1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án từ thực tiễn tại tòa án nhân dân tỉnh bình định (luận văn thạc sỹ luật)

62 43 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 76,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 93 của BLTTDSnăm 2015 quy định: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

VĂN THỊ MINH HÒA

HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

VĂN THỊ MINH HÒA

HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêutrong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được

Trang 3

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ

VĂN THỊ MINH HÒA

Trang 4

TAND Tòa án nhân dân

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

TTDS Tố tụng dân sự

UBND Ủy ban nhân dân

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5

6 Bố cục của luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN 7

1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ 7

1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm 7

1.1.2 Những nguyên tắc cơ bản về hoạt động thu thập chứng cứ 10

1.1.3 Nghĩa vụ chứng minh trong Tố tụng dân sự 10

1.2 Quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án 14

1.2.1 Chủ thể tiến hành thu thập chứng cứ 14

1.2.2 Điều kiện để tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự 17 1.2.3 Các biện pháp thu thập chứng cứ của tòa án cấp sơ thẩm trong Tố tụng dân sự

1.2.4 Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 30

19

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2 NHỮNG VƯỚNG MẮC TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TAND TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 35

2.1 Những vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động thu thập chứng cứ tại TAND tỉnh Bình Định 35

2.1.1 Trường hợp giải quyết vụ án khi thu thập chứng cứ chưa đầy đủ 36

2.1.2 Yêu cầu cung cấp chứng cứ 39

2.1.3 Thời hạn cung cấp chứng cứ 42

2.1.4 Quy định về việc thông báo chứng cứ cho đương sự trong vụ án 43

2.1.5 Quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 45

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án 46 2.2.1 Về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án 46

2.2.2 Về yêu cầu cung cấp chứng cứ 47

2.2.3 Về thời hạn giao nộp chứng cứ 48

2.2.4 Về thông báo chứng cứ của vụ việc giữa các đương sự 49

2.2.5 Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51

KẾT LUẬN 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nhằm thể chế hóa quan điểm cải cách tư pháp của Đảng về nâng cao chấtlượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tưpháp, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã sửa đổi bổ sung nguyên tắc

“bảo đảm tranh tụng trong xét xử” Đây là một trong những nội dung quan trọng củaviệc sửa đổi, bổ sung của BLTTDS, chi phối cả quá trình tố tụng Điều 24 BLTTDS

đã quy định “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúcthẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của BLTTDS” Một trong những hoạtđộng quan trọng bảo đảm cho nguyên tắc tranh tụng được thực thi có hiệu quả đó làhoạt động thu thập chứng cứ và phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khaichứng cứ

Chứng cứ có vai trò quan trọng và là vấn đề trung tâm trong hoạt động tố tụngnói chung và hoạt động tố tụng dân sự nói riêng Để tiếp cận sự thật khách quan vàlàm sáng tỏ nội dung vụ việc dân sự thì phải có chứng cứ Trong một vụ việc dân sự,đương sự muốn chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp hay không hợp phápthì phải cung cấp được chứng cứ, Tòa án muốn giải quyết nhanh chóng, chính xác vụviệc cũng phải có đầy đủ chứng cứ Vì vậy, nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quantrọng của chứng cứ và hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là tiền đề quan trọng,không chỉ đối với Tòa án để thực hiện chức năng xét xử mà còn đối với đương sựtrong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Tuy nhiên qua khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động thu thậpchứng cứ của Tòa án, tác giả nhận thấy vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc áp dụngcác quy định về thu thập chứng cứ của BLTTDS trong thực tiễn Ví dụ như sau khi

có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án có được lấy lời khai đương sự nữa haykhông? Trong trường hợp đương sự cung cấp bổ sung thêm chứng cứ thì Tòa án cóphải tổ chức phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ hay sẽ kiểm tra

Trang 8

trực tiếp tại phiên tòa? Trong quá trình thu thập chứng cứ, nếu đương sự hoặc cơquan tổ chức đang lưu giữ chứng cứ không hợp tác, cố tình gây khó khăn, khôngcung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì BLTTDS cũng chưa quy định tòa án

sẽ có biện pháp nào để giải quyết hiệu quả trong tình huống này Đây là một số vấn

đề bất cập trong hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án và nó cũng là những trởngại lớn trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự trong thực tiễn

Từ thực tế đó, việc nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

trong thời điểm hiện nay rất cần thiết Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định” để

làm đề tài luận văn thạc sĩ với mong muốn qua đó sẽ đối chiếu những điểm chưa phùhợp giữa quy định pháp luật và thực tiễn liên quan đến hoạt động thu thập của Tòa

án để góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quá trình tìm kiếm tài liệu để phục vụ cho đề tài, học viên nhận thấy việcnghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có một số công trình nghiêncứu khoa học có liên quan như:

- Vũ Trọng Hiếu (1998), Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụngdân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Bùi Thị Huyền (2001), Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phántrong TTDS, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Vũ Văn Đông (2007), Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Bộ luật tốtụng dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Nguyễn Minh Hằng (2007), Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự ViệtNam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Hà Thái Thơ (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự ViệtNam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;

- Nguyễn Kim Lượng (2015), Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứtrong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật,Đại học Quốc gia Hà Nội;

Trang 9

- Tạ Đình Tuyên (2016), So sánh Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi

bổ sung năm 2011) và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, NXB Lao Động;

- Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB Tư pháp;

- Nguyễn Công Bình (2005), “Các quy định về chứng minh trong Tố tụng dânsự”, Tạp chí Luật học số 2;

- Nguyễn Văn Cường (2011), “Một số vấn đề đặt ra khi sửa đổi bổ sung Luật

Tố tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 10;

- Đỗ Văn Chỉnh (2013), “Những sửa đổi, bổ sung quan trọng trong Bộ luật Tốtụng dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 21;

- Nguyễn Thị Hồng Nhung (chủ biên) (2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự,NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh;

- Chu Xuân Minh (2017), “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án và phiênhọp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”, Tài liệu tậphuấn nghiệp vụ giải quyết các vụ án dân sự, Học viện Tòa án - Tòa án nhân dân tốicao

Các công trình nói trên đều nghiên cứu về quy định của pháp luật trongBLTTDS nói chung và hoạt động tố tụng của Tòa án nói riêng, ví dụ như Luận văn

về “Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS” của Bùi ThịHuyền nghiên cứu vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩmphán trong tố tụng dân sự, thực trạng pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, từ đó đưa ramột số kiến nghị nhằm hoàn thiện, bảo đảm việc thực hiện pháp luật của Thẩm phán;Luận văn về “Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự củaTòa án cấp sơ thẩm” của Nguyễn Kim Lượng, tác giả đã nghiên cứu có hệ thống cácquy định về hoạt động thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơthẩm từ năm 1945 đến khi có BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, luậnvăn đã nêu được một số vướng mắc thường gặp trong thực tiễn thu thập chứng cứnhư việc định giá, giám định hay ủy thác tư pháp ngoài lãnh thổ Các công trình kháccũng đã nghiên cứu về quy định của pháp luật trong các hoạt động tố tụng của Tòa

Trang 10

án Tuy nhiên chưa có công trình nào so sánh giữa quy định pháp luật với việc ápdụng những quy định đó trong thực tiễn để từ đó tìm ra vướng mắc và định hướnggiải quyết các vướng mắc đó Trong quá trình nghiên cứu việc giải quyết các vụ ándân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm từ thực tiễn của địa phương mình, tác giả phát hiệnđược những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng dân sự trong hoạtđộng thu thập chứng cứ Do vậy luận văn của tác giả sẽ là một đề tài nghiên cứu mới,không có sự trùng lặp với các công trình trước đây

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

BLTTDS năm 2015 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày từ ngày01/7/2016 với nhiều quy định tiến bộ, khắc phục những bất cập lớn của BLTTDStrước đó Tuy nhiên, quy định về chứng cứ và hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa

án để giải quyết các vụ án dân sự hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn nào ngoàiNghị quyết 04/2012-HĐTP ngày 03/12/2012 của TANDTC hướng dẫn thi hành một

số quy định về “chứng minh và chứng cứ” của BLTTDS năm 2004 (đã sửa đổi bổsung năm 2011) mà chưa có văn bản hướng dẫn theo BLTTDS 2015 Vì vậy mà thựctiễn giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án vẫn có sự áp dụng pháp luật không thống nhấtvới nhau trong quá trình thu thập chứng cứ, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ

án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự Khi lựa chọn nội dung này làmluận văn thạc sĩ của mình, tác giả hướng tới mục đích trên cơ sở phân tích quy địnhpháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của các Tòa án cấp sơ thẩm tại địa phương(tỉnh Bình Định) và việc áp dụng các quy định đó vào giải quyết vụ án cụ thể tại Tòa

án để tìm ra những điểm chưa thống nhất của luật nhằm đưa ra được những kiến nghị

cụ thể để xây dựng các văn bản hướng dẫn BLTTDS năm 2015 về hoạt động thuthập chứng cứ, giúp cho Tòa án áp dụng luật một cách thống nhất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự có thể được tiến hành bởingười tham gia tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Trong

đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa áncấp sơ thẩm tại tỉnh Bình Định trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau Dựa trên kết cấu của luận văn được chia làm hai chươngtương ứng hai nội dung của đề tài là: Cơ sở lý luận và quy định của pháp luật về hoạtđộng thu thập chứng cứ; Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động thu thập chứng

cứ của tòa án và kiến nghị hoàn thiện Từng chương sẽ giải quyết dứt điểm một vấn

đề Do vậy, ở mỗi chương tác giả sẽ kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, cụ thể:

Phương pháp phân tích, bao gồm: (i) Phân tích các quy định của pháp luật vàphân tích bản án, quyết định của Tòa án Cụ thể để làm rõ các quy định của phápluật, chỉ ra các quy định còn chưa rõ ràng tác giả sử dụng phương pháp phân tíchđiều luật; (ii) Phương pháp phân tích bản án, quyết định của Tòa án được sử dụngnhằm làm rõ các vấn đề pháp lý trong các bản án, quyết định có liên quan đến đề tàicủa luận văn, đồng thời đánh giá việc áp dụng pháp luật trong các bản án, quyết địnhcủa Tòa án

Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh cho từng nhận địnhcủa tác giả Khi nghiên cứu các nội dung đề tài, tác giả sẽ có những nhận định về cácvấn đề pháp lý, phương pháp chứng minh được sử dụng gồm các lý lẽ, lập luận vàdẫn chứng là các bản án, quyết định của tòa án

Sử dụng phương pháp diễn giải khi trình bày các nội dung của luận văn.Phương pháp tổng hợp (quy nạp) được tác giả sử dụng để rút lại vấn đề, đưa

ra quan điểm cá nhân về từng vấn đề

6 Bố cục của luận văn

Ngoài những phần như: Phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu thamkhảo, luận văn được kết cấu với hai chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và quy định của pháp luật về hoạt động thu thậpchứng cứ

Chương 2: Những vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt độngthu thập chứng cứ tại TAND tỉnh Bình Định và kiến nghị hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU

THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN 1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ

1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm

Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản năm

1988 thì chứng cứ là “cái cụ thể (như lời nói hoặc việc làm, vật làm chứng, tài liệuv.v.) tỏ rõ điều gì đó là có thật”1 Như vậy, có thể hiểu chứng cứ theo một nghĩachung nhất là những gì có thật, phản ánh sự thật khách quan về một vụ việc và đượcthu thập theo trình tự nhất định do pháp luật quy định

Chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự, hành chính hay trong tố tụng dân

sự đều có những điểm chung và vừa có tính lý luận sâu sắc, vừa có tính thực thựctiễn rất cao Nó là cơ sở quan trọng để xác định sự thật khách quan của vụ án Sự thậtkhách quan của vụ việc dân sự được phản ánh qua chứng cứ Điều 93 của BLTTDSnăm 2015 quy định: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương

sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình

tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy định vàđược Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũngnhư xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”

Khác với trong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quanđiều tra, truy tố và xét xử, thì trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về cácđương sự Đương sự nào có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình (kể cả trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích côngcộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác), thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho tòa án tài liệu chứng cứ đểchứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Ngoài ra, đương sự phản đốiyêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập,

1 Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam - Viện ngôn ngữ học: Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1998, tr.212.

Trang 13

cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.Tòa án có trách nhiệm xem xét các tình tiết của vụ án, căn cứ vào quy định của phápluật để giải quyết yêu cầu của đương sự Tuy nhiên, khi xét thấy các tài liệu chứng

cứ do các đương sự cung cấp không đủ cơ sở giải quyết hoặc các đương sự không thểcung cấp được các chứng cứ mà có yêu cầu thì theo quy định của BLTTDS tòa ántiến hành thu thập chứng cứ Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sátcũng có quyền thu thập chứng cứ Tuy nhiên, các biện pháp mà Viện kiểm sát sửdụng để thu thập chứng cứ được giới hạn trong phạm vi yêu cầu đương sự, cơ quan,

tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện quyền kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Như vậy, tác giả thống nhất với

khái niệm “Thu thập chứng cứ là một hành vi tố tụng của tòa án trong việc tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc do

Tuy nhiên, khái niệm này chưa đầy đủ mà cần phải bổ sung thêm “Thu thập chứng

cứ còn là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể chứng minh và trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát cũng có quyền thu thập chứng cứ”.

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và của Tòa án cấp sơthẩm nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Cụthể:

- Đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự: Trong thực tiễn việc giải quyếtcác vụ việc dân sự của Tòa án thì những vụ án được giải quyết chỉ căn cứ vào việc

“đương sự tự chứng minh” hoặc chứng cứ do đương sự cung cấp không nhiều màphần lớn phải do Tòa án tích cực trong việc xác minh, thu thập chứng cứ Bên cạnh

đó, khi tham gia tố tụng dân sự, các đương sự vì muốn bảo vệ cho quyền và lợi íchcủa mình nên sẽ cung cấp, giao nộp cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ có lợi mà cóthể cố tình che giấu những tình tiết, chứng cứ về sự thật của vụ án nhưng bất lợi chođương sự đó Việc pháp luật tố tụng dân sự quy định cho Tòa án có quyền áp dụng

2

Tưởng Duy Lượng, Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nhà xuất bản chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2014, trang 193.

Trang 14

các biện pháp thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi thỏamãn những điều kiện nhất định sẽ có tác dụng to lớn trong việc xây dựng hồ sơ vụviệc, củng cố các chứng cứ quan trọng của vụ việc dân sự phải giải quyết Tòa án sẽ

có thêm cơ sở, căn cứ pháp lý để giải quyết vụ việc, công tác xét xử của tòa án thôngqua đó được khách quan, chính xác và triệt để hơn

- Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án còn có ý nghĩa quan trọng trongviệc bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Hiện nay, nghĩa vụchứng minh thuộc về đương sự là một nguyên tắc được quy định trong BLTTDS,Tuy nhiên, không phải lúc nào đương sự cũng có thể thu thập được đầy đủ chứng cứ

để giao nộp cho Tòa án, nhất là những chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức hay cánhân khác lưu giữ Vì vậy, ngoài việc tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự cung cấpchứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì Tòa án có quyền tự mìnhthu thập chứng cứ hoặc theo yêu cầu của đương sự theo quy định tại Điều 97 củaBLTTDS năm 2015 Sự hỗ trợ của Tòa án đối với các đương sự trong việc thu thậpchứng cứ sẽ có tác dụng giúp đương sự thực hiện được nghĩa vụ chứng minh để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án còn có ý nghĩa đối với xã hội “Tòa

án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thựchiện quyền tư pháp”3, là cơ quan xét xử để bảo vệ pháp chế, bảo đảm pháp luật đượcthi hành nghiêm chỉnh, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội và tạo ra môi trườngpháp lý lành mạnh cho cho các quan hệ pháp luật nội dung phát triển

1.1.2 Những nguyên tắc cơ bản về hoạt động thu thập chứng cứ

So với BLTTDS năm 2004 thì BLTTDS năm 2015 quy định rõ hơn về tínhchủ động trong việc thu thập chứng cứ của đương sự Tại khoản 1, Điều 6 BLTTDSnăm 2015 quy định “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộpchứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợppháp” Đồng thời bổ sung quy định về trách nhiệm hỗ trợ của tòa án đối với việc thuthập chứng cứ của đương sự: “Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu

3Khoản 1, Điều 102 Hiến pháp năm 2013

Trang 15

thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp

do Bộ luật này quy định”4

Đối với trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền được quy định tại Điều 7 của BLTTDS năm 2015 thì về cơ bản, nộidung điều luật vẫn giữ nguyên như quy định tại BLTTDS năm 2004 nhưng BLTTDSnăm 2015 có điều chỉnh về kỹ thuật lập pháp như đưa trách nhiệm của cơ quan, tổchức lên trước cá nhân, đồng thời ghi rõ việc cung cấp tài liệu phải theo quy định củaBLTTDS Cụ thể, Điều 7 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương

sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ

mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sáttheo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cungcấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằngvăn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát”

1.1.3 Nghĩa vụ chứng minh trong Tố tụng dân sự

Về nguyên tắc, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Trong quá trình tòa

án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho tòa án tài liệu, chứng cứ đểchứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Tuy nhiên, để bảo vệ chongười yếu thế, BLTTDS năm 2015 quy định bổ sung tại Khoản 1, Điều 91 nhữngtrường hợp đương sự là người yếu thế không phải tự thu thập chứng cứ giao nộp choTòa án, bao gồm:

- Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức,

cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy địnhcủa Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giaonộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người

4Khoản 2, Điều 6 của BLTTDS năm 2015

Trang 16

sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cungcấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho tòa án;

- Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao độngthuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phươngchấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đốivới người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minhthuộc về người sử dụng lao động

Đối với việc đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình,BLTTDS năm 2004 chỉ yêu cầu đương sự đó cung cấp chứng cứ để chứng minh choyêu cầu của mình BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định bắt buộc việc phản đối đóphải được thể hiện bằng văn bản Khoản 2, Điều 91 nêu rõ “Đương sự phản đối yêucầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cungcấp, giao nộp cho tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”.Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng

cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo nhữngchứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc Đây là quy định khắc phục tìnhtrạng lấy lý do “làm rõ sự thật” để kéo dài việc giải quyết tranh chấp

BLTTDS năm 2015 vẫn quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhânkhởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác là phải đưa ra chứng cứ chứng minhnhư quy định tại khoản 3 Điều 79 của BLTTDS năm 2004 (Cá nhân, cơ quan tổ chứckhởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minhcho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp) nhưng quy định cụthể hơn: “phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứngminh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” (khoản 3 Điều

91 của BLTTDS năm 2015), đồng thời bổ sung quy định “Tổ chức xã hội tham giabảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cánhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng”

Trang 17

Đối với trường hợp đương sự không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra

đủ chứng cứ, tại khoản 4 Điều 79 của BLTTDS năm 2004 quy định đương sự đóphải chịu hậu quả của việc không chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ đó.Quy định này chưa thể hiện rõ hậu quả của nó là như thế nào Để khắc phục điềunày, khoản 4 Điều 91 của BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ hậu quả đó là “Tòa ángiải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụviệc”

Theo Điều 5 của Luật Công chứng thì những tình tiết, sự kiện đã được ghitrong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp là những tình tiết, sự kiệnkhông buộc phải chứng minh Tuy nhiên, tại điểm c khoản 1 Điều 92 của BLTTDSnăm 2015 đã bổ sung thêm quy định “trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính kháchquan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng,chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng,chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính”, đây là quy định nhằm khắc phục nhữngsai sót của các cơ quan công chứng, chứng thực

Khoản 2 Điều 80 của BLTTDS năm 2004 quy định “Một bên đương sự thừanhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thìbên đương sự đó không phải chứng minh”, quy định này chưa đầy đủ nên tại Khoản

2, Điều 92 của BLTTDS năm 2015 đã bổ sung những “tài liệu, văn bản, kết luận của

cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phảichứng minh”

Về người đại diện tham gia tố tụng cũng có sự thay đổi, theo Khoản 3, Điều

80 của BLTTDS năm 2004 trước đây thì sự thừa nhận của người đại diện đều đượccoi là sự thừa nhận của đương sự nhưng BLTTDS năm 2015 quy định chỉ coi là sựthừa nhận của đương sự “nếu không vượt quá phạm vi đại diện”5

BLTTDS năm 2015 còn bổ sung yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết địnhtuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thuộc thẩm quyềngiải quyết của Tòa án6 Khoản 2, Điều 376 có bổ sung nội dung “Người thành niên

5Khoản 3, Điều 92 của BLTTDS năm 2015

6Khoản 1, Điều 27 của BLTTDS năm 2015

Trang 18

không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thầnnhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố

họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luậtDân sự” Đồng thời, BLTTDS năm 2015 còn bổ sung các quy định liên quan đếnngười có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, cụ thể: Đối với người bị hạnchế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thìnăng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa án7;việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ, việc bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho họ được xác định theo quyết định của Tòa án8; khi tiến hành tố tụngdân sự, nếu có đương sự là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi màkhông có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trongcác trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 87 của BLTTDS năm 2015 thì Tòa ánphải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng9; giao người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,giáo dục nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến những người này mà họ chưa cóngười giám hộ10; cá nhân là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thìngười đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởikiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ,tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó, ở phần cuối đơn,người đại diện hợp pháp phải ký tên hoặc điểm chỉ11

Về nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi được thực hiện như đối với trường hợp yêu cầu tuyên bố bịmất năng lực hành vi dân sự Khoản 2, Điều 320 của BLTTDS năm 2004 quy định

“Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của đương sự, Tòa án có thểtrưng cầu giám định sức khoẻ, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lựchành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Trong trường hợp này, khi

7Khoản 1 Điều 69 của BLTTDS năm 2015

8Khoản 5, Điều 69 của BLTTDS năm 2015

9Khoản 1, Điều 88 của BLTTDS năm 2015

10 Điều 115 của BLTTDS năm 2015

11 Điều 189 của BLTTDS năm 2015

Trang 19

nhận được kết luận giám định Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơnyêu cầu”, Điều 377 của BLTTDS năm 2015 bổ sung thêm quy định: Trong thời hạnchuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của đương sự, Tòa án có thể trưng cầu “giámđịnh pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự,người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Trong trường hợp này, khinhận được kết luận giám định, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơnyêu cầu” Như vậy, Tòa án thu thập chứng cứ bằng biện pháp trưng cầu giám địnhtrong trường hợp này khi có đơn đề nghị của người yêu cầu.

1.2 Quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án

1.2.1.1 Người tham gia tố tụng

BLTTDS chia người tham gia tố tụng thành 02 nhóm: nhóm đương sự vànhóm những người tham gia tố tụng khác

Theo Khoản 1, Điều 68 của BLTTDS 2015 thì “Đương sự trong vụ án dân sự

là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan” Trong hoạt động tố tụng dân sự, đương sự có quyền lợi và nghĩa vụgắn liền với việc giải quyết vụ án nên “đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thuthập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn

cứ và hợp pháp”12 Việc thu thập, giao nộp chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa vụcủa đương sự Ngoài việc tự mình chủ động thu thập chứng cứ, trong trường hợpchứng cứ thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì đương sự cóquyền yêu cầu hoặc đề nghị Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ,quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó, đề nghị Tòa án triệu tập

12 Khoản 1 Điều 6 của BLTTDS năm 2015

Trang 20

người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản13 Đồng thời,đương sự cũng có quyền thu thập chứng cứ ngay trong hồ sơ vụ việc để có thể sửdụng nó chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc phản bác lại yêu cầu của đương sựkhác theo quy định tại khoản 8 Điều 79 của BLTTDS 2015, đương sự “được biết, ghichép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thuthập”.

Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ củađương sự, đương sự có thể chủ động thu thập chứng cứ, tự mình yêu cầu hoặc đềnghị Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý chứng cứ cung cấpchứng cứ cho Tòa và cũng có thể thu thập chứng cứ ngay trong hồ sơ vụ việc dân sự

Ngoài nhóm đương sự thì nhóm những người tham gia tố tụng khác bao gồm:người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giámđịnh, người phiên dịch, người đại diện Đây là những người có liên quan đến hoạtđộng tố tụng nhưng họ không có quyền lợi, nghĩa vụ gắn liền với việc giải quyết vụ

án Tuy nhiên, trong quá trình tham gia tố tụng dân sự, người bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của đương sự cũng có quyền và nghĩa vụ “thu thập và cung cấp tài liệu,chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép sao chụp những tàiliệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự”14; người làm chứng cũng có quyền và nghĩa vụ “cung cấp toàn bộthông tin, tài liệu, đồ vật mà mình có được có liên quan đến việc giải quyết vụviệc”15; người giám định không được tự mình thu thập tài liệu để giám định nhưng cóquyền và nghĩa vụ “đọc tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giámđịnh hoặc yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần thiết cho việc giám định”16; ngườiphiên dịch là người diễn đạt lại ý kiến của chủ thể tham gia tố tụng nên không cótrách nhiệm thu thập chứng cứ; người đại diện trong tố tụng dân sự là người thay mặtcho đương sự trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền vàlợi ích chính đáng cho đương sự, bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại

13 Khoản 6, 7 Điều 70 của BLTTDS năm 2015

14 Khoản 2 Điều 76 của BLTTDS năm 2015

15 Khoản 1 Điều 78 của BLTTDS năm 2015

16 điểm a khoản 1 Điều 80 của BLTTDS năm 2015

Trang 21

diện theo ủy quyền Người đại diện theo ủy quyền chỉ được phép thu thập chứng cứtrong phạm vi được ủy quyền, còn người đại diện theo pháp luật có đầy đủ quyền vànghĩa vụ trong hoạt động thu thập chứng cứ như cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họlàm đại diện.

1.2.1.2 Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng

Cơ quan tiến hành tố tụng gồm có Tòa án và Viện kiểm sát Tòa án có tráchnhiệm hỗ trợ cho đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập,xác minh chứng cứ trong những trường hợp do BLTTDS quy định17, Viện kiểm sátthu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm18

Những người tiến hành tố tụng dân sự gồm có: Chánh án Tòa án, Thẩm phán,Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểmsát viên, Kiểm tra viên Trong phạm vi của Luận văn chỉ đề cập đến hoạt động thuthập chứng cứ ở giai đoạn sơ thẩm nên tác giả chỉ đề cập đến quyền và nghĩa vụ thuthập chứng cứ của Thẩm phán, Thẩm phán tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổchức phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc dân sự19

1.2.2 Điều kiện để tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thu thập chứng cứ trong

Tố tụng dân sự

Thu thập chứng cứ là một hành vi tố tụng của Tòa án, Tòa án có trách nhiệm

hỗ trợ cho đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minhchứng cứ trong những trường hợp do BLTTDS quy định Điều kiện để Tòa án cấp sơthẩm tiến hành thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự bao gồm:

1.2.2.1 Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự

Tại điểm e khoản 1 Điều 97 của BLTTDS năm 2015 quy định đương sự nếukhông thể thu thập tài liệu chứng cứ thì yêu cầu Tòa án thu thập Như vậy, Tòa ánchỉ tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự khi thỏa mãn hai điều

17 Khoản 2 Điều 6 của BLTTDS năm 2015

18 Khoản 6 Điều 97 của BLTTDS 2015

19 Khoản 3 Điều 48 của BLTTDS năm 2015

Trang 22

Thứ nhất, đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ Điều kiện này cónghĩa là khi yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ đương sự phải chứng minh rõ ràngrằng họ đã áp dụng những biện pháp cần thiết bằng hết khả năng của mình và việckhông thu thập được chứng cứ hoàn toàn vì lý do khách quan, ví dụ như cơ quan, tổchức, cá nhân đã quản lý, lưu giữ chứng cứ đó từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứcho họ hoặc họ vì lý do bệnh tật, không thể đi lại, không có người thân thích hoặcđiều kiện kinh tế khó khăn nên đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ

để giao nộp cho Tòa Do đó, khi đương sự có yêu cầu thì Tòa án phải yêu cầu đương

sự trình bày lý do vì sao họ không tự mình thu thập được chứng cứ Nếu thấy đương

sự chưa thực sự áp dụng hết những biện pháp cần thiết trong khả năng của mình thìTòa án không chấp nhận yêu cầu của đương sự mà cần thông báo bằng văn bản chođương sự biết về việc không thu thập chứng cứ theo yêu cầu của họ, mặt khác, Thẩmphán có thể hướng dẫn cho họ cách thức để tự thu thập chứng cứ giao nộp cho Tòa

Thứ hai, đương sự phải yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, đương sự phải bày

tỏ ý chí mong muốn Tòa án thu thập chứng cứ cho mình bằng đơn yêu cầu, đơn đềnghị hoặc trực tiếp đến trình bày và được ghi lại vào biên bản của Tòa và trong một

số biện pháp thu thập chứng cứ phải trả một khoản chi phí nhất định cho cơ quanchức năng như trưng cầu giám định, định giá tài sản thì Tòa án chỉ tiến hành thu thậpchứng cứ khi nào đương sự đã nộp cho Tòa đủ khoản tiền tạm ứng chi phí này

Việc pháp luật quy định những biện pháp thu thập chứng cứ cần có yêu cầucủa đương sự mà Tòa án chỉ tiến hành khi đảm bảo hai điều kiện trên không chỉ thểhiện sự hỗ trợ của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ mà còn nhằm mục đích đềcao trách nhiệm của đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầucủa mình và ngăn chặn việc trốn tránh, ỷ lại của đương sự trong việc tự mình thuthập chứng cứ giao nộp cho Tòa án

Trong thực tiễn, có những trường hợp đương sự có trình độ pháp luật hạn chế,không hiểu quyền yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, Thẩm phán thì nguyên tắc, máymóc chờ đương sự xuất trình chứng cứ và chỉ thu thập chứng cứ khi đương sự có đơn

Trang 23

yêu cầu nên việc giải quyết vụ án có thể bị kéo dài do chưa đủ chứng cứ hoặc Tòa ángiải quyết vụ việc không triệt để hoặc không chính xác Do vậy, khi nghiên cứu hồ

sơ vụ việc dân sự, Thẩm phán thấy chứng cứ nào chưa đầy đủ thì phải yêu cầu đương

sự bổ sung tài liệu, chứng cứ, hướng dẫn cho đương sự cách thức thu thập đượcchứng cứ và nên giải thích rõ cho đương sự biết nếu họ đã làm hết khả năng củamình rồi mà vẫn không thể thu thập được chứng cứ thì có quyền yêu cầu Tòa án thuthập chứng cứ cho đương sự

1.2.2.2 Tòa án chủ động tiến hành thu thập chứng cứ

Khoản 2 Điều 97 của BLTTDS năm 2015 quy định những trường hợp mà Tòa

án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:

- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;

- Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng;

- Trưng cầu giám định;

- Định giá tài sản;

- Xem xét, thẩm định tại chỗ;

- Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được,nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự;

- Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú;

- Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này

1.2.3 Các biện pháp thu thập chứng cứ của tòa án cấp sơ thẩm trong Tố tụng dân sự

1.2.3.1 Lấy lời khai của đương sự

Đương sự là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp gắn liền với việc giải quyết

vụ án là người biết nhiều tình tiết liên quan đến vụ án nhất nên việc lấy lời khai củađương sự là một biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng, giúp cho Tòa án làm rõđược sự thật của vụ án Điều 98 của BLTTDS năm 2015 quy định: Thẩm phán chỉtiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dungbản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình.Trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương

Trang 24

sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sựkhai chưa đầy đủ, rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký tòa án ghi lại lời khaicủa đương sự vào biên bản Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở tòa án;trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở tòa án.

Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay ngheđọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ Đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổsung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận Biên bản phải cóchữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án; nếu biênbản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáplai Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thìphải có người làm chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an xã,phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản

Việc lấy lời khai của đương sự phải được tiến hành với sự có mặt của ngườiđại diện hợp pháp của đương sự đó khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, khi đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi,người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làmchủ hành vi của mình20

Thứ hai, khi đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười támtuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sảnriêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan

hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó21

1.2.3.2 Lấy lời khai của người làm chứng

Người làm chứng không có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nênthường là lời khai của họ sẽ khách quan hơn so với đương sự Điều 99 của BLTTDSnăm 2015 quy định: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩmphán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sởTòa án

20 Khoản 5, Điều 69 của BLTTDS năm 2015

21 Khoản 6 Điều 69 của BLTTDS năm 2015

Trang 25

Trước khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải giải thíchquyền, nghĩa vụ của người làm chứng và yêu cầu người làm chứng cam đoan về lờikhai của mình.

Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành như thủ tục lấy lờikhai của đương sự

Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạnchế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành

vi phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc ngườiđang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó

Trong thực tiễn, để đảm bảo lời khai của người làm chứng có giá trị chứngminh cho vụ án, Thẩm phán khi tiến hành lấy lời khai còn cần phải làm rõ mối quan

hệ giữa người làm chứng với các đương sự trong vụ án để đánh giá tính khách quantrong lời khai của họ Trong những vụ việc có nhiều người làm chứng thì cần phảichọn những người làm chứng quan trọng, biết được nhiều tình tiết liên quan đến vụ

án đang giải quyết và khi lấy lời khai của nhiều người làm chứng thì nên lấy lời khairiêng từng người một, tránh để họ tiếp xúc với nhau hoặc tiếp xúc với đương sự trongthời gian khai báo

1.2.3.3 Đối chất

Đối chất là việc cùng một lúc đặt những câu hỏi giống nhau cho nhiều đương

sự, người làm chứng để so sánh, đánh giá lời khai của họ khi phát hiện có mâu thuẫntrong lời khai của họ trước đó nhằm tìm ra bản chất của vụ việc Điều 100 củaBLTTDS năm 2015 quy định: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâuthuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đốichất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữanhững người làm chứng với nhau Việc đối chất phải được lập thành biên bản, có chữ

ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất

1.2.3.4 Xem xét, thẩm định tại chỗ

Trong trường hợp tài sản tranh chấp hoặc vật chứng không thể đưa đến Tòa

án để xem xét thì Tòa án phải tiến hành xem xét, thẩm định tại nơi có tài sản, có vậtchứng đó Điều 101 của BLTTDS năm 2015 quy định: Theo yêu cầu của đương sự

Trang 26

hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với

sự có mặt của đại diện UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơquan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xemxét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Biên bản phảighi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xemxét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diệnUBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đốitượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xemxét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầuđại diện UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi

có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận

Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ Thẩm phán

có quyền đề nghị UBND cấp xã, Công an xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng đượcxem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem xét,thẩm định tại chỗ

1.2.3.5 Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định

Điều 102 của BLTTDS năm 2015 quy định: Đương sự có quyền yêu cầu Tòa

án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa ántrưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự Quyền tự yêu cầugiám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủtục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự

Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyếtđịnh trưng cầu giám định Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địachỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêucầu cụ thể cần có kết luận của người giám định

Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạmpháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầungười giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiêntòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết

Trang 27

Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết địnhtrưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ,chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đãđược kết luận giám định trước đó.

Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kếtluận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợpđặc biệt theo quyết định của Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án TANDTC theo quyđịnh của Luật Giám định tư pháp

Đối với trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ

đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án hoặcTòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định Trường hợp việc giả mạo chứng cứ

có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Cơ quanđiều tra có thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Ngườiđưa ra chứng cứ được kết luận là giả mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạochứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa ánquyết định trưng cầu giám định22

1.2.3.6 Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Khi vụ việc dân sự có tranh chấp liên quan đến tài sản và cần phải xác địnhgiá trị của tài sản thì Điều 104 của BLTTDS năm 2015 quy định: Đương sự có quyềncung cấp giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp Cácđương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiệnviệc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho tòa án Việc thẩmđịnh giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản

Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộcmột trong các trường hợp sau đây:

- Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;

- Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặcđưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;

- Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo

22 Điều 103 của BLTTDS năm 2015

Trang 28

mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằmtrốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chứcthẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.

Trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định giá, định giá tài sản:

- Tòa án phải ra quyết định thành lập Hội đồng định giá gồm Chủ tịch Hộiđồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quanchuyên môn có liên quan Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người đồngthời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự, hoặc đã tham gia tốtụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làmchứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc đó, hoặc có căn cứ rõràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ thì không được tham giaHội đồng định giá

Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên củaHội đồng Trong trường hợp cần thiết, đại diện UBND cấp xã nơi có tài sản định giáđược mời chứng kiến việc định giá Các đương sự được thông báo trước về thời gian,địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá.Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá;

- Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm

cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ Ngườiđược cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việcđịnh giá Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử ngườitham gia Hội đồng định giá thì Tòa án yêu cầu cơ quan quản lý có thẩm quyền trựctiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn thực hiện yêu cầu của tòa án.Người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chínhđáng thì Tòa án yêu cầu lãnh đạo cơ quan đã cử người tham gia Hội đồng định giáxem xét trách nhiệm, cử người khác thay thế và thông báo cho Tòa án biết để tiếp tụctiến hành định giá;

- Việc định giá phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thànhviên, đương sự nếu họ tham dự Quyết định của Hội đồng định giá phải được quánửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành Các thành viên Hội đồng định giá,

Trang 29

đương sự, người chứng kiến ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản.

Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằngkết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi

có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự

vấn đề trên thì việc ủy thác thu thập chứng cứ sẽ được thực hiện trên nguyên tắc “có

đi có lại” theo Luật Tương trợ tư pháp24

Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn,quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ Tòa ánnhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủythác trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báokết quả bằng văn bản cho tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thựchiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho tòa án đã

ra quyết định ủy thác

Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác hoặc đã thực hiện việc ủy thácnhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng

cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự

23 Điều 105 của BLTTDS năm 2015

24 Khoản 2, Điều 4 Luật Tương trợ tư pháp và Điều 5 Thông tư liên tịch BNG- TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp - Bộ Ngoại giao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Trang 30

12/2016/TTLT-BTP-1.2.3.8 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ

Khoản 2 Điều 106 BLTTDS 2015 quy định: Trường hợp đương sự đã áp dụngcác biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thuthập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhânđang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiếnhành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sựđúng đắn Đương sự yêu cầu tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõvấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do mình không tự thu thậpđược; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưugiữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập

Tòa án phải ra quyết định bằng văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhânđang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho tòa án Cơ quan, tổ chức, cánhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu,chứng cứ theo yêu cầu của tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêucầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu củatòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ

lý do Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của tòa án mà không có lý

do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chínhhoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việc xử phạt hànhchính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơquan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứcho tòa án

1.2.3.9 Xác minh sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú

Theo quy định tại Điều 40 của BLDS năm 2015 thì “nơi cư trú của cá nhân”

là nơi người đó thường xuyên sinh sống Trường hợp không xác định được nơithường xuyên sinh sống thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.Như vậy việc xác định chính xác nơi cư trú của bị đơn là cần thiết để Tòa án xácđịnh thẩm quyền giải quyết vụ án theo lãnh thổ

Trước khi BLTTDS 2015 có hiệu lực thì trong trường hợp người khởi kiện

Trang 31

không ghi đầy đủ hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện; tên, địa chỉ củangười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Tòa án sẽ yêu cầu người khởi kiện ghi lạicho đầy đủ Nếu người khởi kiện không thực hiện thì Tòa án căn cứ vào Khoản 2,Điều 169 của BLTTDS năm 2004 trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèmtheo cho họ mà không được thụ lý vụ án Trong trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ ánnhưng qua xác minh thì biết bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quantrong vụ án vắng mặt khỏi địa phương trước thời điểm Tòa thụ lý thì sẽ đình chỉ giảiquyết vụ án theo quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 192 của BLTTDS năm 2004 với

lý do người khởi kiện không cung cấp được địa chỉ của bị đơn hoặc người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Quy định này đã gây khó khăn cho người khởikiện khi người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đikhỏi địa phương hoặc cố tình che giấu địa chỉ nơi cư trú của mình nhằm trốn tránhnghĩa vụ của mình mà tòa án cũng không thể thụ lý, giải quyết được

BLTTDS năm 2015 đã khắc phục được khó khăn này, Điểm e, Khoản 1, Điều

192 của BLTTDS năm 2015 quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởikiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi

cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyềntheo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằmmục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phánkhông trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung” Nhưvậy, chỉ cần Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi cótrụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theođúng quy định của pháp luật tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổchức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địachỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghiđúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy địnhtại điểm e khoản 1 Điều 192 của BLTTDS năm 201525 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/

25 Khoản 2, Điều 5, Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của HĐTP TANDTC

Ngày đăng: 12/07/2021, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 BLTTDS số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án Khác
16. Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân sự Khác
17. Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự Khác
18. Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ Khác
19. Công văn số 01/2018/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w