nhất, áp dụng chung trong các giao dịch với khách hàng của mình Điều kiện giao dịch chung được hình thành đã đặt ra thách thức cho hệ thống pháp luật hợp đồng của các nước Châu Âu trước hiện tượng bên soạn thảo điều kiện giao dịch chung chỉ đề cao việc bảo vệ lợi ích của mình hơn là tạo

ra sự cân bằng cho cả hai bên trong quan hệ hợp đồng, bên còn lại trong hợp đồng thường không nhận thức được hết các nội dung điều khoản hợp đồng vào thời điểm xác lập và thường bị áp đặt bởi các điều khoản hợp đồng không

rõ ràng và không công bằng34

Trước hết, điều kiện giao dịch chung được hiểu là những điều khoản soạn sẵn do thương nhân soạn sẵn để sử dụng nhiều lần, người tiêu dùng

34 Nguyễn Thị Hằng Nga (2016), Pháp luật về điều kiện thương mại chung – Những vấn đề lý luận và thực

tiễn, Luận án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.58

Trang 40

36

không có khả năng đàm phán thay đổi nội dung mà chỉ có khả năng chấp thuận hoặc từ chối điều khoản35 Như vậy, điều kiện giao dịch chung được sử dụng trong quan hệ hợp đồng giữa thương nhân và người tiêu dùng Nó được nhìn nhận là nội dung có tính tiêu chuẩn, ổn định được đưa vào trong giao dịch hợp đồng, được doanh nghiệp sử dụng chung cho khách hàng đối với cùng loại giao dịch mà các khách hàng không thể sửa đổi nội dung đó Điều kiện giao dịch chung có thể có thể do một hoặc nhiều chủ thể cùng nhau xây dựng nhằm đảm bảo tính thống nhất về hiệu lực chung khi ký kết các hợp đồng trong cùng một lĩnh vực kinh doanh nào đó

Trong giao dịch thương mại quốc tế, điều kiện giao dịch chung thường

được hiểu “là những điều khoản có tính ổn định trong hợp đồng, được sử

dụng chung cho các đối tác khác nhau, do một hoặc một số chủ thể cùng ấn định nhằm bảo đảm tính thống nhất và có hiệu lực chung khi ký các hợp đồng trong lĩnh vực tương ứng”36

Dưới góc độ lý luận, nhiều học giả nghiên cứu điều kiện giao dịch chung dưới tên gọi là “điều kiện thương mại chung” Việc gọi các điều khoản hợp đồng soạn sẵn là điều kiện thương mại chung xuất phát từ cách đặt tên của các nhà lập pháp Đức ở định nghĩa về điều kiện thương mại chung tại Luật về điều kiện thương mại chung trước đây và nay là Điều 305 BLDS Đức (thuật ngữ tiếng Anh là “standard business terms được dịch nguyên bản từ tiếng Đức là điều kiện thương mại chung)37

Tại Điều 305 BLDS Đức (BGB) quy định:

“Điều kiện thương mại chung là tất cả những điều khoản hợp đồng được soạn thảo trước cho nhiều hơn hai hợp đồng mà một bên giao kết hợp đồng sử dụng (người sử dụng) đưa ra cho bên kia khi giao kết Không quan trọng là các điều khoản có tạo thành một phần riêng nằm ngoài hợp đồng hay

35 Đỗ Giang Nam (2016), “Sự phát triển của chế định hợp đồng tiêu dùng và triển vọng đối với pháp luật hợp

đồng Việt Nam”, Nhà nước và pháp luật, (04), tr.35

36 Lê Thanh Hà (2008), Điều kiện giao dịch chung trong hoạt động kinh doanh quốc tế và khả năng áp dụng

tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Đại học Ngoại Thương, Hà Nội, tr.10

37 Nguyễn Thị Hằng Nga (2016), Pháp luật về điều kiện thương mại chung – Những vấn đề lý luận và thực

tiễn, Luận án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.30

Ngày đăng: 14/03/2019, 21:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w