Tình hình nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự trong thời gian qua, đã có một số công tr
Trang 2NGUYỄN VĂN HIỂU
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM TRONG QUÁ TRÌNH
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS MAI HỒNG QUỲ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 3Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiêm cứu của cá nhân tác giả, không hề sao chép từ luận văn của tác giả khác Tác giả chịu trách nhiệm danh dự
về công trình nghiên cứu của mình
Trang 4PLTTGQCVAKT Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCTCLĐ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 6
1.1 Khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự 6
1.1.1 Tòa án phúc thẩm trong tố tụng dân sự 6
1.1.2 Vụ án dân sự 6
1.1.3 Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự 8
1.2 Đặc trưng pháp lý của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự 10
1.2.1 Tính quyền lực nhà nước 10
1.2.2 Do Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành 11
1.2.3 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 11
1.2.4 Xem xét lại tính hợp pháp và có tính căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị 12
1.2.5 Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử vụ án dân sự 12
1.2.6 Giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị 13
1.3 Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự 14
1.4 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước 15
1.4.1 Theo pháp luật của Liên bang Nga 15
1.4.2 Theo pháp luật của Cộng hòa Pháp 17
1.4.3 Theo pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức 19
1.5 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự 20
1.5.1 Thu thập chứng cứ thông qua biện pháp yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu của Tòa án cấp phúc thẩm trong giải quyết vụ án dân sự 21
1.5.2 Thu thập chứng cứ thông qua biện pháp lấy lời khai của đương sự, người làm chứng của Tòa án cấp phúc thẩm 25
1.5.3 Thu thập chứng cứ thông qua biện pháp định giá tài sản, thẩm định giá tài sản của Tòa án cấp phúc thẩm 28
1.5.4 Thu thập chứng cứ thông qua biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp phúc thẩm 32
Trang 6Kết luận chương 1 35
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ……… 38
2.1 Về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án 38
2.1.1 Thực tiễn thực hiện trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án 38
2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm thu thập chứng cứ 46
2.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm thu thập chứng cứ của Thẩm phán 47
2.2.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm thu thập chứng cứ của Thẩm phán 47
2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm thu thập chứng cứ của Thẩm phán 49
2.3 Cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ, tài liệu không thực hiện yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án 51
2.3.1 Thực tiễn thực hiện yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án ………51
2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm cung cấp chứng cứ 54
2.4 Về thu thập chứng cứ thông qua định giá tài sản, thẩm định giá tài sản của Tòa án phúc thẩm 55
2.4.1 Thực tiễn hoạt động thu thập chứng cứ thông qua định giá tài sản, thẩm định giá tài sản của Tòa án phúc thẩm 56
2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu thập chứng cứ thông qua định giá tài sản, thẩm định giá tài sản của Tòa án phúc thẩm 57
Kết luận chương 2 58
KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thủ tục tố tụng dân sự, chứng cứ có một vai trò quan trọng trong việc chứng minh và giải quyết vụ án dân sự Chứng cứ có thể do các đương sự thu thập
và giao nộp cho Tòa án, nhưng pháp luật cũng quy định cho Tòa án có quyền thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định Trong thực tế, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm rất quan trọng trong việc chuẩn bị để xử xử phúc thẩm Những chứng cứ do các bên đương sự cung cấp và những chứng cứ do Tòa
án cấp sơ thẩm thu thập trong nhiều trường hợp còn chưa đầy đủ, thiếu sót, chưa có
cơ sở vững chắc để phán quyết về vụ án Có những tình tiết của vụ án cần phải được Tòa án phúc thẩm thu thập thêm chứng cứ cần thiết để xác định, giải quyết vụ án được đúng đắn Việc thu thập chứng cứ của các đương sự trong nhiều trường hợp còn gặp những trở ngại khách quan Vì vậy, hoạt động thu thập chứng của Tòa án là một nguồn bổ sung chứng cứ mang tính khách quan, đầy đủ và toàn diện để giải quyết vụ án được nhanh chóng Tuy nhiên, trong thời gian qua, những quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm còn nhiều bất cập, phần nào đã làm hạn chế kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án
Để góp phần nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm, làm rõ những vướng mắc, bất cập của pháp luật, từ đó góp phần kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm Vì những lý do nêu trên, tác giả
chọn đề tài “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự” làm luận văn Thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu, bài báo, bài viết có liên quan về vấn đề hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án như:
* Các công trình nghiên cứu:
- “Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” – Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Vũ Trọng Hiếu (1998); “Chế định chứng
minh trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn
Thị Minh Hằng (2007) Các công trình này, tác giả nghiên cứu khái niệm chứng cứ
và hoạt động chứng minh trong Tố tụng dân sự Việt Nam Đây là những công trình khoa học được các tác giả nghiên cứu một cách công phu, nhưng có giới hạn là nghiên cứu trong thời điểm Bộ luật Tố tụng dân sự chưa được sử đổi bổ sung
Trang 8- “Hoạt động thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận văn
Thạc sĩ Luật học của tác giả Hà Thái Thơ (2013), tại công trình này tác giả nghiên cứu quy định pháp luật về thu thập chứng cứ của Tố tụng dân sự Việt Nam
- “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Trương Việt Hồng
(2014), công trình này tác giả nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong Tố tụng dân sự nhưng chỉ dùng trong Tòa án cấp sơ thẩm
* Các bài viết:
“Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Hằng và Lê Thị
Hồng Nhung trong Nghề luật Học viện Tư pháp số 04 tháng 7/2014, trang 29 – 33;
“Một số ý kiến về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án trong Tố tụng dân sự”
– Tác giả Hà Thái Thơ trong Nghề luật Học viện Tư pháp số 05 tháng 10/2013,
trang 19 – 21; “Nguyên tắc hai cấp xét xử và áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ
chức Tòa án các cấp” của tác giả Trần Văn Độ trong Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật (5/2007), trang 1; “ Một số vấn đề về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự 2004” của tác giả Phan Vũ Linh trong Tạp
chí Tòa án nhân dân số 05 năm 2011, trang 4 – 8; “ Phân tích số lượng và chất
lượng giải quyết xét xử các loại án của ngành Tòa án nhân dân” của tác giả
Nguyễn Quang Lộc trong Tạp chí Tòa án nhân dân số 11 năm 2009, trang 6 – 9;
“Hoàn thiện các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật tố
tụng dân sự ăm 2004” của tác giả Đoàn Đức Lương trong Tạp chí Tòa án nhân dân
số 04 năm 2011, trang 6 – 9; “ Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử” – Nhà
xuất bản hành chính quốc gia Hà Nội (2009) của tác giả Tưởng Duy Lượng; “Tiếp cận công lý và các nguyên lý của Nhà nước pháp quyền” – Tạp chí khoa học, Đại
học quốc gia Hà Nội (2009) của tác giả Vũ Công Giao;“Chế định chứng cứ và
chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 02
năm 2004 của tác giả Nguyễn Công Bình; “Một vài suy nghĩ về chứng cứ trong Bộ
luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án số 20, 21 năm 2004 của tác giả Tưởng Duy
Lượng Phần lớn các bài viết này tác giả cũng nghiên cứu những quy định về thu thập chứng cứ và chứng minh trong Tố tụng dân sự Việt Nam chứ không riêng chủ thể Tòa án phúc thẩm
Những công trình, bài viết trên giải quyết nhiều khía cạnh về chứng minh và chứng cứ nhưng chưa đề cập sâu đến đề tài mà tác giả nghiên cứu Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên cũng là nguồn tham khảo quan trọng để tác giả có thể hoàn thành tốt phần nghiên cứu của mình Luận văn của tác giả sẽ đi sâu phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp phúc thẩm và so sánh một số quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật một số
Trang 9nước, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá những hạn chế của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật và đưa ra giải pháp hoàn thiện
3 Mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm hướng đến các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong Tố tụng dân sự Thông qua việc đánh giá, phân tích các vấn đề mang tính chất lý luận và thực tiễn về hoạt động thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự, đề xuất phương hướng hoàn thiện về chế định này trước yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
- Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chú trọng nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và nghiên cứu, so sánh với pháp luật một số nước Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, đề tài tập trung nghiên cứu những quy định cụ thể về hoạt động thu thập chứng cứ của đối tượng chủ thể là Tòa án và ở cấp giải quyết vụ án là cấp phúc thẩm Đó chính là những căn cứ pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở cấp phúc thẩm của Tòa án nhân dân
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Thủ tục giải quyết trong tố tụng dân sự gồm có vụ án dân sự và việc dân sự Trong thủ tục giải quyết việc dân sự, không có sự tranh chấp giữa các đương sự, tính chất đối lập trong tố tụng giữa các bên không được thể hiện rõ ràng, hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể không quá phức tạp Do đó, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng không rõ nét bằng
vụ án dân sự Vì vậy, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là chỉ nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm đối với vụ án dân sự, không nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ trong cả quá trình tố tụng giải quyết vụ án tại Tòa án và cũng không nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm
Về phạm vi không gian và thời gian, tác giả nghiên cứu đề tài này dựa trên
cơ sở thực tiễn của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2014, do bản thân tác giả vừa học vừa làm không có điều kiện tiếp cận ở các địa bàn khác
4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của Luận văn được dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược cải cách tư pháp Cụ thể trong từng chương, phương pháp nghiên cứu được vận dụng như sau:
Chương 1: Chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích, so sánh Phương pháp phân tích được sử dụng trong phân tích khái niệm, đặc trưng pháp lý và các biện pháp trong hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm, dựa vào các văn bản
Trang 10pháp luật như: Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011; Bộ luật dân
sự 2005; Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và năm 2014; Luật thi hành án dân sự năm 2008 và năm 2014 Phương pháp so sánh được áp dụng để so sánh với pháp luật nước ngoài trong quá trình thu thập chứng cứ như: Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998); Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga (2005); Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa Liên bang Đức; Bộ luật tố tụng dân sự Nhật Bản (1998) Sử dụng hai phương pháp phân tích, so sánh nhằm làm rõ hơn trong việc phân tích khái niệm Tòa án cấp phúc thẩm và sự khác nhau với Tòa án cấp sơ thẩm như các bài viết của tác giả Trần Văn Độ (2008) phân tích khái niệm Tòa án phúc thẩm là giai đoạn xem xét lại vụ án; Lê Thu Hà (2006) phân tích làm rõ khái niệm vụ án dân sự
Chương 2: Ngoài hai phương pháp phân tích, so sánh, tác giả còn vận dụng thêm phương pháp tổng hợp các công trình nghiên cứu và các bài viết như Luận văn
Thạc sĩ Luật học của tác giả Vũ Trọng Hiền “Chứng cứ và hoạt động chứng minh
trong tố tụng dân sự Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị
Minh Hằng (2007) “Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam”; Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Hà Thái Thơ (2013) “Hoạt động thu thập chứng
cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam”; Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Trương
Việt Hồng (2014) “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự” Bằng phương pháp phân tích, tác giả phân tích quy
định của pháp luật hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm trong xét xử vụ án thời gian 5 năm vừa qua Trên cơ sở thực tiễn, tác giả đưa vào phân tích những bất cập tồn tại của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định về căn cứ để Tòa án thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Trên cơ sở phân tích những bất cập, vướng mắc, tác giả đề ra một số kiến nghị nhằm khắc phục bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm Phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp kết quả nghiên cứu khái quát những kết quả nghiên cứu, phương pháp phân tích và tổng hợp được thực hiện xuyên suốt quá trình nghiên cứu trong luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
- Về lý luận: Luận văn này góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân
sự Luận văn góp phần làm rõ những khái niệm, thuật ngữ, cơ sở pháp lý của việc quy định các căn cứ quy định hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm
- Về thực tiễn: Luận văn nghiên cứu khả năng vận dụng vào thực tiễn của những quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, góp phần làm rõ những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định về thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân Kết quả
Trang 11nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho những người tiến hành tố tụng nói chung và thẩm phán, kiểm sát viên nói riêng Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những độc giả có quan tâm và sinh viên các trường Đại học Luật hay các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có chuyên ngành Luật
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài kết cấu thành 2 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm
trong tố tụng dân sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm
trong việc giải quyết vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
CỦA TOÀ ÁN PHÚC THẨM TRONG QUÁ TRÌNH
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
1.1.1 Tòa án phúc thẩm trong tố tụng dân sự
Khái niệm phúc thẩm gắn liền với khái niệm về cấp xét xử Cấp xét xử “là giai đoạn xem xét vụ án tại Toà án với thẩm quyền xác định”1 Tuy nhiên, cấp xét
xử không chỉ đơn thuần là khái niệm tố tụng nói chung, mà “cấp xét xử là hình thức
tổ chức tố tụng thể hiện quan điểm của Nhà nước về xét xử các vụ án nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan trong phán quyết của Toà án, bảo vệ các quyền tự
do dân chủ của công dân”2 Cấp xét xử khác với thủ tục xét xử Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng, còn thủ tục xét xử là những quy định cần tuân thủ để thực hiện việc xét xử theo từng cấp Chính vì quan niệm về cấp xét xử như trên, ngày nay hầu hết quốc gia có nền luật pháp tiến bộ đều áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử các vụ
án, dù hình sự hay dân sự Để thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, hệ thống Toà án phải được tổ chức theo mô hình phù hợp Tuy nhiên, dù tổ chức hệ thống Toà án theo mô hình nào thì cũng bảo đảm có Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm
Về bản chất phúc thẩm là lần xét xử thứ hai đối với một vụ án, được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm Đây là nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử mà hệ thống Tòa án của Việt Nam cũng như những nước trên thế giới áp dụng nhằm đảm bảo tính thận trọng cho các phán quyết nhân danh nhà nước
Khái niệm về phúc thẩm chưa được đề cập chính thức trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên, qua khái niệm cấp xét xử và xét xử phúc thẩm, chúng
ta có thể hiểu được khái niệm phúc thẩm trong tố tụng dân sự Theo đó, phúc thẩm dân sự là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
1.1.2 Vụ án dân sự
Đối với khái niệm VADS, trước đây trong các Tòa án dưới thời Pháp thuộc (trước năm 1945) những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được chia làm hai loại là việc hình và việc hộ Theo đó, Sắc lệnh số 13-SL, ngày 24/01/1946
về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán chỉ rõ việc hộ bao gồm “các việc về dân sự
Trang 13và thương sự” (Điều 3, Điều 17) Tại Điều 9 Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 về
cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã sử dụng thuật ngữ “việc kiện dân sự” Theo quy định này, thuật ngữ “việc kiện dân sự” cũng có thể được gọi là “vụ kiện
dân sự” để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu được Tòa án giải quyết Từ
“việc” và “vụ” trong trường hợp này là tương đồng, có thể dùng là “việc kiện”
hoặc “vụ kiện” mà không dùng “vụ việc kiện” 3 Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Điều 1
Luật tổ chức TAND 1960 quy định: “TAND xét xử những vụ án hình sự và dân
sự…” Từ những quy định này, thuật ngữ “vụ án” chính thức được sử dụng trong
các văn bản pháp luật Tiếp theo đó, Thông tư số 01-UB ngày 03/3/1969 của TANDTC hướng dẫn việc viết bản án sơ thẩm và phúc thẩm hình sự và dân sự, Thông tư 01/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục giám đốc thẩm và Thông tư 02/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục tái thẩm cũng sử dụng nhiều lần thuật ngữ “vụ
án” Trong giai đoạn này các thuật ngữ: “việc kiện dân sự”, “tranh chấp dân sự”,
“vụ án dân sự” là những thuật ngữ cùng đồng thời được sử dụng để chỉ những loại
việc thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của TAND Chỉ đến khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS được ban hành ngày 29/11/1989, các loại việc thuộc
thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án mới sử dụng thống nhất thuật ngữ “vụ án
dân sự”
Khi BLTTDS ra đời, khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế khái niệm VADS
Điều 1 BLTTDS quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong
TTDS; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là VADS) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết VADS, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án…” Với quy định này, đối tượng được giải quyết theo thủ tục
TTDS là vụ việc dân sự, gồm VADS và việc dân sự
Như vậy, khi BLTTDS ra đời, lần đầu tiên khái niệm VADS được khái quát
bao gồm các “tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
thuẫn giữa các bên đương sự, trong đó có một bên yêu cầu Tòa án buộc bên kia phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật nêu trên
1.1.3 Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
Trang 14Toà án muốn giải quyết đúng đắn vụ án dân sự thì trước hết cần phải có trong tay những giấy tờ, tài liệu hoặc thông tin có đủ độ tin cậy để xác định sự thật khách quan của vụ việc Để những tài liệu hoặc thông tin mà Toà án thu thập được
có giá trị chứng minh, phản ánh trung thực sự việc thì việc thu thập những tài liệu, thông tin này phải tuân theo trình tự nghiêm ngặt mà pháp luật quy định nhằm đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp của chứng cứ
Việc luận giải và làm rõ về hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong tố tụng dân sự phải được bắt đầu từ chứng cứ Do vậy, trước tiên ta cần phải làm rõ bản chất của chứng cứ với tư cách là đối tượng của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
Theo nghĩa thông thường thì “Chứng cứ là những cái cụ thể như lời nói, việc làm, vật làm chứng, tài liệu tỏ rõ điều đó có thật nhất”5 Chứng cứ với vai trò là nền tảng cơ bản để giải quyết các vụ việc dân sự, là yếu tố cốt lõi của quá trình chứng minh, do vậy trong quy định của Pháp luật Tố tụng dân sự của từng quốc gia, khái niệm chứng cứ luôn giữ một vị trí quan trọng Theo BLTTDS Nhật Bản thì “Chứng
cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Toà án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Toà án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không”6 Trong Điều 401 Luật Chứng cứ Mỹ quy định: “Chứng cứ là những gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thật nào mà bản thân sự hàm chứa
đó ảnh hưởng tới việc xác định một hành động hơn hoặc kém hơn” Khái niệm chứng cứ cũng được thể hiện tại Điều 55 BLTTDS Liên Bang Nga Theo đó,
“Chứng cứ trong vụ án dân sự là những gì được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà Toà án căn cứ vào đó để xác định có hay không có các tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của các bên cũng như các tình tiết khác có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án”7
Theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi năm 2011đã mô tả rõ hơn về tính hợp pháp và giá trị chứng minh của chứng cứ, theo Điều 81 quy định: “Chứng
cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục
do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”
Như vậy, có thể thấy khái niệm chứng cứ trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản và Hoa Kỳ đều gặp nhau ở một điểm chung trong quy phạm định nghĩa: Chứng cứ là cơ sở, căn cứ để Tòa giải quyết vụ án, các thuộc tính của chứng
cứ được thể hiện tương đối đầy đủ trong nội hàm của khái niệm
5
Từ điển giải thích thuât ngữ luật học Trường Đại học Hà Nội, NXB Công an nhân dân (1999), tr.186
6 Bộ Tư pháp Việt nghiên cứu và đào tạo: Luật Tố tụng dân sự Nhật Bản (1998), tr.453, 454
7 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga 2002 NXB Tư pháp, tr.79,80
Trang 15Khái niệm về chứng cứ trong BLTTDS Liên Bang Nga có sự gần gũi, tương đồng với khái niệm chứng cứ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành
Theo quy định pháp luật Việt Nam, các tài liệu do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án tự tiến hành thu thập chỉ đươc coi là chứng cứ khi đảm bảo được tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp
Trong đó, tính khách quan của chứng cứ được hiểu là chứng cứ phải hình thành và tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, từ đó làm cơ sở cho việc khẳng định tồn tại hay không tồn tại những sự kiện
có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc dân sự Tính liên quan làm cơ sở cho việc khẳng định sự tồn tại của những sự kiện có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc dân
sự, đảm bảo các sự kiện, tình tiết được coi là chứng cứ khi nó chứa đựng những nội dung gắn liền với việc giải quyết vụ án
Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ những thông tin thực tế phải được thu thập từ nguồn hợp pháp và theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định Đây là các thuộc tính cơ bản mà chủ thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ cần phải chú trọng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
Như vậy, khi thụ lý giải quyết vụ án dân sự, Toà án phải làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến vụ việc dân sự, để thực hiện được điều này Toà án phải nghiên cứu những chứng cứ khác nhau do đương sự cung cấp cũng như những chứng cứ tự mình thu thập được như lời khai của đương sự, những người làm chứng, kết luận giám định, các tài liệu khác có liên quan được sử dụng làm phương tiện chứng minh để xác định những tình tiết của vụ việc
Có thể nhận thấy rằng, Toà án là cơ quan bảo vệ công lý, có trách nhiệm chủ yếu trong việc xác định sự thật khách quan và ra phán quyết giải quyết vụ việc nên pháp luật cần ghi nhận một phạm vi rộng các biện pháp thu thập chứng cứ mà Toà
án có thể tiến hành và lựa chọn tuỳ theo từng vụ việc dân sự Tuy nhiên, để chống lại sự tham quyền của Toà án, tránh việc làm thái quá gây tổn hại đến quyền của đương sự, nhà lập pháp cũng có quy định rạch ròi và giới hạn các biện pháp thu thập chứng cứ mà Toà án có thể áp dụng cũng như những trình tự, thủ tục mà Toà
án phải tuân thủ khi tiến hành thu thập
Thông thường thì các biện pháp mà Toà án có thể áp dụng để thu thập chứng
cứ gồm có: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất; trưng cầu giám định; quyết định định giá tài sản; yêu cầu thẩm định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; uỷ thác thu nhập, xác minh tài liệu chứng cứ; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự Tuỳ trường hợp cụ thể, toà án có thể áp dụng môt hoặc nhiều biện pháp đó để thu thập chứng cứ
Trang 16Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về hoạt động thu thập chứng
cứ trong tố tụng dân sự như sau: “Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân
sự là hành vi pháp lý, mà nghĩa vụ thực hiện thuộc về các bên đương sự Thông qua việc phát hiện, thu giữ, bảo quản, tập hợp các chứng cứ tạo cơ sở cho việc khởi kiện hoặc phản đối yêu cầu của đương sự, và ra phán quyết của Toà án theo quy định của pháp luật Toà án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu”
1.2 Đặc trưng pháp lý của hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
1.2.1 Tính quyền lực nhà nước
Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể tố tụng khác như: đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Bởi hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể trên là nhằm thu thập các chứng cứ cung cấp cho Toà án phúc thẩm để chứng minh cho yêu cầu tố tụng của mình hay phản bác yêu cầu tố tụng của đối phương Các hoạt động thu thập chứng cứ này không mang tính quyền lực nhà nước như hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm
Tính quyền lực nhà nước được thể hiện ở chỗ biện pháp thu thập chứng cứ
mà Toà án phúc thẩm tiến hành có tính ràng buộc trách nhiệm với các chủ thể liên quan, ví dụ như: đương sự, người làm chứng có nghĩa vụ phải có mặt theo triệu tập lấy lời khai của Toà án phúc thẩm, cơ quan hữu quan phải phối hợp với Toà án phúc thẩm trong việc tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ; cử người tham gia Hội đồng định giá; Toà án nhận được uỷ thác có trách nhiệm thực hiện công việc uỷ thác thu thập chứng cứ trong thời hạn luật định; các chủ thể đang quản lý, lưu giữ chứng cứ phải thực hiện yêu cầu cung cấp chứng cứ của Toà án phúc thẩm đúng thời hạn và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi vi phạm của mình…
1.2.2 Do Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành
Có thể nhận thấy, trong bất kể một vụ án nào thì việc thu thập chứng cứ của Toà án cũng là cần thiết nhưng tuỳ thuộc vào đặc thù của từng loại vụ án mà vai trò này của Toà án nhiều hay ít Bộ luật tố tụng dân sự được xây dựng trên tinh thần
“việc sự cốt ở đôi bên”, quyền, nghĩa vụ và điều kiện của các bên là ngang nhau nên nghĩa vụ chứng minh là của đương sự, Toà án chỉ thu thập chứng cứ trong một số trường hợp luật định Trong những trường hợp quy định cụ thể, hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm trong vụ án dân sự do Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành, thực chất là hoạt động nghiệp vụ do Hội đồng xét xử thực hiện
Đây cũng là đặc trưng cơ bản để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể khác trong tố tụng dân sự như đương sự, người đại diện, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và Viện kiểm sát Đồng thời cũng khác với ở Tòa án cấp sơ thẩm là do Thẩm phán tiến hành
Trang 171.2.3 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Khi tham gia tố tụng, nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh trước tiên thuộc về đương sự Hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm chỉ mang tính hỗ trợ cho đương sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ sở, quyết định của Toà án phúc thẩm, chỉ tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ khi thấy cần thiết tùy thuộc từng trường hợp theo luật định
Trong nhiều vụ án dân sự cấp sơ thẩm, khả năng tự bảo vệ của đương sự yếu, đương sự không không có khả năng tự thu thập được chứng cứ, nếu đợi chứng cứ
do đương sự giao nộp, cung cấp thì vụ việc sẽ kéo dài mà không có hướng giải quyết, dẫn đến tình trạng án tồn, án quá hạn, án bị huỷ hoặc sửa Chính vì vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm lúc này nhằm giúp đỡ, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự
Ví dụ: Trong vụ việc hôn nhân gia đình, nếu các đương sự thoả thuận được
về mối quan hệ, hoặc nếu không thoả thuận được nhưng đương sự đã xuất trình đầy
đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, nộp bản khai có nội dung đầy đủ, rõ ràng thì Toà án phúc thẩm không phải tiến hành thu thập chứng cứ nữa
mà chỉ căn cứ vào các chứng cứ đương sự cung cấp, đánh giá chứng cứ và ra quyết định, bản án theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, cũng trong vụ việc hôn nhân gia đình, nếu có tranh chấp xảy ra, các đương sự không thống nhất về việc giải quyết một vấn đề nào đó mà lại không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình thì Toà án phúc thẩm phải tiến hành nhiều biện pháp thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án như tiến hành lấy lời khai của đương sự, xác minh, đối chất, định giá tài sản…, từ đó mới có căn cứ để giải quyết vụ án dân sự
1.2.4 Xem xét lại tính hợp pháp và có tính căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
Như đã phân tích ở trên thì một trong những thuộc tính cơ bản của chứng cứ
là tính hợp pháp Theo đó, những thông tin thực tế về vụ việc dân sự phải được Hội đồng xét xử thu thập từ các nguồn hợp pháp và theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Đặc điểm này nhằm đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ, tránh sự lạm quyền hay tuỳ tiện của Hội đồng xét xử, ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến đương sự
Các bản án, quyết định sơ thẩm cần phải được Hội đồng xét xử xem xét một cách thận trọng, chặt chẽ về tính hợp pháp và tính có căn cứ; vừa đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan của các chứng cứ do Toà án thu thập và sử dụng để các phán quyết của Toà án có được sức thuyết phục cao; vừa thể hiện tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật
Những chứng cứ trong các bản án, quyết định sơ thẩm sẽ mất giá trị nếu trong quá trình thu thập có sự vi phạm quy định của pháp luật Chẳng hạn, khi hội đồng Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án thì cần
Trang 18phải có người làm chứng chứng kiến và ký tên vào biên bản ghi lời khai, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản; nếu thiếu người làm chứng hoặc không có xác nhận thì biên bản đó không có giá trị về mặt pháp lý và không được coi là chứng cứ vì vi phạm thủ tục thu thập chứng cứ Với cách quy định chặt chẽ về thủ tục thu thập chứng cứ như trên sẽ hạn chế được việc lập khống các biên bản lấy lời khai hoặc giả mạo chứng
cứ, đồng thời tránh được phản bác của đương sự đối lập về tính hợp pháp của tài liệu, chứng cứ
1.2.5 Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử vụ án dân sự
Thông thường, Toà án phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Trong đó, Toà án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra việc tuân thủ pháp luật khi xét xử của Toà án cấp dưới mà còn kiểm tra tính đúng đắn, tính hợp pháp và có tính căn cứ của bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm Toà
án cấp phúc thẩm sẽ xác định rõ nội dung tranh chấp, sự việc liên quan, kiểm tra xác minh chứng cứ có đầy đủ, chính xác không, thẩm tra xem pháp luật liên quan được áp dụng có tính đúng đắn không để tòa án cấp phúc thẩm đưa ra phán quyết
Tuy nhiên, Toà án cấp phúc thẩm không bị ràng buộc, hạn chế bởi những nội dung kháng cáo hoặc kháng nghị, mà có thể kiểm tra những vấn đề không có liên quan đến kháng cáo kháng nghị, kiểm tra đối với tất cả các đương sự, kể cả những người không kháng cáo và không bị kháng nghị
Như vậy, khi xét xử Toà án cấp phúc thẩm phải xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị trước, sau đó nếu thấy cần thiết mới xem xét các phần không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng có liên quan đến các phần kháng cáo kháng nghị để làm sáng tỏ vụ án Đặc trưng này nhằm bảo đảm công bằng cho các đương sự, nhấn mạnh và khẳng định vai trò bảo vệ công lý của Tòa án phúc thẩm
1.2.6 Giải quyết yêu cầu kháng cáo kháng nghị
Phạm vi xét xử phúc thẩm chủ yếu phải căn cứ vào nội dung kháng cáo, kháng nghị Điều này nhấn mạnh đến việc toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét đến phần của bản án, quyết định có kháng cáo, kháng nghị mà không nhấn mạnh đến việc xem xét toàn diện vụ án Phạm vi xét xử phúc thẩm có ý nghĩa quyết định đến nội dung và giới hạn của bản án phúc thẩm Căn cứ vào nội dung kháng cáo, kháng nghị, toà án cấp phúc thẩm sẽ ra bản án, quyết định về nội dung mà đương sự kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có thẩm quyền xem xét lại những nội dung của bản án, quyết định không thuộc phần kháng cáo, kháng nghị nếu xét thấy cần thiết
Phúc thẩm là xét xử lại vụ việc đã được toà án cấp sơ thẩm xét xử hoặc quyết định trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm, tức là những gì mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm đã xét xử và quyết định thì toà án cấp phúc thẩm mới xét xử và quyết
Trang 19định Đây là vấn đề tưởng như đơn giản, nhưng thực tiễn xét xử không ít trường hợp toà án phúc thẩm đã vượt quá thẩm quyền xét xử và quyết định cả những vấn đề mà toà án cấp sơ thẩm chưa xét xử và quyết định Tuy nhiên, cần chú ý thực tiễn có những trường hợp những vấn đề trong vụ án được toà án cấp sơ thẩm xét xử nhưng lại không quyết định, nên sau khi xét xử sơ thẩm, nếu có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm không được lấy lý do toà án cấp sơ thẩm chưa giải quyết để
từ chối xét xử
Toà án cấp phúc thẩm chỉ xét xử lại vụ việc trong trường hợp bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu luật pháp luật Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc xác định bản án hoặc quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hay chưa không phải là dễ Bởi hầu hết những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là những bản án hoặc quyết định sơ thẩm còn trong thời hạn kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
1.3 Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
“Các vị Thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý”8 Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án và trên cơ sở hồ
sơ này để giải quyết vụ án Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ cũng chính là quá trình xây dựng hồ sơ vụ án dân sự Ngoài việc phải đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự khách quan, công bằng, đúng pháp luật, Thẩm phán còn có trách nhiệm giải quyết vụ án đúng thời hạn Thẩm phán trực là người tiếp xúc trực tiếp với chứng cứ
và các đương sự trong vụ án dân sự, bằng sự hiểu biết pháp luật cũng như nghiệp vụ của mình Thẩm phán hiểu rõ những vấn đề khúc mắc trong vụ án, từ đó xác định được phương hướng, vấn đề cần chứng minh, yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh hoặc tự thu thập chứng cứ chứng minh Do vậy hiệu quả chứng minh sẽ cao hơn, tránh tình trạng thu thập chứng cứ tràn lan, không có trọng tâm dẫn đến chứng cứ thu thập được không có giá trị chứng minh
Mặt khác, lý luận về chứng cứ cũng cho thấy, Toà án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ, chính xác và đúng đắn pháp luật hay không Để giải quyết đúng đắn vụ án dân sự thì Toà án phúc thẩm phải xác định xem trong vụ án dân sự phải chứng minh, làm rõ những sự kiện, tình tiết nào, các chứng cứ, tài liệu đương
sự và những người tham gia tố tụng cung cấp có đủ để giải quyết vụ án dân sự hay chưa
8
Theo Điều 47 Sắc lệnh số 13 Cách tổ chức ngạch Toà án và ngạch Thẩm phán
Trang 20Nước ta có đặc thù là nước có nền kinh tế đang phát triển, mặt bằng về kinh
tế của người dân nói chung còn thấp, hiểu biết và sự tiếp cận pháp luật chưa cao nên nếu đương sự tự mình thu thập toàn bộ chứng cứ thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt đối với những chứng cứ, tài liệu do cơ quan nhà nước quản lý Đối với đương
sự ở những vùng nông thôn và miền núi thì điều này càng trở nên phức tạp bởi họ không có điều kiện mời luật sư để bảo vệ quyền lợi cho mình, khi có tranh chấp dân
sự xảy ra, họ không biết phải có các chứng cứ, tài liệu gì để bảo vệ quyền lợi của mình, tìm kiếm các chứng cứ đó ở đâu, để cung cấp cho Toà án, quyền và lợi ích hợp pháp của họ thường bị ảnh hưởng Trong khi đó, điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam chưa cho phép chúng ta quy định việc tham gia tố tụng của luật
sư là bắt buộc, nên nếu quy định nghĩa vụ thu thập chứng cứ hoàn toàn thuộc về đương sự có thể dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng thu thập chứng cứ
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm trong vụ án dân
sự có vai trò hỗ trợ và giúp đương sự trong việc định hướng các nguồn chứng cứ; thu thập những chứng cứ mà đương sự không có khả năng thu thập Đương sự có quyền yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ khi có căn cứ chứng minh mình không thể
tự thu thập được như yêu cầu Toà án phúc thẩm thu thập chứng cứ Căn cứ theo yêu cầu của đương sự Toà án phúc thẩm ra các quyết định như trưng cầu giám định, định giá tài sản, yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ…
Toà án Việt Nam ngoài nhiệm vụ xét xử những vụ án dân sự theo quy định của pháp luật thì trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Hơn nữa, đặc thù của tố tụng dân sự là quyền của bên này thường tương ứng với nghĩa vụ của bên kia, lợi ích của các bên đương
sự thường đối lập nhau, dẫn đến trường hợp bên nguyên đơn cung cấp chứng cứ gây bất lợi cho bị đơn và ngược lại, hành vi này sẽ làm sai lệch một vụ án nếu Toà án không công tâm, không có các biện pháp thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ chính xác Chính vì vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án còn giữ vai trò bảo vệ lẽ phải, thực hiện vai trò là cơ quan bảo vệ công lý
1.4 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước
Qua nghiên cứu, so sánh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước, tác giả nhận thấy khả năng và điều kiện của mình có giới hạn, do đó tác giả chỉ tập trung nghiên cứu, so sánh pháp luật tố tụng dân sự của một số quốc gia như: pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga, pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, pháp luật tố tụng dân sự Cộng hòa Liên bang Đức Bởi vì, hệ thống pháp luật tố tụng dân
Trang 21sự của các quốc gia này có cùng nguyên tắc tố tụng, tranh tụng, xét xử tương tự như pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam
1.1.1 Theo pháp luật của Liên bang Nga
Bộ luật Tố tụng dân sự của Liên bang Nga được Quốc hội (Duma) thông qua ngày 23/10/2002 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2003 (sau đây gọi là Bộ luật
tố tụng dân sự Liên bang Nga) Bộ luật này được ban hành để thay thế Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga năm 19649 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên bang Nga có cơ cấu hoàn chỉnh với 7 phần, 47 chương, 446 điều Sau một thời gian dài áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1964 của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, các nhà lập pháp Liên bang Nga đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng kết và đưa ra nhiều cải tiến phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn lịch sử mới Ngoài sự thay đổi về số lượng như trong cơ cấu của Bộ luật thể hiện, phải nói đến
sự thay đổi về chất lượng, những nội dung mới được bổ sung hoàn toàn hoặc sửa đổi phân lớn Đó là những quy định về thủ tục rút gọn, quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận văn bản qui phạm pháp luật không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần, qui định về thủ tục giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền tham gia trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga, quy định về thủ tục nhận con nuôi, quy định
về hạn chế hoặc tước quyền của người chưa thành niên từ 14- 18 tuổi trong việc tự định đoạt thu nhập của mình, quy định về tuyên bố người chưa thành niên có năng lực hành vi đầy đủ, bổ sung một số điểm về thủ tục ở cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm
và thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án…
Theo bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga trong trường hợp đương sự đã dùng mọi biện pháp mà không thu thập chứng cứ được thì Toà án có thể giúp các đương sự thu thập chứng cứ bằng cách yêu cầu các cá nhân cơ quan tổ chức đang lưu giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ cho đương sự với điều kiện đương sự phải cung cấp đúng tên của cá nhân cơ quan, tổ chức và địa điểm lưu giữ chứng cứ cần thu thập
Về chứng cứ và chứng minh, được quy định tại chương VI, có 33 điều, từ điều
55 đến điều 87, quy định về chứng cứ và chứng minh, cụ thể như nghĩa vụ chứng minh, các loại chứng cứ, thủ tục nhập, bảo toàn, đánh giá chứng cứ… Theo quy
định về chứng cứ của Bộ luật tố tụng dân sự 2003, “Chứng cứ được thu thập nhưng
vi phạm pháp luật không có giá trị pháp lý và không thể được sử dụng làm căn cứ
để giải quyết vụ án"10 Tòa án tại nước Nga giữ vai trò tiếp nhận, xem xét, đánh giá
chứng cứ “Tòa án quyết định những tình tiết nào có ý nghĩa đối với vụ án, bên nào
Trang 22phải có nghĩa vụ chứng minh những tình tiết nào đó và những tình tiết nào phải đưa
ra tranh luận, xem xét mặc dù các bên có thẻ không viện dẫn đến chúng”11
Về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án tại nước Nga, cũng tương đồng với những qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2003 của Liên bang Nga qui định “Tòa án có quyền yêu cầu những người tham
tuy nhiên cũng chỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong những trường hợp mà
đương sự không thể tự mình thu thập dược, cụ thể là “Trong những trường hợp
những người tham gia tố tụng gặp khó khăn trong việc xuất trình chứng cứ, theo yêu cầu của họ, Tòa án có thể giúp đỡ trong việc thu thập và yêu cầu cung cấp chứng cứ”13
Những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga cũng khá phong phú, và có nhiều biện pháp tương tự như thủ tục tố tụng dân sự của Việt Nam, chẳng hạn như: Xem xét và nghiên cứu
chứng cứ tại chổ: “Tòa án có thể xem xét và nghiên cứu thư chứng hoặc vật chứng
tại nơi bảo quản hoặc nơi lưu giữ chứng cứ nếu giao, nộp chúng tại Tòa án gặp khó
hợp chứng cứ cần thu thập nằm ở những thành phố khác hoặc quận khác, Tòa án
giám định: “Trong trường hợp phát sinh vấn đề cần kiến thức chuyên môn trong
lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, thủ công thì Tòa án trưng cầu giám định Việc giám định có thể do cơ quan giám định tư pháp, một hoặc nhiều người giám định khác
cụ thể hơn so với tố tụng dân sự Việt Nam như quy định về bảo toàn chứng cứ:
“Trong trường hợp có lý do cho rằng chứng cứ khó bảo toàn, những người tham
định về xem xét và nghiên cứu ngay tại nơi lưu giữu hoặc nơi Tòa án quyết định, sau đó vật chứng được trả lại cho người xuất trình hoặc chuyển cho tổ chức để sử dụng vật chứng theo đúng mục đích, và trong trường hợp này người nắm giữ vật chứng được hoàn trả vật chứng cùng loại, cùng chất lượng hoặc nhận lại giá trị bằng tiền tương đương giá trị vật chứng”18 Những qui định trên cho thấy, pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga có nhiều nét tương tự với pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam, nhưng có nhiều quy định chi tiết và phong phú hơn
Trang 23Trong Bộ luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga quy định cụ thể chế tài xử phạt đối với những trường hợp người được yêu cầu cung cấp chứng cứ không cung cấp chứng mà không có lý do chính đáng Theo quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga thì “những người có chức vụ hoặc công dân không có khả năng cung cấp chứng cứ do Toà án yêu cầu hoặc không thể cung cấp chứng cứ trong thời hạn Toà án ấn định có nghĩa vụ trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu phải thông báo cho Toà án việc đó và phải nêu rõ lý do Trong trường hợp không thông báo cho Tòa án hoặc không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có
lý do chính đáng thì những người có chức vụ bị phạt tiền đến mức 10 lần lương tối thiểu, công dân bị phạt tiền đến mức 5 lần lương tối thiểu, nếu không phải là người tham gia tố tụng”19
1.4.2 Theo pháp luật của Cộng hòa Pháp
Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hoà Pháp quy định vai trò của Toà án trong việc thu thập chứng cứ là rất lớn Điều 10, mục 4, chương 1, thiên I, quyển thứ nhất quy định: “Thẩm phán có quyền tự mình quyết định tất cả các biện pháp thẩm cứu mà pháp luật cho phép” Điều 27 chương 2, thiên I, quyển thứ nhất cũng quy định “ Thẩm phán tự mình tiến hành tất cả những biện pháp thẩm cứu cần thiết, Thẩm phán có quyền nghe lời trình bày của những người có thể làm sáng tỏ vụ việc cũng như những người có quyền lợi liên quan bởi quyết định của thẩm phán mà không bị
lệ thuộc vào bất kì thể thức nào”
Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hoà Pháp còn quy định thẩm phán có quyền điều tra và dành 1 mục riêng với 27 điều quy định cụ thể về hoạt động này Qua nghiên cứu cho thấy hoạt động tố tụng theo Bộ luật dân sự pháp, Thẩm phán được quyền chủ động trong hoạt động thu thập chứng cứ để chứng minh, phục vụ cho việc giải quyết vụ án Pháp luật cũng có chế tài đối với việc các bên không thực hiện nghĩa
vụ giúp đỡ Toà án thu thập chứng cứ Điều 11, mục 4, chương 1, thiên I, quy định
“các bên đương sự có nghĩa vụ giúp đỡ Thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ”
Trong tố tụng dân sự Pháp, Tòa án (mà chủ yếu là Thẩm phán) cũng có những thẩm quyền rất rộng trong hoạt động thu thập chứng cứ khi tiến hành giải quyết vụ
án “Thẩm phán có quyền tự mình quyết định tất cả các biện pháp thẩm cứu mà
pháp luật cho phép”20 ; hoặc “Thẩm phán tiến hành điều tra có thể tự mình hoặc
theo yêu cầu của đương sự, lấy lời khai của bất kỳ người nào xét thấy cần thiết để xác định rõ sự thật”21
Trang 24Đối với chứng cứ do bên đương sự khác quản lý, thì luật qui định cho Thẩm
phán được quyền yêu cầu họ cung cấp: “Nếu một bên đương sự đang nắm giữ một
yếu tố cấu thành chứng cứ thì theo yêu cầu của bên kia, Thẩm phán có thể ra lệnh cho họ cung cấp yếu tố cấu thành chứng cứ đó, trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế”22 Trong trường hợp chứng cứ do người
thứ ba quản lý, Thẩm phán cũng có quyền: “Theo đề nghị của một trong các bên
đương sự, Thẩm phán có thể yêu cầu hoặc quyết định buộc người thứ ba đang nắm giữ những tài liệu liên quan phải xuất trình tất cả các tài liệu, nếu không có trở ngại chính đáng Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế”23 Và “Trong quá trình tố tụng, một bên đương sự dựa vào một công
chứng thư hoặc tư chứng thư mà họ không tham gia hoặc một tài liệu do người thứ
ba đang giữ, họ có thể yêu cầu Thẩm phán thụ lý vụ kiện ra lệnh cấp cho họ tài liệu hoặc bản sao tài liệu ấy”24
Dù cho có thẩm quyền thu thập chứng cứ rộng rãi, nhưng cũng tương tự như
Tố tụng dân sự Việt Nam hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Pháp cũng chỉ mang tính chất hổ trợ trong những trường hợp đương sự không thể tự mình cung
cấp chứng cứ, chứ không thể thay thế nghĩa vụ của các bên đương sự Tòa án “chỉ
được quyết định tiến hành biện pháp thẩm cứu đối với một sự việc mà bên đương sự nêu ra nhưng không có đầy đủ các yếu tố cần thiết để chứng minh sự việc đó Không một trường hợp nào được ra lệnh thực hiện biện pháp thẩm cứu để thay thế
sự thiếu trách nhiệm của đương sự trong việc quản lý chứng cứ”25
Về thể thức tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng
dân sự Pháp cũng có những quy định rất linh động cho Thẩm phán như: “Thẩm
phán tự mình tiến hành tất cả những biện pháp thẩm cứu cần thiết Thẩm phán có quyền nghe lời trình bày của những người có thể làm sáng tỏ vụ việc cũng như những người có quyền lợi liên quan bởi quyết định của Thẩm phán mà không lệ
phán sẽ ra lệnh cấp bản chính, bản sao hoặc trích tài liệu được yêu cầu tùy từng trường hợp và với những bảo đảm do Thẩm phán ấn định, nếu không tuân theo có thể sẽ bị phạt tiền cưỡng chế thi hành nếu cần”27
Như vậy, chúng ta thấy rằng, trong tố tụng dân sự của cộng hòa Pháp, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng có điểm tương đồng với pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam như là chỉ thực hiện khi đương sự không tự mình thu thập chứng cứ được Tuy nhiên, luật quy định cho Tòa án có thẩm quyền rộng hơn qui
Trang 25định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong hoạt động thu thập chứng cứ về thẩm quyền, phạm vị thu thập và cả thủ tục thu thập chứng cứ Ngoài nguồn pháp luật hành văn, án lệ của Tòa án Pháp cũng là nguồn bổ sung phong phú cho tố tụng dân sự trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Pháp trong quá trình Thẩm phán giải quyết vụ kiện dân sự
Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hoà Pháp quy định, nếu trong bên đương sự nắm giữ một yếu tố cấu thành chứng cứ thể theo yêu cầu bên kia Thẩm phán có thể ra lệnh cho họ cung cấp yếu tố cấu thành chứng cứ đó trong tố tụng cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền cưỡng chế Theo đề nghị của một trong các bên đương sự, Thẩm phán có thể yêu cầu hoặc giả định buộc người thứ ba đang nắm giữ những tài liệu liên quan phải xét trình tất cả các tài liệu nếu không có trở ngại chính đáng Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế như với trường hợp trên28
1.4.3 Theo pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức
Trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Liên bang Đức, việc thu thập chứng
cứ của Tòa án cấp sơ thẩm cũng chỉ được tiến hành trong một số trường hợp hạn
chế Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định “Việc thu thập
chứng cứ được thực hiện trước Tòa án xét xử Chỉ trong các trường hợp cụ thể mà luật này qui định việc thu thập chứng cứ mới được giao cho một thành viên của Tòa
cần có một thủ tục đặc biệt, thì sẽ có một quyết định về chứng cứ”30 Bộ luật tố tụng
dân sự Cộng hòa Liên bang Đức qui định “Tòa án có thể ra một quyết định về
trước khi có thủ tục tranh tụng miệng nếu trong đó qui định: “(1) thu thập chứng cứ
được thực hiện trước Thẩm phán theo ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu (Thẩm phán điều tra); (2) Yêu cầu cơ quan chức năng nhà nước cung cấp thông tin; (3) Yêu cầu có văn bản trả lời câu hỏi về chứng cứ; (4) Trưng cầu kết quả giám
Tòa án Cộng hòa liên bang Đức được giao cho một Thẩm phán của Tòa xét xử (thẩm phán được ủy quyền) hoặc Thẩm phán của Tòa khác (Thẩm phán theo yêu cầu) thực hiện
Thẩm phán được ủy quyền thu thập chứng cứ trong trường hợp như sau: “(1)
Nếu việc thu thập chứng cứ sẽ do một thành viên của Tòa xét xử thực hiện thì Thẩm phán chủ tọa công bố quyết định về chứng cứ sẽ xác định luôn Thẩm phán được bủy quyền và thời gian thu thập chứng cứ; (2) Nếu không có quy định về thời gian, thì
Trang 26thời gian sẽ do Thẩm phán được ủy quyền qui định, nếu Thẩm phán này bị cản trở không thực hiện được công việc được giao, thì Thẩm phán chủ tọa sẽ chỉ định một
Thẩm phán theo yêu cầu, hoạt động thu thập chứng cứ được thực hiện như sau: “(1)
Nếu việc thu thập chứng cứ sẽ do một thành viên của Tòa khác thực hiện, thì Thẩm phán chủ tọa sẽ ra văn bản yêu cầu Thẩm phán này thực hiện thu thập chứng cứ; (2) Thẩm phán được yêu cầu chuyển bản gốc kết quả thu thập chứng cứ đã thực hiện cho bộ phận hồ sơ của Tòa án; bộ phận hồ sơ thông báo cho các đương sự khi nhận được kết quả này” 34
Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức cũng quy định Thẩm phán được ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu có thể chuyển việc thu thập chứng cứ:
“Sau khi có căn cứ cho thấy có những việc thu thập chứng cứ do một Tòa khác thực hiện thì phù hợp, Thẩm phán được ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu có
Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm Cộng hòa Liên bang Đức cũng được thực hiện trong một số trường hợp cần thiết Việc thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ này do Thẩm phán thực hiện, tuy nhiên hoạt động thu thập chứng cứ có phân biệt do Thẩm phán được ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu tiến hành thực hiện
1.5 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được đặt ra trong suốt quá trình thụ
lý và giải quyết vụ án kể cả trong giai đoạn phúc thẩm, nhằm tập hợp đầy đủ những chứng cứ cần thiết để phán quyết về vụ án Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được thực hiện thông qua Thẩm phán Khi thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải xác định chính xác yêu cầu của các đương sự, từ đó Thẩm phán mới có thể xác định chính xác các quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ
án Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án góp phần quan trọng trong việc bảo đảm chứng cứ của vụ án được đầy đủ, toàn diện Phán quyết của Tòa án dựa trên cơ
sở chứng cứ đã được thu thập đầy đủ, hợp pháp mới bảo đảm khách quan, công bằng cho tất cả các bên đương sự Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được thực hiện trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa sơ thẩm và cả tại phiên tòa phúc thẩm…
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ tiếp nhận chứng cứ do đương sự và các chủ thể khác cung cấp mà Tòa án còn có hoạt động
Trang 27mang tính chủ động trong việc thu thập chứng cứ Tòa án, theo yêu cầu của đương
sự hoặc tự mình áp dụng một số biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật quy định Tùy từng yêu cầu cụ thể của vụ án và chứng cứ cần phải thu thập mà Thẩm phán quyết định việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ phù hợp Pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án cấp phúc thẩm có thể áp dụng các biện pháp sau đây để tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ: (a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; (b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng; (c) Trưng cầu giám định; (d) Quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản; (đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ; (e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; (g) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự36 Để cụ thể hóa hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án quy định trong các biện pháp nêu trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn chi tiết về điều kiện và thủ tục thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân Tuy nhiên, để phát huy quyền và nghĩa vụ của đương sự thông qua việc họ tự thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án, Luật quy định Tòa án thu thập chứng cứ trong những trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được hoặc không có điều kiện thu thập và có yêu cầu Tòa án thu thập
1.5.1 Thu thập chứng cứ thông qua biện pháp yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu của Tòa án cấp phúc thẩm trong giải quyết vụ án dân sự
Quy định về việc Toà án ghi nhận các chứng cứ mà đương sự cung cấp hoặc được yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu thể hiện tại Khoản 1 Điều 85 và Khoản 2 Điều 173 BLTTDS Các đương sự phải tập hợp các tài liệu, chứng cứ mà bản thân mình đang lưu giữ, quản lý và sắp xếp chúng lại theo hệ thống các vấn đề cần chứng minh và giao nộp cho Toà án Nếu các tài liệu, chứng
cứ cần cho việc chứng minh hiện đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nắm giữ, quản lý thì đương sự phải sử dụng các biện pháp để thu thập chứng cứ và giao nộp
Toà án trước hết sẽ thu thập chứng cứ thông qua việc ghi nhận các chứng cứ
mà đương sự cung cấp và lưu vào hồ sơ việc dân sự Ngoài ra, khi thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Toà án có quyền yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ (Khoản 1 Điều 85 BLTTDS sửa đổi) Trong
cả hai trường hợp đương sự chủ động giao nộp chứng cứ hay giao nộp bổ sung chứng cứ theo yêu cầu của Toà án thì cần phải những quy định nghiêm ngặt về thủ tục giao nhận chứng cứ Trước đây, do pháp luật không quy định cụ thể về việc giao nộp chứng cứ, nên khi đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ cho Toà án, các Thẩm phán đưa vào trong hồ sơ vụ án mà không thể hiện rõ ràng tài liệu
36
Khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)
Trang 28đó đến từ đâu, do ai nhận, ai cung cấp…37 gây khó khăn cho việc đánh giá chứng
cứ, không loại trừ việc chứng cứ thất lạc mà không biết
Để khắc phục tình trạng đó, hiện nay BLTTDS sửa đổi quy định việc nhận chứng cứ phải được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về giao nộp chứng
cứ tại Điều 84 BLTTDS sửa đổi Khoản 2, Điều 84 BLTTDS sửa đổi và Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 đã quy định rõ ràng trách nhiệm của Toà án khi tiếp nhận chứng cứ, đó là khi đương sự giao nộp chứng cứ, Toà án phải lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ Trong biên bản phải thể hiện rõ người nộp, người nhận, tên gọi, nội dung, đặc điểm của chứng cứ, số bản, số trang của tài liệu chứa đựng chứng cứ, thời gian nhận, địa điểm nhận, chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và đóng dấu của Toà án Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu hồ sơ vụ việc, một bản giao cho người nộp chứng cứ giữ
Ngoài ra, bên cạnh biện pháp yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu thể hiện tại Khoản 1 Điều 85 BLTTDS sửa đổi thì điểm g Khoản 2 Điều 85 của Bộ luật này còn quy định Toà án có quyền tiến hành biện pháp yêu cầu cá nhân,
cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ Xét về lý luận thì biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ và biện pháp yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu là các biện pháp tuy có những điểm khác biệt nhưng đều có cùng bản chất là Toà án yêu cầu các chủ thể cung cấp chứng cứ, tài liệu và thu nhận những tài liệu này Tuy nhiên, xét về tính chủ động của Toà án thì biện pháp yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu là hoàn toàn do Thẩm phán chủ động tiến hành, còn biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ là biện pháp mà Thẩm phán chỉ thực hiện khi đương sự
đã yêu cầu nhưng không thể thu thập được và yêu cầu sự can thiệp của Toà án nên nhà lập pháp đã tách riêng ra để quy định trong nhóm các biện pháp nghiệp vụ của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ
Tuy nhiên, BLTTDS sửa đổi 2011 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng
về vấn đề thu thập chứng cứ so với BLTTDS 2004 Nếu như Khoản 2 Điều 85 BLTTDS 2004 quy định: “Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ…”38 thì Khoản 2 Điều 85 của BLTTDS sửa đổi
2011 ngoài việc vẫn giữ nguyên những biện pháp thu thập chứng cứ như Khoản 2 Điều 85 BLTTDS 2004, còn bổ sung thêm hai biện pháp thu thập chứng cứ là “yêu cầu thẩm định giá tài sản” và “đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương
sự với người làm chứng”
Ngoài ra, một thay đổi quan trọng nữa là Khoản 2 Điều 85 của BLTTDS sửa đổi 2011 đã bỏ hai điều kiện là “đương sự không tự mình thu thập được chứng cứ
37 Theo Khoản 1 Điều 85 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
38 Theo Khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
Trang 29và có yêu cầu” và quy định “Trong các trường hợp Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ…”
Với cách quy định này, hiện có hai cách hiểu khác nhau: Ý kiến thứ nhất cho rằng, Thẩm phán có quyền chủ động sử dụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 85 của BLTTDS sửa đổi 2011 mà không nhất thiết phải
có đương sự yêu cầu; Ý kiến thứ hai cho rằng, phải căn cứ vào các quy định cụ thể tại các Điều từ 86 đến Điều 94 BLTTDS sửa đổi để xác định trong trường hợp nào thì Toà án phải tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương
sự Theo cá nhân người nghiên cứu thì cách hiểu theo ý kiến thứ hai là phù hợp hơn với tinh thần đã được thể hiện thành nguyên tắc tại Điều 6, Điều 7, Điều 79, Điều
84 và các điều từ Điều 86 đến Điều 94 BLTTDS sửa đổi
Từ Khoản 2 Điều 6 BLTTDS sửa đổi thì “Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu
thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định” 29; Khoản 2 Điều
85 BLTTDS sửa đổi cũng quy định: “Trong trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ…” Theo quy định này thì các Thẩm phán phải căn cứ vào quy định về từng biện pháp thu thập chứng cứ trong BLTTDS để xác định mình có quyền chủ động thu thập chứng cứ hay không
Quy định tại Điều 85 BLTTDS sửa đổi theo hướng Toà án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ tài liệu đồng thời ghi nhận Toà án trực tiếp tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để thu thập chứng cứ là một quy định phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Quy định trên vừa thể hiện được nguyên tắc đương sự có quyền tự định đoạt, vừa thể hiện được trách nhiệm, vai trò của Toà án đối với hoạt động thu thập chứng cứ
Tuy nhiên, quy định về thu thập chứng cứ tại Điều 84 BLTTDS sửa đổi cũng
có hạn chế ở chỗ không nêu rõ hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án diễn ra trong giai đoạn tố tụng nào Chẳng hạn, không có sự quy định rõ ràng là sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử và trước khi mở phiên toà thì Thẩm phán có được tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ bổ sung như ghi bổ sung lời khai của đương sự, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ hay yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ, tài liệu hay không?
Theo tinh thần nội dung hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 về chứng minh và chứng cứ thì hoạt động thu thập chứng cứ do Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm tiến hành (Phần IV và V Nghị quyết)39, còn đối với thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm thì việc giải quyết vụ việc được tiến hành chủ yếu trên hồ sơ của Toà án sơ thẩm, phúc thẩm và chứng cứ tài liệu được giao
39 Theo Khoản 2 Điều 6 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
Trang 30nộp, bổ sung nên tại thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm việc thu thập chứng cứ không còn là một hoạt động cơ bản của Toà án
Ngoài ra, việc pháp luật quy định đối với một số biện pháp thu thập chứng cứ Toà án chỉ tiến hành thu thập khi có yêu cầu của đương sự có thể dẫn tới bất cập là trong nhiều trường hợp Toà án không có đủ chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án nhưng không thể tiến hành các biện pháp thu thập do đương sự không có yêu cầu về vấn đề này Bên cạnh đó, đối với các trường hợp đương sự không tích cực hợp tác với Toà án để giải quyết vụ án, hoặc các đương sự bắt tay nhau, có những thoả thuận trái pháp luật và đạo đức xã hội thì quy định này lại có tác dụng ngược lại và kéo dài thời gian thu thập chứng cứ, cản trở việc giải quyết vụ án
Phần IV Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 về chứng minh và chứng cứ có những hướng dẫn về thủ tục trong trường hợp đương sự có yêu cầu Toà án tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ Theo đó, đương sự có yêu cầu Toà
án tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ phải được thể hiện bằng văn bản (có thể làm bằng văn bản riêng, có thể ghi trong bản khai, có thể ghi trong biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất) Trong trường hợp đương sự trực tiếp đến Toà án yêu cầu thì phải lập biên bản ghi rõ yêu cầu của đương sự Trường hợp yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ (Điều 94 của BLTTDS)40 thì phải làm đơn yêu cầu
Khi đương sự có yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ, Toà án cần phải giải thích cho đương sự biết về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng (tiền tạm ứng chi phí giám định, tiền tạm ứng chi phí định giá…) Toà án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng, nếu thuộc trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng
1.5.2 Thu thập chứng cứ thông qua biện pháp lấy lời khai của đương sự, người làm chứng của Tòa án cấp phúc thẩm
Đây là một trong những biện pháp quan trọng để thu thập chứng cứ Trước đây, khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định Toà án có vai trò chủ động, tích cực trong điều tra, thì việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng là biện pháp mà Toà án thường xuyên phải sử dụng và hầu hết các vụ án dân
sự khi Toà án tiến hành giải quyết, Toà án thường chủ động lấy lời khai của đương
sự Tuy nhiên, theo quy định mới của BLTTDS sửa đổi thì: “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai
40 Theo Điều 94 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
Trang 31chưa đầy đủ, rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Toà án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản Thẩm phán lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án” (Khoản 1 Điều 86 BLTTDS sửa đổi)
Thực tế, trước đây khi chưa có BLTTDS 2004 thì Thẩm phán hoặc cán bộ Toà án có hướng dẫn cho đương sự thực hiện việc tự khai hoặc đương sự trình bày qua đơn BLTTDS 2004 và BLTTDS sửa đổi quy định rõ “Đương sự phải viết bản khai ký tên của mình” Quy định này có ý nghĩa thực tiễn, bảo đảm cung cấp chứng
cứ một cách chính xác, khách quan mà không bị bất cứ một sự ép buộc nào, và giảm bớt một phần công việc cho Toà án Tuy nhiên, để bản tự khai ngắn gọn, có chất lượng thì Thẩm phán cần giải thích các quy định của pháp luật có liên quan đến yêu cầu của đương sự và quan hệ pháp luật phải giải quyết, đồng thời hướng dẫn đương
sự nên khai tập trung vào những vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ việc dân sự Việc viết bản tự khai có thể do đương sự tự viết tay hoặc đánh máy, nếu đánh máy hoặc người khác viết hộ thì phải yêu cầu đương sự ký vào tất cả các trang, các đoạn nào tẩy, xoá thì yêu cầu đương sự phải ghi chú, nói rõ là việc tẩy xoá do chính đương sự làm
Theo quy định tại Điều 86 BLTTDS sửa đổi thì Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai trong các trường hợp đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc đương sự không thể viết được bản tự khai Khi tiến hành lấy lời khai của đương sự Thẩm phán cần tập trung làm rõ những vấn đề làm đương
sự chưa khai hoặc khai chưa rõ ràng, đầy đủ; những mâu thuẫn chính trong bản khai của đương sự hoặc của đương sự này với đương sự khác, giữa bản khai của đương
sự với lời khai của nhân chứng hoặc các tài liệu, chứng cứ có liên quan trong hồ sơ
Trước đây, do Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 chỉ quy định chung là Toà án tiến hành các biện pháp điều tra, nên nhiều Toà án coi việc giao cho Thư ký làm nhiệm vụ lấy lời khai trong các vụ án dân sự Nay Khoản
1 Điều 86 BLTTDS sửa đổi quy định rõ Thẩm phán phải thực hiện việc lấy lời khai chứ không phải Thư ký Toà án Thẩm phán tự mình ghi biên bản lấy lời khai hoặc Thư ký Toà án giúp Thẩm phán ghi lời khai của đương sự vào biên bản
Thông thường, Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tịa trụ sở Toà án, “trong trường hợp cần thiết” mới lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án (Khoản 1 Điều 86 BLTTDS sửa đổi)41 BLTTDS không quy định rõ như thế nào là trường hợp cần thiết nhưng trên thực tiễn thì đó là đương sự mới sinh con, ốm đau, bệnh tật nặng, già yếu, đang bị giam giữ, đương sự ở vùng xa xôi hẻo lánh, vùng rừng núi điều kiện khó khăn hoặc gặp những trở ngại khách quan như lũ lụt, thiên tai Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Toà án thì
41 Theo Khoản 1 Điều 86 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
Trang 32phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 86 BLTTDS sửa đổi thì biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ Đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Toà án; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai42
Theo quy định tại Điều 87 BLTTDS sửa đổi thì việc lấy lời khai của người làm chứng có thể được Tòa án tiến hành theo yêu cầu của đương sự hoặc do Tòa án chủ động tiến hành khi xét thấy cần thiết để làm rõ sự thật của vụ việc dân sự Về cách thức, thủ tục lấy lời khai người làm chứng cũng thực hiện như việc lấy lời khai của đương sự Tuy nhiên, để đảm bảo tính xác thực của việc lấy lời khai Khoản 3 Điều 86 BLTTDS sửa đổi quy định việc lấy lời khai của đương sự là người không
có năng lực hành vi dân sự, người dưới mười lăm tuổi phải có mặt của người đại diện hợp pháp của họ Khoản 3 Điều 86 BLTTDS sửa đổi quy định “Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự phải được tiến hành dưới sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó”43 Việc lấy lời khai người làm chứng còn có một số điểm khác biệt so với việc lấy lời khai của đương sự như sau:
Thẩm phán phải làm rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với đương sự để
có cơ sở nhận xét, đánh giá đúng tính khách quan trong lời khai của người làm chứng
Khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải giải thích cho người làm chứng biết trách nhiệm của họ trong trường hợp họ khai báo không đúng sự thật Người làm chứng phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ của mình, trừ người làm chứng là người chưa thành niên44 Người làm chứng phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật do những lời khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác45
Đối với vụ án có nhiều người làm chứng thì Tòa án chỉ lấy lời khai của những người làm chứng cần thiết đối với việc giải quyết vụ việc dân sự
Khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải tiến hành lấy lời khai riêng của từng người làm chứng, không để cho họ có thể tiếp xúc với nhau hoặc với
42
Theo Khoản 2 Điều 86 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
43
Theo Khoản 3 Điều 87 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
44 Khoản 9 Điều 66 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
45 Khoản 7 Điều 66 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
Trang 33đương sự trong thời gian họ khai báo46 Khi đặt những câu hỏi cho người làm chứng trả lời, Thẩm phán không được đặt các câu hỏi có tính chất gợi ý hay áp đặt
Người làm chứng được từ chối khai báo trong những trường hợp lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư hoặc việc khai báo có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan
hệ thân thích với họ47 Người làm chứng có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng, được khiếu nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng48
Việc lấy lời khai là cách thức thu thập chứng cứ được áp dụng phổ biến nhất trg quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, giúp Tòa án có được chứng cứ sinh động, thực tế Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khi hoạt động này chưa mang lại hiệu quả chứng minh như mong muốn Nguyên nhân là do tính tin cậy của chứng cứ thu được thông qua hoạt động lấy lời khai không được đảm bảo Người được lấy lời khai có thể cung cấp cho Tòa án thông tin chính xác, trung thực, nhưng cũng có thể thông tin đó không chính xác, sai sự thực, từ đó sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá chứng cứ để xác định sự thực khách quan của vụ việc dân sự Tuy nhiên, việc nghiên cứu BLTTDS sửa đổi lại không hề có một quy định nào về hậu quả áp dụng với người được lấy lời khai nhưng không đúng sự thật
1.5.3 Thu thập chứng cứ thông qua biện pháp định giá tài sản, thẩm định giá tài sản của Tòa án cấp phúc thẩm
Định giá tài sản là một biện pháp thu thập chứng cứ rất quan trọng, được thực hiện trong hầu hết các vụ án tranh chấp tài sản, hôn nhân gia đình có tranh chấp về tài sản Tòa án có thể tiến hành định giá tài sản khi có yêu cầu của đương
sự, nhưng trong một số trường hợp luật định thì Tòa án có thể chủ động tiến hành
mà không cần có yêu cầu của đương sự Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp sau đây: “a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; b) Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước”49
Như vây, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 92 BLTTDS sửa đổi thì Tòa án chủ động ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp mà không cần có yêu cầu của đương sự nếu: “Các bên thỏa thuận với nhau hoặc tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước” Đó là trường hợp các bên đương sự thỏa thuận với nhau hoặc thỏa thuận với tổ chức thẩm định giá của tài sản đang tranh chấp, nhưng có căn cứ chứng minh giá mà các đương sự thỏa
46 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NX Công an nhân dân,
tr.160
47
Khoản 3 Điều 66 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
48 Khoản 6 Điều 66 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
49 Khoản 1 Điều 92 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)
Trang 34thuận hoặc mức giá mà tổ chức thẩm định giá đưa ra thấp hơn giá thị trường tại địa phương nơi có tài sản tranh chấp hoặc thấp hơn khung giá do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định đối với tài sản cùng loại nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí
Trường hợp bản án, quyết định bị Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án, quyết định để giao hồ sơ về cho Tòa án sơ thẩm xét xử lại mà thời gian kéo dài, giá cả có nhiều biến động thì việc định giá lại tài sản chỉ được thực hiện khi một hoặc các bên đương sự yêu cầu Do nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế, nên Tòa án cần phải hỏi các đương sự về biên bản định giá
có trong hồ sơ xem họ có ý kiến gì khác về vấn đề này không Họ vẫn giữ biên bản định giá cũ hay yêu cầu định giá lại, lý do của yêu cầu và ghi lại các ý kiến đó vào biên bản Nếu đương sự yêu cầu định giá lại và được chấp nhận thì đương sự phải nộp tạm ứng chi phí định giá Nếu đương sự không yêu cầu định giá lại và đồng ý với kết quả tại biên bản định giá trước đây thì phải ghi rõ các nội dung này thành biên bản
Khi tiến hành định giá, Tòa án phải đưa ra quyết định thành lập hội đồng định giá Hội đồng định giá gồm có Chủ tịch Hội đồng và các thành viên là đại diện
cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan Trên cơ sở xem xét đối tượng cần định giá là loại tài sản nào, có liên quan đến cơ quan chuyên môn nào; ví dụ: Định giá nhà đất thì ngoài đại diện cơ quan tài chính, cần mời cơ quan quản lý nhà đất, cơ quan xây dựng ở địa phương…; tùy theo đối tượng giá mà xác định cụ thể số thành viên cần thiết tham gia Đồng thời nên mời đại diện chính quyền địa phương cấp xã, phường nơi có tài sản định giá chứng kiến việc định giá Trên cơ sở
đó Tòa án có công văn gửi các cơ quan chuyên môn đề nghị cử đại diện tham gia hội đồng định giá Sau khi cơ quan chuyên môn có công văn trả lời về việc cử người định giá, Thẩm phán cần kiểm tra những người được cử có đáp ứng được các yêu cầu cụ thể đã nêu trong công văn, kiểm tra xem có ai là người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, hoặc thuộc trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều
46 Bộ luật này không50 Nếu có người chưa đáp ứng yêu cầu cơ quan đó cử người khác thay thế để việc định giá được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật
Khoản 3 Điều 92 BLTTDS sửa đổi đã bổ sung quy định về trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và chế tài để bảo đảm thực hiện trách nhiệm này Theo đó, “Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia hội đồng định giá; người được cử tham gia Hội đồng định giá không
50 Theo Khoản 1, 2 và 3 Điều 46 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)