1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyếtvụ án dân sự

94 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.1. Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự (12)
  • 1.1.2. Đặc trưng pháp lý của hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự (16)
  • 1.2. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự trước ngày 01/01/2005 (22)
    • 1.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1990 (22)
    • 1.2.2. Giai đoạn từ 1990 đến 2004 (22)
  • 1.3. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước (24)
    • 1.3.1. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của Liên bang Nga (24)
    • 1.3.2. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp (26)
    • 1.3.3. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Liên bang Đức (28)
  • CHƯƠNG 2. HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SƠ THẨM (31)
    • 2.1. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành (31)
      • 2.1.1. Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (31)
      • 2.1.2. Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện trong quá trình diễn ra phiên tòa sơ thẩm (54)
    • 2.2. Thực tiễn hoạt động thu thập chứng của Tòa án sơ thẩm, các vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật .................................................................... 51 1. Thực tiễn áp dụng các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm 51 (58)

Nội dung

Theo đó, Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự là Tòa án đầu tiên thụ lý và tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo qui định của pháp luật để giải quyết các vụ việc dân sự... Dựa trên

Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự

Khái niệm Tòa án sơ thẩm gắn liền với khái niệm về cấp xét xử Cấp xét xử

Trong quá trình xem xét vụ án tại Tòa án, cấp xét xử xác định thẩm quyền và thể hiện quan điểm của Nhà nước về xét xử nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan trong phán quyết và bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân Cấp xét xử khác với thủ tục xét xử ở chỗ nó là hình thức tổ chức tố tụng, còn thủ tục xét xử là các quy định cần tuân thủ để thực hiện xét xử ở từng cấp Dựa trên quan niệm này, ngày nay hầu hết các nước có nền pháp luật tiến bộ đều áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử vào thủ tục xét xử các vụ án, bất kể là hình sự, dân sự, hành chính, hay lao động, kinh doanh thương mại Để thực hiện nguyên tắc này, hệ thống Tòa án phải được tổ chức theo một mô hình phù hợp và dù theo mô hình nào thì vẫn bảo đảm có Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm.

Xét về góc độ ngôn ngữ, sơ thẩm là quá trình xét xử lần đầu một vụ việc ở tòa án cấp thấp Tính chất của cấp xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu đối với vụ án, là bước mở đầu của quá trình giải quyết vụ việc dân sự Mặc dù khái niệm Tòa án sơ thẩm chưa được chính thức quy định trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, nhưng qua khái niệm về cấp xét xử và xét xử sơ thẩm, ta có thể hiểu được ý nghĩa của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự Theo đó, Tòa án sơ thẩm là tòa án đầu tiên thụ lý và tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết các vụ việc dân sự.

Nguyên tắc hai cấp xét xử là nền tảng của hệ thống tư pháp, đảm bảo thẩm định và sửa sai thông qua sự xem xét lại ở cấp phúc thẩm sau khi quyết định ở cấp sơ thẩm Theo Trần Văn Độ (2007) trong bài "Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp", nguyên tắc này đòi hỏi mỗi vụ án được xem xét ở hai cấp tòa, nhằm kiểm tra tính hợp lệ, giảm thiểu sai sót và nâng cao chất lượng xét xử Việc áp dụng nguyên tắc này vào tổ chức Tòa án các cấp đòi hỏi phân định rõ chức năng và thẩm quyền, tăng tính độc lập của các cấp tòa, và thúc đẩy hiệu quả hoạt động tố tụng Do đó, hai cấp xét xử vừa là cơ chế phòng ngừa sai phạm vừa là yếu tố bảo đảm quyền kháng cáo, quyền kiểm tra lại và tính minh bạch của quá trình giải quyết vụ án.

2 Trần Văn Độ, tlđd 1, tr.1

3 Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.1460

1.1.1.2.Khái niệm vụ án dân sự

Thuật ngữ “vụ án dân sự” xuất hiện từ rất sớm trong các văn bản qui phạm pháp luật Việt Nam, điển hình là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của các Tòa án nhân dân địa phương năm 1961 cũng đã nhắc tới khái niệm này Đến khi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 được ban hành, khái niệm vụ án dân sự được hiểu cụ thể hơn, đó là những tranh chấp hay yêu cầu liên quan đến tài sản, nhân thân trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình và lao động Những bước pháp lý này cho thấy sự hình thành và phát triển khái niệm vụ án dân sự qua các thời kỳ ở Việt Nam.

Năm 1992 được ban hành và sau đó sửa đổi, bổ sung vào các năm 1994, 1995, cơ cấu Tòa án nhân dân cấp tỉnh được phân thành các tòa chuyên trách như Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa hành chính và Tòa lao động Trong giai đoạn này, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp lao động (1996) và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được ban hành nhằm chuẩn hóa thủ tục tố tụng và nâng cao hiệu lực giải quyết vụ án tại các tòa chuyên trách.

Vào năm 1996, một loạt Pháp lệnh được ban hành nhằm xác định rõ thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế, lao động và hành chính Những quy định cụ thể về thẩm quyền trong các Pháp lệnh này đã làm rõ phạm vi và chức năng của từng cơ quan tư pháp, từ đó hình thành khái niệm về thẩm quyền giải quyết vụ án một cách thống nhất và minh bạch Việc quy định thẩm quyền như vậy góp phần nâng cao hiệu lực của hệ thống tư pháp và bảo đảm quyền lợi cho các bên liên quan trong các vụ án kinh tế, lao động và hành chính.

Vụ án dân sự hiện được hiểu theo nghĩa hẹp so với trước đây Theo các pháp lệnh nêu trên, các tranh chấp kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty và giữa các thành viên với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động và giải thể công ty; các tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật được gọi là vụ án kinh tế; và các tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương và các quyền lợi khác.

Điều 1 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự và dân sự.

Pháp lệnh năm 1961 quy định tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và các tòa án nhân dân địa phương, trong đó tòa án thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự thuộc phạm vi thẩm quyền của chính tòa án đó; còn những vụ án được coi là quan trọng hoặc phức tạp có thể được đưa lên để xử tại cơ quan cấp cao hơn.

Điều 10 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 quy định thẩm quyền của Toà án như sau: (1) Những tranh chấp về quyền sở hữu, về hợp đồng, về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự giữa công dân với nhau, giữa công dân với pháp nhân, giữa pháp nhân với nhau, trừ những việc thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác; (2) Những việc về quan hệ hôn nhân và gia đình; (3) Những việc tranh chấp về lao động; (4) Những việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết, trừ những trường hợp quân nhân, cán bộ mất tích hoặc chết trong chiến tranh thuộc trách nhiệm giải quyết của các cơ quan hữu quan; (5) Những việc khiếu nại cơ quan hộ tịch về việc từ chối đăng ký hoặc không chấp nhận yêu cầu sửa đổi những điều ghi trong giấy tờ về hộ tịch; (6) Những việc khiếu nại về danh sách cử tri; (7) Những việc khiếu nại cơ quan báo chí về việc không cải chính thông tin có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

(8) Những việc khác do pháp luật quy định”

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 quy định phạm vi các vấn đề liên quan tới tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động, thực hiện hợp đồng lao động, trong quá trình học nghề và các tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động về quyền lợi liên quan đến việc làm, tiền lương và điều kiện lao động, được gọi là “vụ án lao động”; vì thế khái niệm “vụ án dân sự” lúc đó không còn bao gồm các vụ án kinh tế, lao động như trước Khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 được ban hành, khái niệm “vụ án dân sự” được mở rộng và định rõ trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết các việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự tại Toà án (gọi chung là vụ việc dân sự) tại Toà án Từ đó khái niệm “vụ án dân sự” được hiểu là các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, luôn có sự tranh chấp hay bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, và một bên chủ thể có yêu cầu Toà án buộc bên kia thực hiện nghĩa vụ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; đây là cơ sở để phân biệt với “việc dân sự” được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.

1.1.1.3.Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

Theo Từ điển tiếng Việt, thu thập được hiểu là việc góp nhặt và tập hợp lại thông tin, tài liệu Trong lĩnh vực tố tụng, thu thập chứng cứ là hoạt động mà các chủ thể tham gia tố tụng tiến hành tìm kiếm, phát hiện và thu nhận các thông tin, tình tiết, sự kiện để làm căn cứ bảo vệ quyền lợi cho chính mình Ngoài ra, thu thập chứng cứ còn là quá trình phát hiện, tìm ra các chứng cứ và tập hợp chúng đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng nhằm giải quyết vụ việc.

8 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996

9 Trích Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004

Nguyễn Văn Tiến và Bành Quốc Tuấn (2011) trình bày trong cuốn "Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại Cơ quan tư pháp Việt Nam" do NXB Lao động, Thành phố Hồ Chí Minh phát hành, các khía cạnh cơ bản về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và cách thức bảo vệ quyền dân sự thông qua hệ thống cơ quan tư pháp Tác phẩm phân tích cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quy trình áp dụng để xác định thẩm quyền, bảo vệ quyền lợi của đương sự và tuân thủ nghĩa vụ và cam kết quốc tế liên quan Bên cạnh đó, sách nhận diện các thách thức trong thực tiễn thi hành và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền dân sự tại cơ quan tư pháp Việt Nam.

11 Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr.958

Trong tố tụng dân sự, thu thập chứng cứ là một hoạt động có tính pháp lý nhằm phục vụ cho việc chứng minh và làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án Hoạt động này không chỉ là các hành động riêng lẻ như gom góp hay tập hợp chứng cứ mà là một chuỗi các hoạt động bao gồm phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ, qua đó các bước trong chuỗi có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau Vì vậy, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự được hiểu là hoạt động của các chủ thể chứng minh trong việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự qui định.

Trong tố tụng dân sự, hoạt động thu thập chứng cứ được thực hiện bởi nhiều chủ thể như đương sự, Tòa án và Viện kiểm sát Việc thu thập chứng cứ của đương sự vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của họ; đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án và nếu không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả, trừ khi pháp luật có quy định khác Để có chứng cứ nộp cho Tòa án, đương sự phải tiến hành thu thập trước và trong quá trình giải quyết Chứng cứ thu thập ở đương sự thường từ việc cất giữ, bảo quản của chính họ, tức là thuộc sự quản lý của đương sự Tuy nhiên, vẫn có chứng cứ do người khác quản lý và lưu giữ; khi đó, đương sự có quyền yêu cầu các chủ thể này cung cấp Trong thực tế, yêu cầu cung cấp chứng cứ không phải lúc nào cũng được đáp ứng kịp thời và đầy đủ, nên hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự có thể gặp khó khăn Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trường hợp cho phép đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ khi không thể tự thu thập, và như vậy, ngoài đương sự, Tòa án cũng có những hoạt động thu thập chứng cứ nhưng chỉ trong một số trường hợp nhất định; hoạt động này mang tính chất hỗ trợ cho đương sự.

13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr.155

14 Trần Quang Tiệp (2009), Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.121

15 Khoản 1, Điều 84, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

Đặc trưng pháp lý của hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự có một số đặc trưng pháp lý sau đây:

Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự là bước đầu tiên của quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân, nhằm thu thập và bổ sung chứng cứ để hoàn tất hồ sơ vụ án và làm cơ sở cho quyết định của tòa.

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án có trách nhiệm xây dựng hồ sơ vụ án bằng cách thu thập đầy đủ chứng cứ theo đúng quy định của luật tố tụng dân sự để đảm bảo hồ sơ được hoàn tất đầy đủ và kịp thời Thẩm phán được phân công thụ lý phải áp dụng các quy định tố tụng dân sự một cách đầy đủ nhằm đưa tài liệu, chứng cứ vào hồ sơ một cách hợp lệ và đúng thời hạn, nhằm chuẩn bị cho việc xét xử sơ thẩm Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm mục đích bảo đảm hồ sơ vụ án được hoàn tất đầy đủ và đúng thời hạn, khác với mục tiêu thu thập chứng cứ của đương sự nhằm chứng minh hay bác bỏ yêu cầu Vì cấp sơ thẩm là cấp đầu tiên thụ lý và giải quyết vụ án, hoạt động này là bước thu thập chứng cứ đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án, nhắm tới hoàn tất hồ sơ để đưa vụ án ra xét xử Để bảo đảm vụ án được giải quyết kịp thời, pháp luật tố tụng dân sự quy định một thời hạn chuẩn bị xét xử cho Thẩm phán, được áp dụng theo từng loại án: bốn tháng đối với tranh chấp dân sự và hôn nhân gia đình, hai tháng đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại và lao động Trong trường hợp vụ án phức tạp hoặc gặp trở ngại khách quan, Chánh án Tòa án có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng vẫn bảo đảm thời hạn cho từng loại án nêu trên không bị vi phạm Trong thời hạn này, nếu các đương sự không thỏa thuận và vụ án không có căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ, Thẩm phán phải hoàn tất hồ sơ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Vai trò của cấp sơ thẩm là cấp tiếp cận đầu tiên và có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ để đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm trong khuôn khổ thời hạn luật định, do đó hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm là bước đầu của quá trình giải quyết vụ án nhằm mục đích hoàn tất hồ sơ vụ án.

Thứ hai, quá trình thu thập chứng cứ bởi tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự được tiến hành từ khi nhận được đơn khởi kiện cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm.

- Thời điểm nhận đơn khởi kiện

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án gắn liền với quá trình xây dựng hồ sơ vụ án Ngay từ thời điểm nhận đơn khởi kiện, người khởi kiện phải gửi kèm những tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc khởi kiện Sau khi vụ án được thụ lý và giải quyết, hồ sơ vụ án được thiết lập và Tòa án phải đưa các tài liệu, chứng cứ này vào hồ sơ để bảo đảm cho quá trình chứng minh của đương sự Những chứng cứ này do đương sự giao nộp và Tòa án tiếp nhận, là những chứng cứ ban đầu được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập ngay từ thời điểm nhận đơn khởi kiện Như vậy, ngay từ những thời điểm đầu tố tụng, chứng cứ đã được tập hợp và đưa vào hồ sơ vụ án nhằm phục vụ cho quá trình chứng minh.

17 Theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 179 và Điều 25, Điều 27 BLTTDS

18 Theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 179 và Điều 29, Điều 31 BLTTDS

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTDS, từ thời điểm nhận đơn khởi kiện, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa đã được bắt đầu Từ các chứng cứ ban đầu này, sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán sẽ xem xét và xác định những chứng cứ bổ sung cần thiết và thông báo cho đương sự giao nộp, nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng như hoàn tất hồ sơ vụ án để được xem xét giải quyết trong thời hạn luật định.

- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bên đương sự tích cực thu thập và giao nộp chứng cứ cho Tòa án để bảo vệ quan điểm của mình và xây dựng hồ sơ vụ án đúng pháp luật; nguyên đơn tiếp tục bổ sung chứng cứ khởi kiện, trong khi bị đơn sau khi được thông báo yêu cầu khởi kiện cũng tích cực thu thập và nộp chứng cứ nhằm phản bác và có thể đưa ra yêu cầu phản tố, đồng thời phải cung cấp bằng chứng cho các yêu cầu này; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng có thể thu thập chứng cứ để chứng minh các tình tiết liên quan, và nếu có yêu cầu độc lập sẽ phải chứng minh cho yêu cầu độc lập của mình; trong quá trình thu thập, các đương sự có thể gặp khó khăn khi chứng cứ do cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức lưu giữ; họ có thể đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ thay cho họ; do vậy, giai đoạn chuẩn bị xét xử đóng vai trò nền tảng cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật; ngay sau thụ lý vụ án, thời gian chuẩn bị xét xử chính thức bắt đầu; Tòa án phải hoàn tất hồ sơ vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử và tích cực thu thập chứng cứ, đây là thời kỳ Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chủ yếu; sau khi hết thời hạn, công tác thu thập chứng cứ vẫn có thể tiếp tục, nhưng chủ yếu để bổ sung những chứng cứ còn thiếu nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án.

- Trong quá trình tiến hành phiên tòa sơ thẩm

Pháp luật tố tụng dân sự nước ta không giới hạn thời hạn thu thập chứng cứ của các đương sự và Tòa án; sau giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu còn chứng cứ cần thiết chưa được thu thập thì các đương sự và Tòa án cấp sơ thẩm vẫn có thể tiếp tục thu thập Khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc đã có cơ sở chứng cứ đủ để hoàn tất hồ sơ vụ án, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Sau đó, các đương sự rà soát lại chứng cứ để chuẩn bị bảo vệ quyền lợi trước phiên tòa; nếu chứng cứ còn thiếu, đương sự phải bổ sung và giao nộp cho Tòa án Tòa án tiến hành tất cả công việc để chuẩn bị tổ chức phiên tòa đúng thời hạn luật định, trong đó có xem xét lại hồ sơ vụ án; khi phát hiện thiếu chứng cứ, Tòa án cấp sơ thẩm có thể tiếp tục thu thập bổ sung Việc thu thập chứng cứ có thể được tiến hành ngay tại phiên tòa sơ thẩm Trong phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của các đương sự, của người bảo vệ quyền lợi, của người làm chứng và các cơ quan tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập; đồng thời hỏi đương sự, người làm chứng, người tham gia tố tụng để làm sáng tỏ các tình tiết cần thiết Hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình tiến hành phiên tòa sơ thẩm là một phần công tác thẩm tra, xác minh, củng cố và bổ sung chứng cứ nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án khách quan, chính xác và toàn diện.

Thứ ba, hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự được giới hạn trong phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của các bên đương sự là không giới hạn khuôn khổ qui định của pháp luật, nghĩa là đương sự có thể tự mình thu thập mọi chứng cứ mà đương sự cho là có thể phục vụ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình để giao nộp cho Tòa án Nhưng đối với Tòa án, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được đặt trong khuôn khổ qui định của pháp luật Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định 20 Đây vừa là nhiệm vụ, vừa là quyền hạn của Thẩm phán khi xây dựng hồ sơ để giải quyết vụ án

Giới hạn của hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án nằm trong phạm vi các yêu cầu mà các đương sự đưa ra trong vụ án: khởi kiện, yêu cầu phản tố và các yêu cầu độc lập Dựa trên quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, các đương sự có quyền quyết định khởi kiện và xác lập thẩm quyền của Toà án để giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện và đơn yêu cầu của đương sự, và chỉ trong phạm vi các yêu cầu đó.

Trong tố tụng dân sự theo BLTTDS, hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án sơ thẩm nhằm xây dựng hồ sơ để giải quyết các yêu cầu do đương sự đặt ra, gồm khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập Những yêu cầu này do đương sự trình lên và được tòa án thụ lý; tòa án chỉ thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết đúng phạm vi các yêu cầu và không được vượt quá phạm vi mà đương sự đã xác lập Tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc nền tảng, theo đó việc khởi kiện và yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được thể hiện và quyết định bởi đương sự; khi đương sự có yêu cầu, tòa án có cơ sở để giải quyết, và không được giải quyết vụ án vượt quá phạm vi yêu cầu.

Trong tố tụng sơ thẩm, toàn án chỉ giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu của đương sự; do đó hoạt động thu thập chứng cứ được giới hạn trong phạm vi khởi kiện, yêu cầu phản tố và các yêu cầu độc lập mà các đương sự đã đưa ra.

Thứ tư, hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự gồm hai phần: tiếp nhận chứng cứ do các đương sự cung cấp và thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm gồm nhiều hình thức khác nhau nhằm đưa các tài liệu, chứng cứ từ bên ngoài vào hồ sơ vụ án, từ đó có cơ sở xem xét và giải quyết các yêu cầu của đương sự một cách đầy đủ và toàn diện Xuất phát từ mục tiêu bảo đảm mọi nguồn chứng cứ đều được đưa vào hồ sơ vụ án một cách đầy đủ, kịp thời để phục vụ cho việc giải quyết vụ án, nên hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm phải được thực hiện đối với mọi nguồn chứng cứ có thể thu thập được.

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình hoặc phản bác yêu cầu của đương sự khác, nên nguồn chứng cứ do đương sự cung cấp rất phong phú Để bảo đảm sự đầy đủ của chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Tòa án phải tiếp nhận đầy đủ và kịp thời các chứng cứ từ các nguồn này; do đó, hoạt động tiếp nhận chứng cứ do đương sự cung cấp là một phần của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm Để bảo đảm giá trị của hoạt động thu thập chứng cứ từ việc tiếp nhận chứng cứ do các đương sự cung cấp, Tòa án cần thực hiện đúng các thủ tục tiếp nhận chứng cứ.

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự trước ngày 01/01/2005

Giai đoạn từ 1945 đến 1990

Sau khi giành độc lập năm 1945, để bảo đảm sự ổn định của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 tạm thời giữ lại các luật lệ của chế độ cũ nhưng không trái với bản chất của Nhà nước; sau đó nhà nước ban hành pháp luật Việt Nam để thay thế dần Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản như Sắc lệnh 13/SL ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán, Sắc lệnh 15/SL ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền của Tòa án các cấp, Sắc lệnh 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung sắc lệnh 15/SL và Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng; tuy nhiên, các văn bản trên chưa làm rõ hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án cấp sơ thẩm Đến năm 1977, Thông tư 96-NC/PL ngày 8/2/1977 của Tòa án nhân dân tối cao đã định hướng cụ thể về thu thập chứng cứ: đương sự có quyền đề xuất chứng cứ nhưng tòa án không được dựa chỉ vào lời khai và giấy tờ do đương sự xuất trình mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật.

Các quy định tại thông tư nêu trên đã dần khẳng định sự cần thiết của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, đặc biệt tại Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Dù đương sự có nghĩa vụ thu thập và cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, nhưng Tòa án với vai trò cơ quan xét xử cũng có nhiệm vụ thu thập chứng cứ trong quá trình thụ lý vụ án tại cấp sơ thẩm, nhằm có cơ sở xem xét giải quyết vụ án dân sự một cách khách quan và toàn diện.

Giai đoạn từ 1990 đến 2004

Năm 1989, Nhà nước ban hành Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 07 tháng 12 năm 1989 Tiếp theo, các pháp lệnh tương tự lần lượt ra đời, như Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ngày 11/4/1996 Có thể nói đây là một giai đoạn khởi đầu cho hệ thống pháp luật về thủ tục tố tụng ở nước ta.

Ba văn bản luật tiền thân của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đã góp phần khắc phục tính tản mạn của các quy phạm tố tụng dân sự trước đó, đồng thời làm rõ vai trò của Toà án trong thu thập chứng cứ Quy định chung về thu thập chứng cứ cho thấy Toà án có nhiệm vụ xem xét tất cả các tình tiết của vụ án và, khi cần thiết, có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm việc giải quyết vụ án được chính xác Việc thu thập chứng cứ có thể được tiến hành trong quá trình điều tra và trước khi xét xử, thông qua các hoạt động như lấy lời khai của đương sự và các nhân chứng về những vấn đề cần thiết; và yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hữu quan hoặc công dân cung cấp các chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.

Trong quá trình tố tụng, Toà án có thể xem xét tại chỗ, trưng cầu giám định và yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc thành lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp Nếu cần thiết tiến hành điều tra ngoài địa bàn của mình, Toà án nơi thụ lý vụ án có thể ủy thác cho Toà án nơi cần tiến hành điều tra trong việc thu thập chứng cứ của vụ án; Toà án được ủy thác có nhiệm vụ thực hiện ngay việc ủy thác và thông báo kết quả cho Toà án đã ủy thác.

Tương tự thu thập chứng cứ trong các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 quy định việc thu thập chứng cứ của Tòa án thông qua xác minh và thu thập chứng cứ; khi cần thiết, Toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác Việc xác minh, thu thập chứng cứ Toà án có thể tự mình tiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, và Toà án được uỷ thác có nhiệm vụ thực hiện ngay sự uỷ thác và thông báo kết quả cho Toà án đã uỷ thác Các hình thức xác minh, thu thập chứng cứ gồm: (1) yêu cầu đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ hoặc trình bày về những vấn đề cần thiết; (2) yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án; (3) yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết; (4) xác minh tại chỗ; (5) trưng cầu giám định; (6) yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc thành lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp.

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp lao động quy định rằng trong quá trình giải quyết vụ án, khi cần thiết, Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và yêu cầu các bên tranh chấp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án lao động được chính xác và công bằng Quá trình thu thập chứng cứ nhằm làm rõ sự thật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên là một phần quan trọng của hoạt động giải quyết tranh chấp lao động, đồng thời tạo điều kiện cho Toà án có đầy đủ căn cứ pháp lý để ra phán quyết phù hợp.

26 Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự N.1989

27 Theo qui định tại Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự N.1989

28 Theo qui định tại Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự N.1989

29 Theo qui định tại Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế N.1994

30 Theo qui định tại Điều 35Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế N.1994

Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp lao động năm 1996 quy định tòa án có thể tự mình tiến hành xác minh và thu thập chứng cứ hoặc ủy thác cho tòa án khác thực hiện; tòa án được ủy thác có trách nhiệm thực hiện ngay việc ủy thác và thông báo kết quả cho tòa án đã ủy thác Các biện pháp thu thập chứng cứ được áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp lao động gồm: yêu cầu đương sự cung cấp hoặc bổ sung chứng cứ và trình bày những vấn đề cần thiết; yêu cầu các bên tranh chấp, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân hữu quan cung cấp chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án; yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết; xác minh tại chỗ; trưng cầu giám định; thành lập hội đồng định giá hoặc yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá tài sản khi cần thiết.

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của Liên bang Nga

Bộ luật Tố tụng dân sự của Liên bang Nga được Quốc hội (Duma) thông qua ngày 23/10/2002, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2003, gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, và được ban hành để thay thế Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga năm 1964; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên bang Nga có cấu trúc hoàn chỉnh với 7 phần và 47 chương.

Sau một thời gian dài áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1964 của Liên bang Nga, các nhà làm luật đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá và tổng kết để đưa ra nhiều cải tiến phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn lịch sử mới Bên cạnh sự thay đổi về số lượng trong cơ cấu của Bộ luật, còn có sự thay đổi về chất lượng khi nhiều nội dung được bổ sung hoàn toàn hoặc sửa đổi ở mức độ đáng kể Những quy định mới được đề cập bao gồm quy định về thủ tục rút gọn, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận văn bản quy phạm pháp luật không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần, quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền tham gia trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga, quy định về thủ tục nhận con nuôi, quy định về hạn chế hoặc tước quyền của người chưa thành niên từ 14–18 tuổi trong việc tự định đoạt thu nhập của mình, và quy định tuyên bố người chưa thành niên có năng lực hành vi.

32 Theo qui định tại khoản 2 Điều 37 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp lao động N.1996

Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1964, đồng thời được bổ sung đầy đủ với một số điểm về thủ tục tố tụng ở cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm, cũng như về thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Chương VI của hệ thống chứng cứ và chứng minh có 33 điều (từ Điều 55 đến Điều 87), quy định chi tiết về chứng cứ và chứng minh, bao gồm nghĩa vụ chứng minh, các loại chứng cứ, thủ tục thu thập, bảo toàn và đánh giá chứng cứ trong thủ tục tố tụng dân sự của Liên bang Nga Theo quy định của Bộ luật dân sự 2003, chứng cứ được thu thập nhưng vi phạm pháp luật không có giá trị pháp lý và không thể được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án Tòa án nước Nga đóng vai trò tiếp nhận, xem xét và đánh giá chứng cứ: tòa án quyết định những tình tiết nào có ý nghĩa đối với vụ án, xác định bên nào có nghĩa vụ chứng minh những tình tiết đó, và những tình tiết nào phải được đưa ra tranh luận và xem xét, mặc dù các bên có thể không viện dẫn đến chúng.

Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án ở Nga tương đồng với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên bang Nga quy định tòa án có quyền yêu cầu các đương sự trình thêm chứng cứ và có quyền thu thập chứng cứ; tuy nhiên, tòa án chỉ đảm nhận vai trò hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong những trường hợp đương sự gặp khó khăn trong việc xuất trình chứng cứ, khi có yêu cầu từ họ tòa án có thể giúp đỡ trong việc thu thập và yêu cầu cung cấp chứng cứ.

Biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án theo Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga khá đa dạng và có nhiều điểm tương đồng với thủ tục tố tụng dân sự của Việt Nam Trong đó, Tòa án có thể xem xét và nghiên cứu chứng cứ tại chỗ, tức là xem xét thư chứng hoặc vật chứng ở nơi bảo quản hoặc lưu giữ khi việc giao nộp chứng cứ tại tòa gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện được Ủy thác thu thập chứng cứ cho phép Tòa án chuyển giao nhiệm vụ cho Tòa án ở địa bàn khác để tiến hành các hành vi tố tụng cần thiết khi chứng cứ nằm ở thành phố hoặc quận khác Trưng cầu giám định được áp dụng khi vụ việc đòi hỏi kiến thức chuyên môn về khoa học, kỹ thuật hoặc các thủ công; việc giám định có thể do cơ quan, tổ chức hoặc chuyên gia được chỉ định thực hiện nhằm làm rõ vấn đề và hỗ trợ quyết định của Tòa án.

34 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung , Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2005, khoản 2, Điều 55, tr.80

35 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, khoản 2, Điều 56, tr.80

36 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, khoản 1, Điều 57, tr.80

37 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, khoản 1, Điều 57, tr.80

38 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 58, tr.81

Pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga có nhiều nét tương đồng với hệ thống Việt Nam nhưng lại đi kèm với các quy định chi tiết và phong phú hơn; cụ thể, Nga có quy định về bảo toàn chứng cứ cho phép các bên tham gia tố tụng yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp bảo toàn khi có lý do cho rằng chứng cứ khó bảo toàn Ngoài ra, các quy định về xem xét và nghiên cứu vật chứng nhanh hỏng được thực hiện ngay tại nơi lưu giữ hoặc tại địa điểm do Tòa án quyết định; sau đó vật chứng được trả lại cho người xuất trình hoặc chuyển cho tổ chức để sử dụng đúng mục đích, và người nắm giữ vật chứng được hoàn trả vật chứng cùng loại, cùng chất lượng hoặc nhận lại giá trị bằng tiền tương đương với trị giá vật chứng Những quy định trên cho thấy pháp luật tố tụng dân sự Nga có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam nhưng được bổ sung, chi tiết và phong phú hơn.

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp

Trong tố tụng dân sự Pháp, tòa án – chủ yếu là thẩm phán – có thẩm quyền rất rộng trong thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án Thẩm phán có thể tự mình quyết định mọi biện pháp thẩm tra mà luật cho phép và tiến hành điều tra, có thể tự thực hiện điều tra hoặc theo yêu cầu của đương sự để lấy lời khai của những người cần thiết nhằm làm rõ sự thật Đối với chứng cứ do đương sự khác quản lý, thẩm phán có quyền yêu cầu họ cung cấp yếu tố cấu thành chứng cứ và, khi cần thiết, có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế Đối với chứng cứ do bên thứ ba quản lý, theo đề nghị của một trong các đương sự, thẩm phán có thể yêu cầu hoặc buộc người thứ ba xuất trình tất cả các tài liệu liên quan nếu không có trở ngại chính đáng, và cũng có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế khi cần thiết.

40 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 79, tr.90

41 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 64, tr.83

42 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 75, tr.89

43 Nhà pháp luật Việt-Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998, Điều 10, tr.9

44 Nhà pháp luật Việt-Pháp,tlđd 43, Điều 218, tr.54

Trong quá trình tố tụng, một bên đương sự có thể dựa vào công chứng thư hoặc tư chứng thư mà họ không tham gia, hoặc vào một tài liệu do người thứ ba đang giữ, để yêu cầu thẩm phán thụ lý vụ kiện ra lệnh cấp cho họ tài liệu hoặc bản sao của tài liệu ấy Quy định này được ghi nhận trong Việt–Pháp, tlđd, Điều 11, trang 9.

Dù Tòa án Pháp có thẩm quyền thu thập chứng cứ rộng, hoạt động này vẫn mang tính chất hỗ trợ và không thay thế nghĩa vụ của các bên đương sự, giống như trong tố tụng dân sự Việt Nam Tòa án chỉ áp dụng biện pháp thẩm cứu khi một vụ việc được nêu ra nhưng chưa đủ các yếu tố cần thiết để chứng minh sự thật Không có bất kỳ trường hợp nào ra lệnh thực hiện biện pháp thẩm cứu nhằm bù đắp cho thiếu trách nhiệm của đương sự trong việc quản lý chứng cứ.

Trong tố tụng dân sự Pháp, thể thức thu thập chứng cứ được thiết kế linh hoạt để thẩm phán tự mình tiến hành mọi biện pháp thẩm cứu cần thiết nhằm làm sáng tỏ vụ việc Thẩm phán có quyền nghe lời trình bày của những người có thể làm sáng tỏ vụ việc cũng như của những người có quyền lợi liên quan, và quyết định mà không lệ thuộc vào bất kỳ thể thức nào Nếu xét thấy yêu cầu là chính đáng, thẩm phán sẽ ra lệnh cấp bản chính, bản sao hoặc sao trích tài liệu được yêu cầu, tùy từng trường hợp và với các bảo đảm do thẩm phán ấn định; nếu không tuân theo có thể bị phạt tiền để cưỡng chế thi hành nếu cần.

Trong tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có sự tương đồng với pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam ở chỗ chỉ tiến hành khi đương sự không tự mình thu thập được chứng cứ; tuy nhiên, luật pháp Pháp quy định thẩm quyền của Tòa án rộng hơn nhiều so với pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền, phạm vi thu thập và cả thủ tục thu thập chứng cứ Bên cạnh nguồn pháp luật thành văn, Án lệ của Tòa án Pháp là một nguồn bổ sung phong phú cho tố tụng dân sự, góp phần vào hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Pháp trong quá trình thẩm phán giải quyết vụ kiện dân sự.

46 Nhà pháp luật Việt-Pháp,tlđd 43, Điều 11, tr.9

47 Nhà pháp luật Việt-Pháp 1998,tlđd 43, Điều 138, tr.38

48 Nhà pháp luật Việt-Pháp 1998,tlđd 43, Điều 145, tr.40

49 Nhà pháp luật Việt-Pháp 1998,tlđd 43, Điều 27, tr.13

50 Nhà pháp luật Việt-Pháp 1998,tlđd 43, Điều 139, tr.38.

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Liên bang Đức

sự của nước Cộng hòa Liên bang Đức

Trong tố tụng dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức, việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ được tiến hành trong một số trường hợp hạn chế Bộ luật Tố tụng dân sự quy định việc thu thập chứng cứ được thực hiện trước Tòa án xét xử và chỉ trong các trường hợp cụ thể mà luật này qui định mới giao cho một thành viên của Tòa xét xử hoặc một Tòa khác thực hiện Khi cần có một thủ tục đặc biệt, sẽ có một quyết định về chứng cứ Tòa án có thể ra một quyết định về chứng cứ trước thủ tục tranh tụng miệng nếu trong đó qui định các trường hợp: (1) thu thập chứng cứ được thực hiện trước Thẩm phán được ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu (Thẩm phán điều tra); (2) yêu cầu cơ quan chức năng Nhà nước cung cấp thông tin; (3) yêu cầu có văn bản trả lời câu hỏi về chứng cứ; (4) trưng cầu kết quả giám định của giám định viên; (5) xem xét tận nơi Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm được giao cho một Thẩm phán của Tòa án xét xử (Thẩm phán được ủy quyền) hoặc Thẩm phán của Tòa án khác (Thẩm phán theo yêu cầu).

Thẩm phán được ủy quyền thu thập chứng cứ trong các trường hợp sau: (1) nếu việc thu thập chứng cứ do một thành viên của Tòa án xét xử thực hiện, thì Thẩm phán chủ tọa công bố quyết định về chứng cứ, quyết định này đồng thời xác định thẩm phán được ủy quyền và thời gian thu thập chứng cứ; (2) nếu không có quy định về thời gian, thì thời gian thu thập do thẩm phán được ủy quyền quy định; nếu thẩm phán này bị cản trở không thực hiện được công việc được giao, thẩm phán chủ tọa sẽ chỉ định một thẩm phán thành viên khác của Tòa để thực hiện thu thập chứng cứ Đối với thẩm phán được yêu cầu, hoạt động thu thập chứng cứ được tiến hành như sau: (1) nếu việc thu thập chứng cứ do một thành viên của Tòa án khác thực hiện, thì thẩm phán chủ tọa ra văn bản yêu cầu thẩm phán này thực hiện thu thập chứng cứ; (2) thẩm phán được yêu cầu chuyển bản gốc kết quả thu thập chứng cứ đã được thực hiện.

51 Điều 355 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

52 Điều 358 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

53 Điều 358 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

54 Điều 358a BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

Điều 361 của BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức quy định rằng kết quả vụ án được gửi cho bộ phận hồ sơ của tòa án và bộ phận hồ sơ có trách nhiệm thông báo cho các đương sự khi nhận được kết quả này.

Bộ luật Tố tụng dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức quy định rằng thẩm phán được ủy quyền hoặc thẩm phán theo yêu cầu có thể chuyển giao việc thu thập chứng cứ cho người khác hoặc cho một thẩm phán khác Quy định này giúp phân bổ nhiệm vụ một cách hợp lý, bảo đảm quá trình thu thập chứng cứ diễn ra với người có thẩm quyền và theo đúng trình tự tố tụng Việc chuyển giao nhằm tăng tính khách quan, nâng cao hiệu quả xử lý vụ án và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp lý về thu thập chứng cứ.

Khi có căn cứ cho thấy việc thu thập chứng cứ được thực hiện bởi một tòa án khác là phù hợp, thẩm phán được ủy quyền hoặc thẩm phán theo yêu cầu có quyền yêu cầu tòa án này tiến hành thu thập chứng cứ (Điều 57).

Hoạt động thu thập chứng cứ tại Tòa án sơ thẩm Cộng hòa Liên bang Đức chỉ được tiến hành khi thật sự cần thiết để bảo đảm quá trình tố tụng diễn ra đúng trình tự và hiệu quả Việc thu thập chứng cứ do thẩm phán thực hiện, và có sự phân biệt giữa các hoạt động được thẩm phán ủy quyền thực hiện với các hoạt động được tiến hành theo yêu cầu của thẩm phán.

56 Điều 362 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

57 Điều 365 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng dân sự, trong đó Tòa án sơ thẩm tiến hành xác minh, phát hiện, thu nhận và tập hợp các thông tin, tình tiết, sự kiện để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật Hoạt động này có vai trò quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, bởi từ quá trình thu thập chứng cứ sẽ đảm bảo có đầy đủ chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, góp phần bảo đảm công lý và quyền lợi hợp pháp của các bên.

Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện là bước đầu tiên của quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm hoàn thiện hồ sơ vụ án Hoạt động này được tiến hành từ khi nhận được đơn khởi kiện cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, và được giới hạn trong phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và các yêu cầu độc lập của các đương sự Nội dung công việc gồm tiếp nhận chứng cứ do các đương sự cung cấp và tiến hành thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện theo các biện pháp quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ những thời kỳ đầu chưa được quy định rõ nét, nhưng ngày càng được các nhà làm pháp luật quan tâm hơn; trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, pháp luật về hoạt động này đang được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện nhằm bảo đảm nguồn chứng cứ đầy đủ phục vụ việc giải quyết vụ án dân sự một cách khách quan, chính xác và toàn diện; không chỉ ở Việt Nam, hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án sơ thẩm trên thế giới cũng không ngừng được hoàn thiện trong pháp luật tố tụng dân sự; để bảo đảm nguồn chứng cứ đầy đủ và kết quả giải quyết vụ án đúng đắn, hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án sơ thẩm phải được các tòa án các cấp nhận thức, quán triệt và thực hiện đồng bộ, có tinh thần trách nhiệm cao trên cơ sở các quy định pháp luật được hoàn thiện.

HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SƠ THẨM

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
28. Trần Văn Châu (2011), “Một vài ý kiến về vấn đề kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong dự thảo sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, (05), tr.19-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về vấn đề kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong dự thảo sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Trần Văn Châu
Năm: 2011
29. Trần Văn Độ (2007), “Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (5/2007), tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2007
30. Lê Thu Hà (2008), “Bàn về nguyên tắc áp dụng luật trong giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (08), tr.21-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nguyên tắc áp dụng luật trong giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Thu Hà
Năm: 2008
31. Nguyễn Thị Minh Hằng (2009), Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị-Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hằng
Nhà XB: Nxb. Chính trị-Hành chính
Năm: 2009
32. Nguyễn Thị Minh Hằng (2007), Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hằng
Năm: 2007
33. Vũ Trọng Hiếu (1998),Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Vũ Trọng Hiếu
Năm: 1998
34. Phan Vũ Linh (2011), “Một số vấn đề về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (05), tr.4-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Phan Vũ Linh
Năm: 2011
35. Nguyễn Quang Lộc (2009), “Phân tích số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại án của ngành Tòa án nhân dân” Tạp chí Tòa án nhân dân, (11), tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại án của ngành Tòa án nhân dân” "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Quang Lộc
Năm: 2009
36. Đoàn Đức Lương (2011), “Hoàn thiện các qui định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (04), tr.6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các qui định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Đoàn Đức Lương
Năm: 2011
37. Tưởng Huy Lượng (2009), Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Tưởng Huy Lượng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 2009
38. Nguyễn Đức Mai (2012), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
39. Hà Thái Thơ (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Hà Thái Thơ
Năm: 2013
40. Nguyễn Văn Tiến-Bành Quốc Tuấn (2011), Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại Cơ quan tư pháp Việt Nam, NXB Lao động, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại Cơ quan tư pháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến-Bành Quốc Tuấn
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
41. Trần Quang Tiệp (2009), Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Tiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
42. Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
43. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân" dân
Năm: 2012
50. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1998
51. Nhóm tác giả (2012), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, Nxb. Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi
Tác giả: Nhóm tác giả
Nhà XB: Nxb. Lao động-xã hội
Năm: 2012
52. Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học
Năm: 2005
22. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp lao động N.1996 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w