1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân theo pháp luật dân sự việt nam

46 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 513,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đókhông có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI _

 _

VŨ THỊ HẰNG HẢI LKT 12-02

NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN

THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Ngành Luật Kinh tế

Mã số: 52380107

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Người hướng dẫn: ThS PHẠM HÙNG CƯỜNG

Hà Nội, 5/2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của Ths Phạm Hùng Cường Các thông tin và dữ liệu tác giả sử dụng trong bài khóa luận này là trung thực và được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài tiệu tham khảo Ngoài ra trong khóa luận này tác giả còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá từ các tác giả khác có trích dẫn rõ ràng

Nhận xét của giáo viên hướng dẫn Sinh viên

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính thiết yếu của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2

5 Kết cấu của khóa luận 2

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ NGOÀI HỢP ĐỒNG 3

1.1.Khái niệm trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng 3

1.2.Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng 4

1.2.1.Có thiệt hại xảy ra 5

1.2.2.Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật 8

1.2.3.Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại 9

1.2.4 Người gây thiệt hại có lỗi 10

1.3.Phân biệt trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và trách nhiệm dân sự theo hợp đồng 13

1.4.Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 14

1.4.1.Khái niệm cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 14

1.4.2 Điều kiện để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 15

1.5 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam qua từng giai đoạn 17

1.5.1 Giai đoạn trước năm 1959 17

1.5.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến 1995 20

1.5.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến 2005 21

1.5.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 21

Chương 2 NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 22

2.1.Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ đủ 18 tuổi trở lên 22

2.2 Năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên 24

2.2.1 Năng lực bồi thường thiệt hại của người dưới 15 tuổi 25

2.2.2 Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi 29

Trang 4

2.3 Năng lực bồi thường thiệt hại của người được giám hộ 32 2.3.1.Trường hợp người được giám hộ là người chưa thành niên 33 2.3.2.Năng lực bồi thường thiệt hại của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự 34 2.4 Năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân là người của pháp nhân 37 2.5 Năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự 38

KẾT LUẬN 40 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 5

MỞ ĐẦU1.Tính thiết yếu của đề tài

Quyền yêu cầu người khác bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái của người gây thiệt hại (về tài sản, sức khỏe, tinh thần, ) cho mình là một quyền được áp dụng với tần số lớn nhất trong các quyền về yêu cầu bồi thường thiệt hại quy định bởi luật dân sự tại xã hội hiện đại Theo đó tại Nhật Bản, số vụ yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái (Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) chiếm tới 61% tổng số vụ việc tranh chấp dân sự Con số này nói lên mức độ quan trọng của quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái trong đời sống dân sự

Giáo sư John Gillespie, giáo sư thỉnh giảng của trường Đại học Luật Deakin - một trong những trường đại học danh tiếng của nước Úc, khi nghiên cứu về hệ thống pháp luật Dân sự Việt Nam đã nhận định rằng: “Người dân Việt Nam không biết đến quyền yêu cầu nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ bồi thường thiệt hại cho mình do hành vi sai trái của nhà sản xuất nói riêng và quyền yêu cầu người khác bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái của người đó nói chung” Thật vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà cạnh tranh được coi là một mặt để thúc đẩy các quan hệ xã hội đồng thời cũng tạo ra nhiều khả năng gây thiệt hại cho người khác từ phía các hành vi cá nhân, có nghĩa là ai cũng có có thể gây thiệt hại cho xã hội Do

đó, ở Việt Nam quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái đã được luật

hóa tại Bộ luật dân sự, tại chương XXI: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng (từ Điều 604 đến Điều 630 của Bộ luật dân sự năm 2005) và một số văn bản

pháp luật dưới Bộ luật dân sự khác

Tuy nhiên, việc xác định năng lực chủ thể trong trách nhiệm BTTHNHĐ luôn đặt ra cho các nhà làm luật, những nhà thực thi pháp luật cũng như những nhà nghiên cứu luật pháp các vấn đề nan giải khi tiếp cận Xuất phát từ đó tôi quyết định

chọn đề tài: “Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân theo

pháp luật dân sự Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, trên các diễn đàn nghiên cứu luật pháp ở nước ta xuất hiện khá là nhiều các bài viết, các công trình nghiên cứu về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, như “Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự” của tiến sỹ Lê Mai Anh Nhưng đối với vấn

đề về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn khá ít và chưa có tính chuyên sâu cao

Trang 6

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu quy định về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà cụ thể là “năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân” mà không đi vào nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng

và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các chủ thể khác

Bài khóa luận cũng hướng tới làm rõ các quy định của pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân trong các trường hợp cụ thể Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị để từ đó hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về vấn đề này

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Có sự kết hợp giữa quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi cũng đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết thúc và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm có 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Chương 2: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam

Trang 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ

NGOÀI HỢP ĐỒNG 1.1.Khái niệm trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng

Xã hội luôn luôn là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp, nên nó luôn cần đến sự điều chỉnh của pháp luật Chính từ sự đa dạng và phức tạp của các quan hệ xã hôi nên yêu cầu pháp luật cũng cần có cơ chế điều chỉnh đa dạng

và phù hợp Từ đây, nhiều quan hệ pháp luật đã ra đời trong đó có quan hệ về nghĩa

vụ dân sự Trong quan hệ về nghĩa vụ dân sự, khi chủ thể tham gia không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ đã cam kết kể cả khi thực hiện không đúng các nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định thì phải gánh chịu về mình những hậu quả bất lợi Hậu quả bất lợi này thể hiện thông qua việc giải quyết “trách nhiệm dân sự” giữa người có quyền với người có nghĩa vụ và được thực hiện theo nguyên tắc bên nào có hành vi vi phạm và gây ra thiệt hại thì phải bồi thường Vậy trách nhiệm dân

sự là gì? Theo Tạp chí dân chủ và pháp luật, chuyên đề về Bộ luật dân sự 2005, tại phần thuật ngữ pháp luật dân sự, có đưa ra khái niệm trách nhiệm dân sự như sau:

“Trách nhiệm dân sự, theo nghĩa rộng, là các biện pháp có tính cưỡng chế được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm Trách nhiệm dân sự, theo nghĩa hẹp, là các biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục các hậu quả xấu bằng tài sản của mình”

Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật phải gánh chịu các hậu quả bất lợi là do chính những hành vi sai trái của mình Hành vi sai trái của các chủ thể

có thể là hành vi vi phạm hợp đồng (không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết) hoặc do hành vi vi phạm pháp luật Như vậy, trách nhiệm dân sự có thể chia làm hai loại là trách nhiệm dân sự theo hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng

Quyền nhân thân (tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín) và quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân, của chủ thể khác luôn được pháp luật bảo vệ

và nghiêm cấm các hành vi xâm hại đến Nhưng trên thực tế lại xảy ra nhiều thiệt hại về các quyền này Nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại này cũng rất đa dạng,

có thể là do tác động của các yếu tố tự nhiên bên ngoài, tác động bởi hoàn cảnh khách quan hay đơn giản hơn là do hành vi của con người mà trong đó phần lớn là

do các hành vi trái pháp luật của con người mang lại Trước các hành vi xâm phạm

đó, nhà nước cần có những biện pháp để ngăn chặn và khắc phục hậu quả Tại Điều

Trang 8

604 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm

tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Điều này có nghĩa là, khi một người gây

thiệt hại cho người khác thì sẽ làm phát sinh mối quan hệ bồi thường thiệt hại giữa

họ với người bị hại Quan hệ bồi thường này phát sinh từ hành vi trái pháp luật của một bên chủ thể nhưng giữa các bên không tồn tại quan hệ hợp đồng, hoặc nếu có thì vi phạm này không phải là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng

Vậy, qua những phân tích trên, ta có thể rút ra kết luận trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đókhông có quan

hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã ký kết giữa các bên”

1.2.Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là các quyền cơ bản của mỗi công dân, luôn được Nhà nước bảo hộ Pháp luật nghiêm cấm các hành vi gây thiệt hại đến tài sản, tính mạng, sức khỏe, cho công dân một cách bất hợp pháp Pháp luật quy định những biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật và gây thiệt hại phải có trách nhiệm trước hậu quả mà mình gây ra cho người khác, đó là trách nhiệm bồi

thường thiệt hại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố

ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Như vậy, trách

nhiệm bồi thường chính là hậu quả bất lợi về tài sản mà người có hành vi gây thiệt hại cho người khác phải gánh chịu

Tuy nhiên, để đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thì việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây thiệt hại cho người khác không thể xác định một cách tùy tiện, thiếu chính xác Pháp luật dân sự quy định việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại phải dựa trên các điều kiện nhất định Các điều kiện này là cơ sở cho việc xác định trách nhiệm bồi thường một cách chính xác

Trong Bộ luật dân sự 2005 của nước ta không có một quy định nào quy định

cụ thể về các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trang 9

số 01/2004/NQ – HĐTP ngày 28 tháng 4 năm 2004 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì có 4 điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

- Có thiệt hại xảy ra

- Có hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại

- Người gây thiệt hại có lỗi

1.2.1.Có thiệt hại xảy ra

Mục đích của việc bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục, bù đắp lại những tổn thất, mất mát cho người bị thiệt hại cho nên khi không có thiệt hại xảy ra thì cũng không tồn tại vấn đề bồi thường kể cả khi đáp ứng đủ các điều kiện còn lại Từ đây có thể thấy, để quyết định xem có phát sinh trách nhiệm bồi thường hay không thì điều kiện có thiệt hại xảy ra là điều kiện tiên quyết, bắt buộc phải có của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, những thiệt hại này phải khách quan, chân thực và không suy diễn ra thiệt hại

Thiệt hại được hiểu là những tổn thất, những mất mát xảy ra đối với đối tượng cụ thể hoặc quan hệ cụ thể, làm cho đối tượng hoặc quan hệ đó không còn được nguyên vẹn như lúc ban đầu trước khi có hành vi xâm phạm xảy ra Những tổn thất trên đều được tính bằng tiền, bao gồm những mất mát, hư hỏng, hủy hoại về tài sản, nguồn thu nhập bị mất, các chi phí khắc phục hậu quả xấu xảy ra khi mất tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm Nhìn từ góc độ nào thì hành

vi trái pháp luật và gây ra thiệt hại đều xâm phạm đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ Cho nên, các quy định về bồi thường thiệt hại do pháp luật dân sự quy định là rất chính xác, cần thiết để kịp thời ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại và buộc những người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường Người có hành vi gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra là đúng Nhưng việc giải quyết mức bồi thường thiệt hại cần phải hợp tình, hợp lý, mức bồi thường phải phù hợp với thiệt hại Điều này đòi hỏi người có trách nhiệm giải quyết bồi thường thiệt hại phải xem xét đến tích chất của thiệt hại xảy ra Bởi

lẽ, có những thiệt hại có thể tính toán, quy đổi thành tiền được nếu nó chỉ đơn thuần

là thiệt hại về vật chất, tài sản Còn với thiệt hại về tinh thần, tính mạng, sức khỏe của con người thì khó xác định hơn Bản chất của hai loại thiệt hại này là khác nhau Việc phân chia và nghiên cứu rõ những thiệt hại này sẽ giúp cho việc xác định bồi thường thiệt được chính xác hơn

Trang 10

* Thứ nhất thiệt hại về vật chất

Thiệt hại về vật chất là thiệt hại có thể tính toán, định lượng ra tiền được Theo Thông tư 173 UBND/TANDTC ngày 23/3/1997 thì thiệt hại về vật chất là sự mất mát, giảm sút về một lợi ích vật chất có thể tính toán được bằng tiền, bao gồm các khoản: Những hư hỏng, mất mát về tài sản, những chi phí bỏ ra để sửa chữa, và những thu nhập bị mất do bị thiệt hại

Điều 608 BLDS năm 2005 đã quy định rõ: Trường hợp tài sản bị xâm hại thì

thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1 Tài sản bị mất;

2 Tài sản bị hủy hại hoặc hư hỏng;

3 Lợi ích được gắn liền với sử dụng và khai thác tài sản;

4 Chi phí hợp lý để ngăn chặn hạn chế và khắc phục thiệt hại

Ngoài ra, các thiệt hại trên muốn được bồi thường thì phải thỏa mãn một số điều kiện sau: Thiệt hại phải chắc chắn, thực tế và chưa được bồi thường

Thiệt hại phải chắc chắn nghĩa là người bị thiệt hại phải đưa ra được những thiệt hại mà mình phải gánh chịu và có thể tính toán được Thiệt hại phải thực tế nghĩa là đã có thiệt hại xảy ra, nhưng có những trường hợp tính thực tế của thiệt hại không được biểu hiện ở việc nó đã xảy ra mà có thể là thiệt hại trong tương lai Thiệt hại trong tương lai cũng được coi là có tính thực tế nếu chắc chắn rằng nó sẽ xảy ra và có thể tính toán trước được Do vậy hậu quả trong tương lai của một thiệt hại thực tế có thể được xem xét để định ra mức bồi thường thiệt hại Đương nhiên một thiệt hại không chắc chắc và mang tính giả định thì không thể xem xét để bồi thường

Từ những phân tích trên cho thấy khi tính toán đến vấn đề bồi thường cho người bị thiệt hại, các nhà làm luật không chỉ tính đến những thiệt hại trực tiếp đã xảy ra mà còn tính đến thiệt hại có thể xảy ra trong tương lai

Liên quan đến việc xác định bồi thường thiệt hại thì việc thiệt hại đã được bồi thường chưa cũng là một vấn đề phức tạp Nếu thiệt hại đã được bồi thường thì người bị thiệt hại không thể khởi kiện đòi bồi thường một lần nữa Song trên thực tế việc xác định xem một thiệt hại đã được bồi thường hay chưa không hề dễ một chút nào Đó là trong trường hợp bảo hiểm BLDS quy định quan hệ bảo hiểm có 3 loại, gồm: bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm tính mạng và bảo hiểm tài sản

Trong quan hệ bảo hiểm trách nhiệm dân sự, nếu nạn nhân – người bị hại đã được công ty bảo hiểm bồi thường thì họ không thể khởi kiện người gây ra thiệt hại

Trang 11

để đòi bồi thường thêm lần nữa Lúc này công ty bảo hiểm đang đóng vai trò là đại diện cho người gây ra thiệt hại Vấn đề này sẽ càng phức tạp hơn khi đặt trong quan

hệ bảo hiểm tính mạng và bảo hiểm tài sản

Khi có thiệt hại xảy ra người được bảo hiểm đã được công ty bảo hiểm bồi thường rồi thì có được tiếp tục yêu cầu người gây ra thiệt hại bồi thường nữa không? Số tiền mà công ty bảo hiểm chi trả cho người được bảo hiểm, đó có phải là tiền bồi thường thiệt hại hay không và công ty bảo hiểm có quyền yêu cầu người gây ra thiệt hại phải thanh toán khoản tiền đó không? Điều này đã được giải quyết theo Điều 577 BLDS 2005 về chuyển yêu cầu hoàn trả thì Bên bảo hiểm có quyền yêu cầu bên thứ ba (người gây thiệt hại) hoàn trả khoản tiền mà mình đã trả cho người được bảo hiểm và người được bảo hiểm cũng có quyền yêu cầu bồi thường thêm khoản chênh lệch mà người bảo hiểm hoặc người gây thiệt hại bồi thường

*Thứ hai thiệt hại về tinh thần

Không có một khái niệm nào giải thích cụ thể thế nào là “thiệt hại về tinh thần”, chúng ta có thể hiểu nôm na rằng thiệt hại tinh thần là sự xúc phạm đến các giá trị tinh thần, tình cảm như là sự mất danh dự nhân phẩm, sự lo lắng suy sụp về

tinh thần Khoản 3 Điều 307 chỉ quy định một cách khái quát: “Người gây thiệt hại

về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạnh, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín cuẩ người đó tì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường,một khoản tiền để bù đáp tổn thất về tinh thần co người bị thiệt hại”

Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xúc phạm là vấn đề nhạy cảm và phức tạp, bởi thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, thuộc về nội tâm con người nên rất khó để định lượng, cân đo, đong đếm những thiệt hại này Sự bù đắp về tinh thần chỉ có giá trị an ủi, động viên người bị thiệt hại

mà thôi Có thể nói đây là một vấn đề khó, cho đến nay các nhà làm luật vẫn chưa ban hành quy định hướng dẫn cụ thể vấn đề này

Hiện có hai quan điểm khác nhau về vấn đề bồi thường thiệt hại tinh thần Quan điểm thứ nhất cho rằng thiệt hại về tinh thần là thiệt hại không thể bù đắp được, như sự mất đi người thân, tình cảm bị xúc phạm là những tổn thất vô giá không thể quy đổi thành tiền được Quan điểm thứ hai lại cho rằng dù là thiệt hại về tinh thần hay vật chất thì đều phải được bồi thường vì suy cho cùng thiệt hại chỉ mang tính chất tương đối mà thôi Sự bồi thường, đền bù là mang tính khắc phục, sửa chữa thiệt hại đã xảy ra, làm sao nó có thể khôi phục nguyên vẹn như trước khi

có thiệt hại Mỗi quan điểm có những diễn giải riêng của mình Giả sử ta cho rằng

Trang 12

quan điểm thứ nhất là đúng thì chẳng lẽ người gây ra thiệt hại không phải chịu trách nhiệm cho hành vi gây ra tổn thất cho người khác hay sao? Người bị thiệt hại lại phải đương nhiên chịu tổn thất mà đáng lẽ họ không phải chịu sao? Như thế phải chăng là quá thiệt thòi và không công bằng với người bị hại Có lẽ quan điểm thứ hai sẽ hợp lý hơn Tuy thiệt hại về tinh thần là loại thiệt hại mang tính trừu tượng, không dễ tính toán được nhưng sự bồi thường cũng an ủi phần nào người bị hại và cũng là cơ hội cho người gây thiệt hại chuộc lại lỗi lầm mà mình gây ra Thiệt hại

về tinh thần thường gắn liền với nhân thân của người bị hại, và không thể chuyển giao quyền yêu cầu bồi thường cho người khác do đó chỉ có người bị hại mới có quyền hưởng bồi thường Tuy nhiên với người gây thiệt hại thì khác, nếu người gây

ra thiệt hại chết thì không đồng nghĩa với việc chấm dứt trách nhiệm bồi thường Người gây thiệt hại mà chết không thực hiện được nghĩa vụ tài sản của mình thì người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong phạm vi di sản người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 137)

1.2.2.Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Theo quy định tại các Điều 19, 20, 21 Hiến pháp 2013: Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản là quyền bất khả xâm phạm của mọi công dân, tổ chức Mọi người phải tôn trọng những quyền đó, không được thực hiện bất kỳ hành vi trái pháp luật nào xâm phạm đến các quyền tuyệt đối

đó Vây “hành vi trái pháp luật” được hiểu như thế nào? Khoản 2 Điều 1 Phần 1 của

Nghị quyết số 03/2006/NQ – HĐTP có quy định: “Hành vi trái pháp luật là những

xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật” Ta có thể thấy hành vi trái pháp luật

được cấu thành bởi hai bộ phận là “xử sự cụ thể của con người” được thể hiện thông qua “hành động hoặc không hành động”

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến các khách thể được pháp luật bảo

vệ như tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của người bị thiệt hại Như vậy hành vi trái pháp luật có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, dân

sự, hành chính, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tác trong cộng đồng dân cư

Là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật, nếu hành vi có gây ra thiệt hại nhưng không trái pháp luật thì không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại Trên thực tế có nhiều chủ thể gây ra thiệt hại nhưng hành vi gây ra thiệt hại đó

Trang 13

lại không phải là vi phạm pháp luật mà là hợp pháp nếu hành vi đó được thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc nghề nghiệp buộc họ phải làm như vậy Trong trường hợp này trách nhiệm bồi thường thiệt hại không đặt ra với người gây thiệt hại Ngoài ra người gây thiệt hại gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết hay trường hợp bất khả kháng thì cũng không bị coi là vi phạm pháp luật Tuy nhiên, trong trường hợp phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp thiết thì cần phải xem xét xem hành vi gây thiệt hại có vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết hay không, nếu vượt quá thì người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường

1.2.3.Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết quả trực tiếp, tất yếu của hành vi trái pháp luật Mối quan hệ nhân quả

có chức năng gắn kết giữa hai yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Quan hệ nhân quả là một diễn biến trong một khoảng thời gian cụ thể Do vậy, thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật và ngược lại, hành

vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra Theo quy định tại khoản 1 Điều

604 BLDS năm 2005: “ Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm mà gây thiệt

hại thì phải bồi thường” Đây chính là mối quan hệ của sự vân động nội tại, trực

tiếp, tồn tại khách quan, về nguyên tắc nguyên nhân luôn tồn tại trước kết quả trong khoảng thời gian xác định Nếu có hành vi trái pháp luật và có thiệt hại nhưng không có mối quan hệ nhân quả giữa chúng thì không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Một thiệt hại xảy ra có thể do một hoặc nhiều hành

vi trái pháp luật tác động và một hành vi trái pháp luật có thể gây ra nhiều thiệt hại

Hành vi trái pháp luật là nguyên nhân làm phát sinh thiệt hại nên hành vi đó luôn xảy ra trước thiệt hại nên trong một số trường hợp việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra gặp nhiều khó khăn

Trong trường hợp thiệt hại do nhiều nguyên nhân gây ra thì cần xác định đâu

là nguyên nhân chính hay tất cả nguyên nhân đều dẫn đến thiệt hại Người có trách nhiệm giải quyết bồi thường thiệt hại cần xác địn rõ đâu là nguyên nhân chính trực tiếp dẫn đến thiệt hại Cũng có nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật khác xen vào chứ không phải do hành vi có chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh gây thiệt hại Ví dụ: A đâm B bị thương, trên đường đi cấp cứu C do uống rượu đã lái xe đâm vào, làm B bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong Kết quả giám định pháp y cho thấy: B chết không phải vì vết thương do A đâm, vết thương đó vẫn có thể cứu chữa được nếu cấp cứu kịp thời, với điều kiện là trong

Trang 14

trường hợp không bị xe của C đâm Như vậy, tuy hành vi của A có khả năng gây nguy hại cho tính mạng của B nhưng lại bị hành vi trái pháp luật của C xen vào phá

vỡ và tạo ra mối quan hệ mới, trong mối quan hệ này hành vi trái pháp luật của C đã gây thiệt hại là tính mạng của B

Còn trong trường hợp một nguyên nhân gây ra nhiều thiệt hại thì lại cần xác định rõ kết quả nào là hậu quả trực tiếp của nguyên nhân là hành vi trái pháp luật Thiệt hại trực tiếp ở đây không nhất thiết phải là hậu quả ngay lập tức của nguyên nhân gây thiệt hại mà chỉ cần là hậu quả tất nhiên của hành vi gây thiệt hại

Tóm lại, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất phức tạp, dễ dẫn đến sai lầm Vì vậy khi xem xét mối quan hệ này cần hết sức thận trọng, thu thập đầy đủ các tài liệu chứng

cứ liên quan, phân tích đánh giá một cách khách quan, toàn diện để đưa ra được kết luận chính xác, xác định đúng trách nhiệm của người gây ra thiệt hại

1.2.4.Người gây thiệt hại có lỗi

Đối với một chủ thể, hành vi và nhận thức để thực hiện một hành vi là hai vấn đề khác nhau Hành vi là những gì thể hiện ra bên ngoài còn nhận thức là những

gì thể hiện bên trong Con người hành động theo ý chí của mình và nhận thức dẫn tới hành vi Nhưng cũng có những trường hợp nhận thức và hành vi không trùng nhau, đó là những người bị bệnh tâm thần, những người mắc các bệnh có thể dẫn tới việc không có khả năng điều khiển nhận thức hoặc hành vi của bản thân

Khi một chủ thể có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi lựa chọn cách xử sự không phù hợp với pháp luật, gây thiệt hại cho người khác thì khi

đó họ bị coi là có lỗi Theo quy định tại khoản 1 Điều 604 BLDS năm 2005: “

Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”,

hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ – HĐTP: “Trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng chỉ phátt sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: phải có lỗi

cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại” Như vậy người gây thiệt hại phải chịu trách

nhiệm dân sự khi họ có lỗi Việc áp dụng lỗi làm căn cứ để xác định trách nhiệm được Bộ luật dân sự 2005 quy định tại Điều 308, trong đó nhấn mạnh lỗi là căn cứ xác định trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định Khoản 2 Điều 308 chia lỗi thành hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý

được quy định như sau: “Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ

hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra” Về mặt khách

quan, quy định này đã dự liệu trước người gây thiệt hại đã nhận thức rõ hành vi của

Trang 15

mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện dù người thực hiện hành vi

có thái độ mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc thiệt hại xảy ra Do vậy, người đó phải chịu trách nhiệm trước hành vi có lỗi của mình Về mặt chủ quan, người gây thiệt hại thực hiện hành vi nhằm mục đích gây thiệt hại cho người khác và được thể hiện dưới hai mức độ, một là mong muốn nó xảy ra, hai là không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra Trong trường hợp người cố ý gây thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình gây thiệt hai cho người khác mà vẫn thực

hiện thì phải chịu trách nhiệm bồi thường Với lỗi vô ý: “Vô ý gây thiệt hại là

trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc

có thể ngăn chặn được” Người gây thiệt hại không mong muốn, không để mặc cho

thiệt hại xảy ra nhưng họ không kiểm soát được sự việc họ hành vi vô ý của mình nên họ vẫn phải chịu trách nhiệm trước hậu quả xảy ra

Mặc dù trong Bộ luật dân sự 2005 không định nghĩa rõ “lỗi” là gì mà chỉ đi vào định nghĩa “lỗi cố ý” và “lỗi vô ý” Nhưng qua định nghĩa về hai loại lỗi trên ta

có thể nhận thấy một điểm chung giữa chúng là đều có “nhận thức” về thiệt hại của ngươi gây ra thiệt hại Trong hai trường hợp người gây thiệt hại đều biết (hoặc phải biết) là có thiệt hại xảy ra Như vậy, người gây thiệt hại có lỗi khi họ có nhận thức

và điều khiển hành vi của mình

Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung nhưng yếu tố “lỗi” trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không ảnh hưởng nhiều tới nghĩa vụ bồi thường của người gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại Nếu trong trách nhiệm hình sự, lỗi và mức độ lỗi là yếu tố quan trọng trong việc xác định tội danh và khung hình phạt nên bắt buộc phải có sự phân biệt khác nhau giữa các hình thức lỗi thì lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dù là cố ý hay vô ý mà

có thiệt hại xảy ra thì đều phải bồi thường và mức bồi thường cũng không phụ thuộc vào mức độ lỗi Người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Nên, những người không có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi thì không có lỗi trong việc thực hiện hành vi gây thiệt hại và không phải chịu trách nhiệm Trẻ em, người bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác do không có khả năng nhận thức và điểu khiển hành vi nên không phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ và hậu quả của hành vi đó Nhưng trên thực tế, kể cả khi không có yếu tố “lỗi” thì vẫn làm phát sinh trách nhiệm bồi

Trang 16

thường thiệt hại ngoài hợp đồng (theo khoản 2 Điều 604 BLDS 2005) Quy định như vậy tạo điều kiện cho người bị hại đòi bồi thường thiệt hại vì trách nhiệm bồi thường phát sinh không cần yếu tố lỗi Điều đó có nghĩa là, chỉ cần có thiệt hại xảy

ra, có hành vi vi phạm pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại thì sẽ tồn tại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Một vấn đề quan trọng khác khi nghiên cứu “lỗi” là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là xác định đúng mức độ lỗi của các bên để đưa ra quyết định bồi thường chính xác và thỏa đáng Bởi

lẽ trong các trường hợp hỗn hợp lỗi hoặc lỗi là của người bị hại thì việc xác định lỗi gặp nhiều khó khăn Với trường hợp lỗi hỗn hợp, nghĩa là cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi Điều 617 có quy định về bồi thường thiệt hại trong

trường hợp người bị thiệt hại có lỗi: “Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc

gây thiệt hại thì gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức

độ lỗi của mình”, trong điều luật này có đề cập đến mức độ lỗi do vậy việc xác định

trách nhiệm bồi thường khi cả hai bên có lỗi là mỗi bên phải chịu trách nhiệm tương xứng với mức độ lỗi của mình Nhưng Bộ luật dân sự nước ta không quy định rõ mức độ lỗi, vậy căn cứ vào đâu để xác định mức độ lỗi cho từng bên? Với trường

hợp lỗi là của người bị thiệt hại, Điều 617 cũng quy định rất rõ ràng: “Nếu thiệt hại

xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường” Tuy nhiên, thế nào là người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi và lỗi ở đây là lỗi

cố ý hay vô ý Có thể đưa ra một số vấn đề sau khi xác định lỗi của người bị thiệt hại:

Nếu người bị thiệt hại có lỗi hoàn toàn trong việc để thiệt hại xảy ra thì dù là

lỗi cố ý hay vô ý mà người gây ra thiệt hại không có lỗi thì người gây thiệt hại

không phải bồi thường

Nếu người gây thiệt hại có lỗi vô ý và người bị thiệt hại có lỗi cố ý trong việc

để xảy ra thiệt hại thì người gây ra thiệt hại cũng không phải bồi thường

Như vậy, việc pháp luật quy định về lỗi thuộc hoàn toàn người bị thiệt hại đã loại trừ khả năng chịu trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại Do đó người gây thiệt hại muốn giải thoát trách nhiệm bồi thường thì phải chứng minh mình không có lỗi hoặc lỗi thuộc về người bị thiệt hại (Điều 606 Bộ luật dân sự 2005)

Ngoài ra, khi xác định lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ta không chỉ xác định mỗi chủ thể có lỗi trực tiếp gây ra thiệt hại mà còn quan tâm đến việc xác định trách nhiệm của người không trực tiếp gây ra thiệt hại để quy định trách nhiệm

Trang 17

bồi thường cho họ Đó là trường hợp lỗi của người giám hộ, lỗi của pháp nhân trước hành vi trái pháp luật do người của pháp nhân gây ra

1.3.Phân biệt trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và trách nhiệm dân sự theo hợp đồng

Theo quy định của pháp luật dân sự thì trách nhiệm dân sự được chia làm hai loại là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và trách nhệm dân sự theo hợp đồng Trách nhệm dân sự theo hợp đồng là trách nhiệm phát sinh do một bên đã không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ mà các bên đã cam kết trong hợp đồng Điều cơ bản nhất để hình thành nên loại trách nhiệm này là giữa các bên phải có quan hệ hợp đồng, hợp đồng đó phải có hiệu lực và thiệt hại xảy ra do hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng

Tuy hai loại trách nhiệm này có những điểm giống nhau nhất định vì đều là trách nhiệm dân sự nhưng giữa chúng vẫn tồn tai những điểm khác nhau cơ bản như:

Về cơ sở phát sinh: trách nhệm dân sự theo hợp đồng chỉ phát sinh khi tồn tại quan hệ hợp đồng, do hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy

đủ nghĩa vụ của hợp đồng Trong khi đó trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phát sinh từ một hành vi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại cho người khác, hành vi đó không liên quan đến bất kỳ một quan hệ hợp đồng nào giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại

Trong trách nhệm dân sự theo hợp đồng thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường những thiệt hại trực tiếp hay những thiệt hại có thể tiên liệu trước khi ký hợp đồng Còn trong trách nhệm dân sự ngoài hợp đồng thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại kể cả thiệt hại trực tiếp hay thiệt hại gián tiếp

Việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ giữa các bên, còn việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chưa chắc đã làm chấm dứt nghĩa vụ của người gây thiệt hại

Về lỗi: Trong trách nhệm dân sự theo hợp đồng trách nhiệm chỉ phát sinh do lỗi của người không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ hợp đồng trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Còn trong trách nhệm dân sự ngoài hợp đồng kể cả khi không có lỗi vẫn phải bồi thường thiêt hại theo quy định của pháp luật

Về chủ thể: Trong trách nhệm dân sự theo hợp đồng, chủ thể là các bên tham gia ký kết hợp đồng, còn trong trách nhệm dân sự ngoài hợp đồng là người có hành

vi trái pháp luật và người giám hộ, người đại diện

Trang 18

Khi so sánh hai loại trách nhiệm này, ta cần phân biệt rõ thời điểm phát sinh trách nhiệm giữa hai loại trách nhiệm này để xác định đâu là trường hợp bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và đâu là trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trường hợp bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì trách nhiệm phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực và có bên vi phạm nghĩa vụ Còn trong trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trách nhiệm từ thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại Ta cũng cần phải lưu ý là không phải giữa các bên có quan hệ hợp đồng thì mọi thiệt hại gây ra đều dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và ngược lại khi các bên không có quan hệ hợp đồng thì thiệt hại xảy ra sẽ dẫn đến trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng

1.4.Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

1.4.1.Khái niệm cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Khi có thiệt hại xảy ra thì bên cạnh việc xác định mức độ thiệt hại, các điều kiện cấu thành trách nhiệm của người gây thiệt hại thì việc xác định rõ ai là người phải đứng ra gánh vác và chịu trách nhiệm bồi thường để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại là một vấn đề quan trọng Cơ quan tòa án có thẩm quyền khi nhận được đơn kiện có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại cũng phải hết sức thận trọng trong vấn đề này

Hiểu một cách chung và khái quát nhất thì ai gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường Tuy nhiên, điều kiện để trở thành một chủ thể tham gia vào một quan hệ pháp luật thì người đó phải có đầy đủ năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật Trong thực tế có rất nhiều hành vi gây thiệt hại cho người khác và hành

vi gây thiệt hại này cũng có thể là của bất kỳ cá nhân nào, kể cả những người không

đủ, không có hoặc bị hạn chế năng lực tham gia vào các quan hệ pháp luật Khi một người đã gây ra thiệt hại cho người khác thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh Nhưng nếu người gây ra thiệt hại lại không có năng lực tham gia vào quan hệ pháp luật bồi thường thiệt hại thì ai sẽ là người có trách nhiệm bồi thường để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại

Như vây, khi thiệt hại xảy ra cần phải xác định rõ trách nhiệm bồi thường thuộc về ai Đây là một vấn đề rất quan trọng, bởi nếu không xác định được người bồi thường thì quyền lợi của người bị thiệt hại không được đảm bảo Chính vì vậy vấn đề cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra

Vậy, cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việc xác

định người có trách nhiêm bồi thường thiệt hại chính trong từng trường hợp gây thiệt hại cụ thể bất luận người đó có phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại hay không

Trang 19

Việc cá thể hóa trách nhiệm có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nó sẽ giúp cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại dễ dàng hơn, xác định đúng người có trách nhiệm bồi thường sẽ tạo tính khả khi cho công tác thi hành án sau này; cá thể hóa trách nhiệm để xác định trách nhiệm thuộc về ai giảm bớt nguy cơ lạm dụng việc mất năng lực hoặc không đầy đủ khả năng nhận thức của người khác mà kích động họ gây thiệt hại bất chính, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người có nghĩa vụ trông nom, giáo dục những người không có năng lực hành vi hoặc có năng lực hành vi một phần

1.4.2 Điều kiện để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Để trở thành chủ thể của một quan hệ pháp luật dân sự thì người tham gia cần đáp ứng điều kiện về năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là một quan hệ pháp luật dân sự do vậy để trở thành chủ thể của quan hệ này người tham gia cần có đầy đủ những điều kiện về năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung Do đặc thù riêng của quan hệ pháp luật này mà người tham gia cần có thêm một số điều kiện nhất định

Khi một chủ thể phải chịu trách nhiềm bồi thường thiệt hại nghĩa là chủ thể

đó đang tham gia vào một quan hệ pháp luật, do vậy chủ thể đó cần có đầy đủ năng lực chủ thể để tham gia vào một quan hệ pháp luật, đó là độ tuổi và nhận thức (năng lực hành vi).Trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhiều khi người thực hiện trách nhiệm bồi thường lại không phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại

mà họ phải thực hiện trách nhiệm bồi thường do lỗi của mình trong việc quản lý để xảy ra thiệt hại Do vậy, mối quan hệ pháp lý giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường cũng là điều kiện để quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của chủ thể

Như vậy, để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho một chủ thể cần đáp ứng các điều kiện sau:

- Thứ nhất là độ tuổi: Khi một chủ thể tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại nghĩa là chủ thể đó đang tham gia vào một quan hệ pháp luật Và để tham gia vào quan hệ này chủ thể cần đáp ứng các yêu cầu về năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật Theo quy định của pháp luật năng lực chủ thể được cấu thành từ hai yếu tố là năng lực hành vi và năng lực pháp luật Khoản 3 Điều 14 Bộ luật dân sự

2005 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra

và chấm dứt khi người đó chết đi” Theo quy định này, năng lực pháp luật dân sự của mỗi cá nhân luôn tồn tại trong suốt cuộc đời, nghĩa là họ luôn có khả năng có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, năng lực hành vi dân sự thì ngược lại

Trang 20

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ hình thành khi đáp ứng các điều kiện nhất định về độ tuổi và nhận thức Mặt khác, năng lực hành vi dân sự lại được chia thành các mức khác nhau, phụ thuộc vào độ tuổi mỗi cá nhân Điều 19 Bộ luật dân sự quy

định: “ Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy

định tại Điều 22, Điều 23 của Bộ luật này” Điều 18 cũng quy định: “Người từ đủ

18 tuổi trở lên là người thành niên” Như vậy, người từ 18 tuổi trở lên là người có

năng lực hành vi dân sự đầy đủ, được tham gia vào các quan hệ dân sự, và tự mình gánh vác mọi nghĩa vụ dân sự

Việc quy định độ tuổi là điều kiện để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hoàn toàn chính xác và hợp lý Độ tuổi là yếu tố đáp ứng điều kiện tự mình gánh vác mọi nghĩa vụ dân sự, bao gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Từ những phân tích trên có thể khảng định rằng độ tuổi là điều kiện không thể thiếu khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho bất kỳ chủ thể nào Độ tuổi góp phần vào việc quyết định người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong từng trường hợp

- Thứ hai là nhận thức: Bên cạnh độ tuổi, khả năng nhận thức cũng là một yếu tố tạo nên năng lực hành vi dân sự cho chủ thể Khi phân tích về khả năng nhận thức của chủ thể ta thấy giữa khả năng nhận thức và độ tuổi có mối quan hệ với nhau Chúng đều là yếu tố hình thành nên năng lực hành vi dân sự nhưng khả năng nhận thức của con người lại phụ thuộc vào độ tuổi Con người chỉ có khả năng nhận thức đầy đủ khi đạt đến độ tuổi nhất định, khi chưa đạt đến độ tuổi này thì con người hoặc chưa có khả năng nhận thức hoặc khả năng nhận thức còn hạn chế Cũng có trường hợp, người không có khả năng nhận thức nhưng không phải do chưa đạt đến độ tuổi nhất định mà do họ bị “mất” khả năng nhận thức của mình

“Mất” có thể được hiểu là một sự vật, hiện tượng đang tồn tại nhưng sau đó sự vật, hiện tượng đó không còn nữa Nếu một người đang có khả năng nhận thức nhưng lại bị mất đi thì nguyên nhân có thể là do họ bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác dẫn đến hậu không thể nhận thức và làm chủ bản thân Do vậy họ bị mất đi năng lực hành vi, năng lực chủ thể để tham gia vào các quan hệ xã hội

Như vậy, để tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định thì chủ thể phải có đầy đủ ý chí cũng như lý trí để điều khiển hành vi của mình, phải nhận thức được những gì mà mình đang làm và hậu quả của nó Không có nhận thức đồng nghĩa với việc họ không biết mình đang làm gì và sẽ có hậu quả gì xảy ra từ việc làm đó Việc quy định nhận thức là điều kiện để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là rất cần thiết Người chịu trách nhiệm chính trong quan hệ bồi thường

Trang 21

thiệt hại ngoài hợp đồng có thể là người gây ra thiệt hại hoặc có thể không phải là người gây ra thiệt hại Việc thực hiện bồi thường ảnh hưởng đến chính quyền lợi của họ nên họ phải nhận thức được việc mình đang làm và trách nhiệm bồi thường

sẽ không đặt ra với người không có khả năng nhận thức

- Thứ ba là mối quan hệ pháp lý giữa người gây ra thiệt hại và người phải bồi thường:

Thông thường khi đạt độ tuổi do luật định và có khả năng nhận thức thì một chủ thể hoàn toàn có thể tham gia vào một quan hệ pháp luật, mà cụ thể ở đây là quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Khi có đầy đủ năng lực chủ thể thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Mối quan hệ giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường được đặt ra

để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại để giải quyết các tình huống người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường Việc xem xét mối quan hệ pháp lý giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường nhằm xác định đúng người đại diện cho người gây thiệt hại để thực hiện nghĩa vụ Họ phải thực hiện việc bồi thường dù

họ không gây thiệt hại nhưng họ có lỗi trong việc quản lý, trông nom, giáo dục người gây thệt hại Nếu họ thực hiện đúng công việc của mình thì thiệt hại đã không xảy ra

Mối quan hệ pháp lý giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường ở đây có thể là mối quan hệ người chưa thành niên dưới 15 tuổi với cha mẹ; giữa người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự với người giám hộ, với trường học, bệnh viện, với tổ chức khác

Việc xác định đúng mối quan hệ pháp lý giữa người gây ra thiệt hại và người phải bồi thường là để tránh việc xác định nhầm trách nhiệm bồi thường của người

có trách nhiệm, chỉ những người có trách nhiệm quản lý nhưng không thực hiện đúng trách nhiệm của mình để thiệt hại xảy ra thì mới phải bồi thường

1.5 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam qua từng giai đoạn

1.5.1 Giai đoạn trước năm 1959

* Theo pháp luật phong kiến:

Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định phát triển sớm nhất ở Việt Nam Pháp luật từ thời phong kiến cũng có những quy định về vấn đề này Ở đây chúng ta chỉ xem xét năng lực bồi thường trong hai bộ luật tiêu biểu của thời kỳ phong kiến là Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long Để phù hợp với quan hệ lập pháp thời đó, các quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng

Trang 22

luật hình, nhằm thiết lập một trật tự xã hội theo những chuẩn mực hà khắc có lợi cho sự thống trị của nhà nước phong kiến, giữa luật dân sự và luật hình sự chưa có

sự phân chia rõ ràng Do đó, trong các quy định về hành vi tội phạm và hình phạt lẫn các quy định về dân sự đều bao gồm cả các quy định về bồi thường do thiệt hại

Trong Bộ luật Hồng Đức ghi nhận những quy định về bồi thường thiệt hại

cùng với chế tài hình sự, ví dụ Điều 435: “Những kẻ thừa cơ lúc có trộm, cướp,

cháy, lụt mà lấy trộm của cải của người ta, mà hay là giữa ban ngày mà đoạt lấy tiền tài của một người, cũng là lấy của đánh rơi, mà lại đánh lại người mất của, thì cũng phải tội như tôi ăn trộm thường mà giảm một bậc Lột lấy những quần áo và

đồ vật của trẻ con, người điên, người say thì phải tội đồ và bồi thường gấp đôi” Và

còn rất nhiều quy định khác quy định về việc bồi thường như Điều 436 quy định về việc dọa nạt nguời để lấy của, Điều 438 quy định về việc lấy trộm đồ của sứ thần nước ngoài hay Điều 455 lại có dự liệu phong phú về việc đánh trộm ao cá nhà người khác Ngoài ra, đối với tổn thất về tinh thần Bộ luật Hồng Đức cũng có quy định rõ về việc bồi thường thiệt hại, như Điều 472 quy định về trường hợp kẻ dưới đánh quan lại, quan lại đánh lẫn nhau thì khi một người đánh quan chức bị thương, ngoài việc phải chịu phạt, phải đền bù thương tổn còn phải đền tiền tạ Giống như vậy, Điều 473 quy định khả năng kẻ dưới mắng nhiếc quan lại, quan lại mắng nhiếc nhau không chỉ đưa ra hình phạt còn phải đền tiền tạ Các quy định trên đều xác định rõ trách nhiệm của một người về hành vi vi phạm của chính bản thân

Trong một số trường hợp đặc biệt, Bộ luật Hồng Đức còn xác định một người phải chịu trách nhiệm bồi thường cho hành vi của người khác, đó là trong trường hợp cha phải chịu trách nhiệm thay con, chủ phải chịu trách nhiệm thay đầy tớ Theo Điều 457 người cha phải chịu trách nhiệm về hành vi của con cái còn ở chung,

dù đã trưởng thành hay chưa, mà phạm tội trộm cắp Theo đó, người cha là trụ cột trong nhà mà lại không giáo dục, răn dạy con cái thì phải chịu tội thay cho con cái:

“Các con còn ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thị cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay con những tang vât ăn trộm, ăn cướp Nếu con đã ở riêng, thì cha bị xử phạt hay biếm; cha đã báo quan thì không phải tội; nhưng đã báo quan rồi mà vẫn để con ở nhà thì cũng

xử như chưa báo” Việc quy định người cha phải bồi thường cho con ngay cả khi

người con đã trưởng thành là một điểm khác biệt hoàn toàn giữa Bộ luật Hồng Đức với luật hiện đại Bộ luật dân sự 2005 quy định người đã thành niên phải tự chịu trách nhiệm trước thiệt hại do mình gây ra Và việc người cha báo quan thì sẽ không phải chịu tội vậy không phải chịu tội thì người cha có phải bồi thường không? Nếu người cha không phải bồi thường thì ai là người chịu trách nhiệm bồi thường?

Trang 23

Tương tự vậy, Điều 456 cũng thể hiện rõ vai trò của người chủ đối với đầy

tớ Nếu người chủ không trông coi, dạy dỗ đầy tớ cẩn thận để đầy tớ gây tổn thất

cho người khác thì người chủ phải chịu trách nhiệm thay cho đầy tớ “ Đầy tớ đi ăn

trộm mà chủ nhà không báo quan, thì thay xứ đồ làm chủng điền binh và đều phải bồi thường thay cho tang vật ăn trộm hay ăn cướp Nếu chủ giấu giếm nhận của ăn trộm ăn cướp thì phải đồng tội Đã báo quan mà sau lại bao dung những đầy tớ ăn trộm ăn cướp ấy, thì xử như tội biết mà không trình”

Từ việc phân tích những quy định trên, ta thấy Luật Hồng Đức đã dự định trước những trường hợp quy định về năng lực bồi thường đặc biệt là người có trách nhiệm đứng ra đại diện cho người mà mình có trách nhiệm quản lý gây thiệt hại Đây chính là điểm tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức, nhưng có vẻ như quy định về việc bồi thường thay cho người mà mình quản lý vẫn xuất phát từ đạo đức phong kiến chứ không phải do năng lực chủ thể của người gây ra thiệt hại

Khác với Luật Hồng Đức, trong Luật Gia Long vấn đề tiền bồi thường lại không được nhắc đến Trong Luật Gia Long chỉ có quy định về tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân trong trường hợp phạm tội giết người Luật Gia Long quy định chế tài do gây thương tật cho người khác khá tỉ mỉ các hình phạt nhưng đó chỉ là chế tài về hình sự chứ không thấy đề cập đến trách nhiệm bồi thường như Điều 466 Luật Hồng Đức: “ luật nói: sưng, phù thì phải đền tiền thương tổn 3 tiền, chảy máu thì một quan; gãy một ngón tay, một răng thì đền 10 quan; đâm chém bị thương thì đền 15 quan ” Điều 271 Luật Gia Long chỉ dự liệu bồi thường thiệt hại trong các trường hợp nặng như gãy tay chân, làm hỏng mắt, hỏng bộ phận trong cơ thể thì ngoài những chế tài hình sự còn phải đền tiền cho người bị thiệt hại nuôi thân

* Thời kỳ Pháp thuộc

Đây là thời kỳ phát triển mới của pháp luật dân sự Việt Nam vì trong thời gian này ta đã có bộ luật riêng dù còn chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật chính quốc mà cụ thể là bộ Dân luật của Cộng hòa Pháp Trong thời kỳ này, nước ta tồn tai hai bộ dân luật, đó là Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Dân luật Trung Kỳ 1936 Cả hai

bộ luật này đều có những quy định về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân Đặc biệt, hai bộ luật này còn quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha

mẹ do con cái thực hiện, về trách nhiệm của người thợ cả và về trách nhiệm của người dạy học

Thứ nhất, về trường hợp cha mẹ bồi thường thay con cái: pháp luật quy định rằng người cha người mẹ phải chịu trách nhiệm về những tổn hại mà người con gây

ra Nhưng việc cha mẹ có trách nhiệm bồi thường thay cho con cần phải đáp ứng các điều kiện sau: con còn vị thành niên, nếu người con đã trưởng thành thì các điều

Ngày đăng: 30/09/2016, 13:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Công an Nhân dân
12. Nguyễn Văn Cương – Chu Thị Hoa, “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số, 04, tr. 61 – 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp số
14. Phùng Trung Tập, “Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Tạp chí Tòa án nhân dân, 10, tr. 2 – 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
15. Phùng Trung Tập, “Yếu tố lỗi trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Tạp chí luật học, 05, tr.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố lỗi trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, "Tạp chí luật học
16. Nguyễn Minh Tuấn, “ Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi”, Tạp chí luật học, 03, tr. 53- 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi”, "Tạp chí luật học
2. Bộ Dân luật Trung kỳ 1936 Khác
3. Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 Khác
4. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995, Nxb. Chính trị quốc gia Khác
5. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Nxb. Lao động Khác
6. Bộ luật Lao động 2013, Nxb. Lao động Khác
8. Hiến Pháp 2013, Nxb. Chính trị quốc gia Khác
9. Hoàng Việt luật lệ, Nxb. Văn hóa thông tin Khác
10. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2013, Nxb. Chính trị quốc gia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w