Từ những phân tích trên có thể kết luận: hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử tiến hành
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LIÊN
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN
TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN CẤP HUYỆN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ HUYỀN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực
và được trích dẫn theo những nguồn đã được cng bố Kết quả nêu trong luận văn là trung thực
Tác giả
Nguyễn Thị Liên
Trang 3MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU………1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong
2.1 Các trường hợp thu thập chứng cứ của Tòa án……….…….26 2.2 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án ………….… ……29
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN CẤP HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TTDS……….………43
3.1 Thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của các Tòa án cấp huyện ở Hải Phòng ……….……….43
3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tu thập chứng cứ trong TTDS của Tòa án cấp huyện tại thành phố Hải Phòng……… 55
3.3 Phương hướng, kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS ……… 61
PHẦN KẾT LUẬN……… ……… 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, được sửa đổi bổ
sung bởi Luật số 65/2011/QH12
2 HĐĐGTS Hội đồng định giá tài sản
6 PLTTGQCVADS Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
7 TAND Tòa án nhân dân
8 TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
9 TTDS Tố tụng dân sự
10 VADS Vụ án dân sự
11 VVDS Vụ việc dân sự
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
BLTTDS của Việt Nam được xây dựng và hoàn thiện theo hướng tăng cường trách nhiệm chứng minh của đương sự, theo đó đương sự là người có nghĩa vụ cung cấp và thu thập chứng cứ khi đưa ra yêu cầu Nhưng sự hỗ trợ của Tòa án đối với đương sự trong hoạt động này vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết VADS hiện nay BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 tuy đã khắc phục được một số tồn tại, hạn chế của BLTTDS năm 2004 về hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án vẫn còn chưa thực sự hợp lý, thiếu tính rõ ràng, cụ thể dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Những khó khăn, vướng mắc này thể hiện rõ nét khi hoạt động này diễn ra trong quá trình Tòa án cấp huyện giải quyết các VADS, bởi giai đoạn tố tụng đầu tiên của phần lớn các tranh chấp dân sự đều bắt đầu từ Tòa cấp huyện, hồ sơ VADS do chính Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án xây dựng ngay từ khi tiếp nhận đơn khởi kiện của đương
sự Những vụ án được giải quyết theo thủ tục TTDS bao gồm các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động nhưng các tranh chấp dân sự
là loại vụ án có tính chất phức tạp, sự mâu thuẫn giữa các đương sự trong quan hệ này thường rất gay gắt, căng thẳng, số lượng VADS Tòa án cấp huyện thụ lý, giải quyết trong từng năm tương đối lớn so với các tranh chấp khác được giải quyết theo thủ tục TTDS Theo đó, qúa trình giải quyết VADS tại Tòa án huyện trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc Riêng ở Thành phố Hải Phòng thì loại vụ án này lại càng phức tạp bởi Hải Phòng nằm trong vành đai phát triển đô thị, tốc độ đô thị hóa nhanh, trình độ dân trí không đồng đều, công tác quản lý hồ sơ, tài liệu trong nhiều lĩnh vực còn nhiều bất cập Mặt khác, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ Tòa án huyện còn hạn chế Những đặc điểm về điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội, đội ngũ cán bộ Tòa ánnêu trên đã ảnh hưởngđến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết các VADS, dẫn đến tỷ lệ các bản án bị Tòa án cấp trên hủy, sửa hay án quá hạn luật định do lỗi thu thập chứng cứ, án tạm đình chỉ chờ kết quả thu thập chứng cứ vẫn còn nhiều Điều đó ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết án của các đơn vị, uy tín của Tòa án, niềm tin của người dân vào công lý
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cấp huyện thành phố Hải Phòng” làm luận văn thạc sĩ của mình
Trang 62 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là một trong những hoạt động chứng minh quan trọng trong TTDS Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau như: Luận văn tiến sĩ của tác giả Nguyễn Minh Hằng với đề tài “Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2007; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Một số vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng dân sự” do TS Nguyễn Công Bình làm chủ nhiệm năm 2012; gần đây nhất là Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hương với đề tài “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam” Bên cạnh đó là một số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý như: bài viết “Vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp); bài viết “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” của tác giải Hoàng Ngọc Thỉnh (Tạp chí Luật học)…
Những công trình nghiên cứu kể trên nghiên cứu trên phạm vi rộng về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS nói chung Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn giải quyết các VADS theo nghĩa hẹp tại Tòa án cấp huyện
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của PLTTDS Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý trong các quy định hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
- Nghiên cứu thực tiễn cũng như khó khăn khi thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp huyện tại Hải Phòng trong quá trình giải quyết các VADS Đưa ra những phương hướng của việc hoàn thiện pháp luật về thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động thu thập chứng cứ tại Tòa án cấp huyện của thành phố Hải Phòng
3.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các quy định của PLTTDS Việt Nam và một số nước về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết VADS
- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của các Tòa án huyện tại Thành phố Hải Phòng trong quá trình giải quyết VADS theo nghĩa hẹp Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động này của Tòa án trên thực tế Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động thu
Trang 7thập chứng cứ của Tòa án khi giải quyết VADS mà không nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án đối với việc giải quyết việc dân sự
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp được sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội học như lấy số liệu, khảo sát, sửa dụng các kết quả thống kê…
5 KẾT CẦU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
Chương 3: Thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp huyện thành phố Hải Phòng và phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng tụng dân sự
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP
CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS
1.1.1 Khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS
Dưới góc độ ngôn ngữ học thì “hoạt động thu thập chứng cứ” được ghép bởi
ba từ “hoạt động”, “thu thập” và “chứng cứ”, việc lý giải dưới góc độ ngôn ngữ học
và dưới góc độ là một thuật ngữ khoa học pháp lý sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quát hơn về khái niệm “hoạt động thu thập chứng cứ”
Theo từ điển Tiếng việt thì: hoạt động có nghĩa là “làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [5, tr 827] Thu thập được hiểu
là “góp nhặt và tập hợp lại”[21, tr 958]; Chứng cứ được hiểu là “những cái cụ thể như lời nói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì đó có thật” [17, tr 186]
Như vậy, nếu lắp ghép một cách cơ học dưới góc độ ngôn ngữ học, có thể hiểu hoạt động thu thập chứng cứ là: hoạt động động phát hiện, nhặt nhạnh, thu gom các tình tiết, sự kiện, sự việc có liên quan tới một VVDS để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết VVDS
Trong khoa học pháp lý đã có một số khái niệm khác nhau về hoạt động thu thập chứng cứ, như: Theo giáo trình Luật tố tụng Dân sự của Trường Đại học Luật
Hà Nội thì “Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự” [20, tr 164] Khái niệm này đã đề cập đến được bản chất của hoạt động thu thập chứng cứ và bản chất của việc thu thập cũng như mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ trong hoạt động giải quyết VVDS của Tòa án Tuy nhiên, khái niệm trên chưa làm nổi bật lên được chủ thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ trong trường hợp này là Tòa án và tiến hành thu thập chứng cứ qua việc áp dụng một số biện pháp thu thập chứng cứ trong những trường hợp và điều kiện do PLTTDS quy định và thông qua việc áp dụng thủ tục, trình tự cũng như điều kiện chặt chẽ do pháp luật quy định, như vậy các chứng cứ mà Tòa án thu thập được mới có giá trị pháp lý và được sử dụng vào hoạt động giải quyết VVDS
Theo đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Trường Đại học Luật Hà
Nội thì “thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm tìm phát hiện, thu giữ, ghi nhận thêm những bằng chứng cần thiết khác dùng làm căn cứ cho
Trang 9việc giải quyết vụ việc dân sự” [2, tr 98] Khái niệm này đã làm rõ được phạm vi thu
thập chứng cứ của Tòa án là chỉ thu thập thêm những chứng cứ để củng cố hồ sơ cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về VVDS đang giải quyết, đã thể hiện trong nội hàm khái niệm tương đối rõ về mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ Tuy nhiên, khái niệm trên không thể hiện được nội dung là trong trường hợp nào thì Tòa
án tiến hành áp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ? hoặc Tòa án có thể chủ động áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ nào không và trong điều kiện nào, cũng như trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó để đảm bảo tính pháp lý của chứng cứ thu thập được
Hoạt động giải quyết các VADS là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp về quan hệ nội dung giữa các bên có quyền lợi ích tư đối lập nhau và các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau Chính sự bình đẳng về địa vị pháp lý của các chủ thể dẫn đến một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự là: người nào đề ra một yêu cầu đối với người khác thì cần phải có chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình Tòa án chỉ có thể giải quyết đúng VADS khi có đầy đủ các chứng cứ và các sự kiện, tình tiết của vụ án đã được làm sáng tỏ Chính vì vậy, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh được quy định là một trong những nguyên tắc quan trọng trong TTDS, đặt cơ sở nền tảng cho quá trình giải quyết VADS Tuy nhiên, không phải khi nào đương sự cũng thực hiện tốt nghĩa vụ của mình và nguyên tắc trên không phải lúc nào cũng được bảo đảm thực hiện, Nhà nước phải hỗ trợ bằng việc thu thập thêm chứng cứ Nhưng nếu đề cao quá việc thu thập chứng cứ của Tòa án sẽ dẫn đến tình trạng Tòa án vừa đá bóng vừa thổi còi nên PLTTDS phải quy định chỉ trong một số trường hợp nhất định Tòa
án mới thu thập chứng cứ thay cho đương sự Nhưng tùy theo truyền thống tố tụng, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân mà mức độ hỗ trợ của Nhà nước trong việc thu thập chứng cứ của vụ án là khác nhau
Ở một số nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự được đề cao và mức độ hỗ trợ của Nhà nước đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự là rất ít Do đó, hoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự gắn liền với nghĩa vụ chứng minh của họ, vai trò của Tòa án chỉ là người phân xử trên cơ sở các chứng cứ
đã được đương sự cung cấp, tiêu biểu cho những nước này là Mỹ và Anh
Theo PLTTDS của Mỹ thì một vụ kiện thường bắt đầu bằng việc bên khiếu kiện đệ đơn lên Thư ký Tòa án quận, trong đó nêu rõ yêu cầu của mình và viện dẫn những cơ sở pháp lý và thực tiễn ủng hộ cho yêu cầu đó Thư ký Tòa sẽ phát hành
Trang 10trát đòi hầu tòa gửi tới bị đơn kèm theo bản sao của đơn khiếu kiện để báo cho bị đơn biết về việc họ đang bị kiện và khoảng thời gian họ có để tìm cách bảo vệ mình trước đơn khiếu kiện đó Trong giai đoạn tiền tố tụng các bên đương sự phải trao đổi chứng cứ và các nhận định dựa trên những gì họ dự kiến tranh luận trong phiên tòa Điều này nhằm giúp cho các bên tránh được những bất ngờ trong phiên tòa xét
xử đồng thời làm rõ bản chất của vụ kiện Bởi lẽ, trong phiên tòa xét xử việc họ thắng kiện hay thua kiện hoàn toàn phụ thuộc vào việc họ có đưa ra được những chứng cứ để thuyết phục Thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn hay không? Phiên tòa sẽ được tiến hành bằng cách các bên đưa ra nhân chứng và cung cấp chứng cứ, Thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn sẽ dựa hoàn toàn vào các bằng chứng đó để ra phán quyết Tương tự như vậy, ở Anh, phiên tòa xét xử là cơ hội để các luật sư tranh tụng thể hiện tài năng biện hộ của mình Mọi tình tiết chứng cứ của vụ án sẽ được các bên đưa ra và tranh luận ngay tại phiên tòa, Thẩm phán sẽ chỉ dựa vào đó để đưa ra các phán quyết của mình [18, tr 248, 284]
Như vậy, đối với những nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng, thì nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các bên đương sự được đề cao, Tòa án chỉ
là người phân xử trên cơ sở các chứng cứ do đương sự cung cấp Vì vậy, việc thu thập chứng cứ do chính các bên hoặc luật sư của họ thực hiện với sự trợ giúp của Tòa án, thông qua việc buộc bên kia phải trả lời, phải tuyên thệ, đối chất, đưa ra các tài liệu để làm sáng tỏ nội dung vụ việc
Trong khi đó, hệ thống pháp luật của những nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi dù vẫn quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS thuộc về các đương sự nhưng mức độ hỗ trợ của Nhà nước đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự lại nhiều hơn Như trong PLTTDS của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga hay Trung Quốc , nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh vẫn được xác định là trước tiên thuộc về các đương sự, họ phải thực hiện nghĩa vụ này ngay từ khi khởi kiện – giải đoạn đầu tiên của hoạt
động tố tụng Điều 6 BLTTDS Pháp quy định: “Các bên đương sự có nghĩa vụ viện dẫn các tình tiết cụ thể làm căn cứ cho các yêu cầu của mình”[3, tr 8] và tại Điều 9:
“Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của mình”[3, tr 9] Điều 56 BLTTDS của Liên bang Nga lại quy định: “Mỗi bên có nghĩa vụ phải chứng minh những tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu của mình hay sự phản đối yêu cầu của bên kia, nếu luật liên bang không quy định khác” [8] Khi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
VVDS của mình bên nguyên đơn cần chú ý là đơn khởi kiện phải được viết thành
Trang 11văn bản và phải nêu rõ những tình tiết mà dựa vào đó họ đã đưa ra yêu cầu, những chứng cứ làm cơ sở cho những tình tiết đó (Điều 131 BLTTDS Liên bang Nga) [8] Trong quá trình tố tụng các bên đương sự phải trình cho Thẩm phán đơn khởi kiện chung nêu rõ các yêu cầu của mỗi bên, những điểm mà các bên còn bất đồng cũng như các căn cứ tương ứng của mỗi bên Trong đơn khởi kiện chung này các bên phải ghi rõ những căn cứ chứng minh cho các yêu cầu của mình, nêu không đơn sẽ
bị bác bỏ (Điều 57 BLTTDS Liên bang Nga) [8] Tuy nhiên, trong những trường hợp vì lý do khách quan và chủ quan các đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ thì Tòa án có thể hỗ trợ họ Điều 57 BLTTDS của Liên bang Nga quy
định: “trong trường hợp những người tham gia tố tụng gặp khó khăn trong việc xuất trình chứng cứ, theo yêu cầu của họ Tòa án có thể giúp đỡ trong việc thu thập
và yêu cầu cung cấp chứng cứ” [8] PLTTDS của Pháp cũng quy định nếu trong quá trình tố tụng, một bên đương sự dựa vào một công chứng thư hoặc tư chứng thư
mà họ không tham gia hoặc một tài liệu do người thứ ba đang giữ, họ có thể yêu cầu thẩm phán thụ lý vụ kiện ra lệnh cấp cho họ tài liệu và bản sao tài liệu ấy (Điều
138) [3, tr 38] BLTTDS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng quy định việc chứng minh thuộc về các đương sự, theo đó, các bên đương sự có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ cho Tòa án và chịu trách nhiệm về việc cung cấp chứng cứ của mình Tòa án không có nghĩa vụ điều tra mà chỉ trong trường hợp chứng cứ do hai bên đương sự cung cấp trái ngược, mâu thuẫn nhau thì Tòa án phải điều tra để xác định
sự thật hoặc trong trường hợp đương sự không tự mình cung cấp được chứng cứ thì Tòa án sẽ hỗ trợ và tiền hành xác minh sự thật [15, tr 38]
Như vậy, đối với những nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi, vai trò của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ được đề cao Thẩm phán bao giờ cũng có trong tay toàn bộ tài liệu về quá trình thu thập chứng cứ, là người đặt câu hỏi cho những người tham gia phiên tòa Thẩm phán có quyền tự mình quyết định áp dụng mọi biện pháp thẩm cứu mà pháp luật cho phép, tuy vậy, các bên đương sự có nghĩa vụ giúp Thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ
Ở Việt Nam, PLTTDS cũng theo truyền thống xét hỏi, về nguyên tắc đương
sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình và Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp pháp luật có quy định Tại Điều 6 BLTTDS dành sự chủ động và xác định nghĩa vụ nhiều hơn cho các đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh Tuy nhiên, hiện nay, khi sự hiểu biết pháp luật của đa số đương sự ở nước ta vẫn còn
Trang 12thấp, khả năng tự bảo vệ còn hạn chế, điều kiện kinh tế còn thấp, trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của các cơ quan, tổ chức lưu giữ còn hạn chế, nên nếu quy định các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh toàn bộ yêu cầu của mình thì có thể dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và hậu quả là quyền và lợi ích hợp pháp, quyền tiếp cận công lý của họ không được bảo vệ Trong lúc đó, một bên đương sự khác có thể được hưởng lợi không có căn cứ chỉ do đương sự có quyền đã không có khả năng chứng minh được quyền của mình Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên nói chung và bảo về quyền tiếp cận công lý của đương sự, Tòa án vẫn cần phải hỗ trợ các đương sự ở một mức độ nhất định
Như vậy, dù theo truyền thống TTDS nào thì đương sự vẫn là những chủ thể đầu tiên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Đây là hoạt động khởi nguồn, quyết định tới các hoạt động khác mà cội nguồn của hoạt động này xuất phát từ nguyên tắc
“quyền tự định đoạt của đương sự” Theo đó, khi đương sự đưa ra yêu cầu không có bất kỳ bằng chứng, lý lẽ nào chứng minh cho quyền lợi hợp pháp của mình thì Tòa
án sẽ từ chối thụ lý vụ kiện, vì vậy không làm phát sinh bất cứ một hoạt động tố tụng nào tiếp theo Kết quả giải quyết VADS trước hết phụ thuộc vào các chứng cứ, tài liệu do các đương sự cung cấp Chứng cứ càng đầy đủ, chính xác thì vụ kiện càng được giải quyết nhanh chóng, công bằng và hợp lý Quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh chủ yếu là của đương sự đưa ra yêu cầu, Tòa án chỉ hỗ trợ khi họ không thể tự mình thực hiện được và trong những trường hợp pháp luật quy định Song, suy cho đến cùng, việc cung cấp chứng cứ của đương sự và những người tham gia tố tụng khác cũng như việc thu thập chứng cứ của Tòa án thực chất
là hai công việc có cùng mục đích là giúp Tòa án có được những chứng cứ của vụ
án, giải quyết vụ án chính xác, khách quan, đúng thời hạn luật định Đây là hoạt động chiếm một khối lượng công việc lớn nhất, nhiều thời gian nhất trong quá trình giải quyết VADS
Về lý luận thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS cần được hiểu như thế nào cho phù hợp? Hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS của Tòa
án có phải là hoạt động chứng minh giải quyết vụ việc dân sự hay không? Đây là vấn đề cần phải làm rõ về lý luận để tạo cơ sở cho việc đánh giá các quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá, theo Từ điển Tiếng Việt các hoạt
động này là chứng minh: Chứng minh là “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng
Trang 13sự việc hoặc bằng lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng”
[9, tr 192] Chứng minh là một dạng hoạt động phổ biến của con người trong đời sống xã hội hàng ngày, đi đôi với sự khám phá, tìm tòi và là một trong những phương thức cơ bản để con người nhận thức tự nhiên và xã hội
Dưới góc độ khoa học pháp lý thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những dấu vết lưu lại trong thế giới vật chất hay trong tư duy có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quan hệ đã hình thành, hành vi đã diễn ra và các sự việc liên quan đã tồn tại
Về lý luận thì vật chất đã được sinh ra thì không bao giờ mất đi, nó chỉ có thể chuyển hòa từ dạng này sang dạng khác, mọi sự vật hiện tượng có mối liên hệ phổ biến Khi một quan hệ pháp luật được hình thành, quan hệ đó được thể thiện dưới những hình thức khác nhau của vật chất Điều đó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với quá trình chứng minh nói chung và đối với quá trình xác định sự thật khách quan thông qua việc đánh giá chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết các VVDS nói riêng
Khi thụ lý giải quyết VADS Tòa án phải làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến vụ việc, để thực hiện được điều này Tòa án phải nghiên cứu những chứng
cứ khác nhau do đương sự cung cấp cũng như những chứng cứ tự mình thu thập được để xác định những tình tiết của vụ việc Tuy nhiên, để có thể làm rõ các tình tiết, sự kiện của VADS thì Tòa án cần phải thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ liên quan để tái hiện sự thật khách quan Hoạt động chứng minh là một hoạt động then chốt, quan trọng nhất và được diễn ra trong suốt quá trình giải quyết VVDS, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng như cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ Tuy nhiên, xét theo nghĩa rộng thì bên cạnh các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ thì hoạt động chứng minh của các chủ thể còn bao hàm cả việc làm rõ các cơ sở pháp lý liên quan đến các yêu cầu trong VVDS
Đối với Tòa án, hoạt động chứng minh là công cụ để Tòa án có thể nhận thức được chính xác sự việc đã xẩy ra trên thực tế Trong đó, cung cấp chứng cứ là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại cho Tòa án, Viện kiểm sát các chứng cứ của VVDS Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ Thu thập chứng cứ là hoạt động tiếp theo do các chủ thể chứng minh thực hiện nhằm phát hiện các chứng cứ của VVDS Nghiên cứu chứng cứ là hoạt động do các chủ thể tố tụng tiến hành trong suốt quá trình TTDS nhằm kiểm tra các thuộc tính của chứng cứ Đánh giá chứng cứ là hoạt động cuối cùng của quá trình chứng minh do các chủ thể chứng
Trang 14minh thực hiện nhằm xác định giá trị chứng minh của chứng cứ Trong đó việc đánh giá chứng cứ của Tòa án là quan trọng nhất vì Tòa án là chủ thể có quyền sử dụng chứng cứ để giải quyết VVDS
Với tư cách là cơ quan bảo vệ công lý Tòa án sẽ ghi nhận các chứng cứ, tài liệu này Nếu xét thấy chưa đủ chứng cứ, tài liệu để giải quyết VVDS thì Tòa án có thể yêu cầu các đương sự cung cấp thêm Tuy nhiên, để thực hiện vai trò của mình
và bảo đảm việc giải quyết đúng các VVDS, Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng
cứ trong trường hợp đương sự không có khả năng thu thập và yêu cầu Tòa án hỗ trợ hoặc trong trường hợp mà pháp luật quy định Việc thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm hoàn thiện hồ sơ VVDS thường được tiến hành trước khi mở phiên tòa, còn tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử chủ yếu chỉ thẩm tra, đánh giá về độ tin cậy, giá trị chứng minh của chứng cứ Có thể nhận thầy rằng, Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý,
có trách nhiệm chủ yếu trong việc xác định sự thật khách quan và ra phán quyết giải quyết vụ việc, cho nên pháp luật cần ghi nhận một phạm vi rộng các biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án có thế tiến hành và lựa chọn tùy theo từng VVDS Tuy nhiên, để phòng ngừa sự lạm quyền của Tòa án, tránh việc làm thái quá gây tổn hại đến quyền của đương sự, nhà lập pháp cũng có quy định rạch ròi và giới hạn các biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án có thể áp dụng cũng như trình tự, thủ tục phải tuân thủ khi tiến hành thu thập chứng cứ
Từ những phân tích trên có thể kết luận: hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử tiến hành tập hợp, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng
cứ liên quan đến vụ việc dân sự theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm
hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác, khách quan, đúng thời hạn luật định
1.1.2 Đặc điểm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước
Tính quyền lực Nhà nước của hoạt động này thể hiện ở chỗ các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án tiến hành có tính ràng buộc trách nhiệm với các chủ thể liên quan Chẳng hạn như, đương sự, người làm chứng có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; cơ quan hữu quan phải phối hợp với Tòa án trong việc tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, cử người tham gia Hội đồng định giá; Tòa án nhận ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc ủy thác thu thập chứng
cứ trong thời hạn luật định…
Trang 15Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể tố tụng khác như đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Bời vì, hoạt động thu thập chứng cứ của chủ thể trên nhằm thu thập các chứng cứ cung cấp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu tố tụng của mình hay phản bác yêu cầu tố tụng của đối phương Các hoạt động thu thập chứng cứ này không mang tính quyền lực Nhà nước như hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS do Thẩm phán được phân công giải quyết VVDS hoặc Hội đồng xét xử tiến hành
Đặc điểm này là dấu hiệu để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ trong
tố tụng hình sự Việc thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự là thuộc trách nhiệm của cơ quan điều tra Tòa án khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự, nếu xét thấy các tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ thì Tòa án ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra
bổ sung mà không trực tiếp thực hiện công việc thu thập chứng cứ như trong TTDS
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS do Thẩm phán giải quyết vụ việc hoặc do Hội đồng xét xử vụ án tiến hành là dấu hiệu để khẳng định quyền năng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong việc thu thập chứng cứ đối với các VVDS Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ việc hoặc thành viên Hội đồng xét xử là người nắm rõ nội dung vụ việc nhất, là những người chịu trách nhiệm về kết quả của việc giải quyết vụ việc Chánh án, Phó Chánh án không có vai trò trong việc thu thập chứng cứ để giải quyết vụ việc Thư ký Tòa án cũng không
có quyền thu thập chứng cứ mà chỉ là người giúp việc, hỗ trợ cho Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong một số hoạt động thu thập chứng cứ khi được Thẩm phán, Hội đồng xét xử phân công Theo PLTTDS Việt Nam, trong thời hạn chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán là người trực tiếp xây dựng hồ sơ VADS, có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 85 BLTTDS
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh và bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được chính xác, khách quan
Khi tham gia tố tụng, các đương sự có nghĩa vụ chứng minh, do vậy họ phải thu thập chứng cứ giao nộp cho Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình Một trong các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong TTDS là nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự Vì vậy, đương sự phải tiến hành thu thập chứng cứ
để cung cấp cho Tòa án, nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh trước tiên thuộc
về đương sự, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chỉ mang tính hỗ trợ cho đương sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ sở quyết định của Tòa án
Trang 16Không phải VVDS nào Tòa án cũng tiến hành các hoạt động thu thập chứng
cứ như nhau mà tùy thuộc vào yêu cầu của từng vụ việc, Tòa án sẽ tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ cần thiết, phù hợp Trong nhiều vụ việc khả năng bảo
vệ của đương sự yếu, chứng cứ đương sự không tự thu thập được…, nếu đợi chứng
cứ do đương sự giao nộp, cung cấp thì vụ việc sẽ bị kéo dài mà không có hướng giải quyết, dẫn đến tình trạng án quá hạn luật định, án bị hủy hoặc sửa Trong trường hợp này Tòa án sẽ tiến hành thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định trên cơ sở yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết để đảm bảo giải quyết VVDS được chính xác, khách quan và kịp thời
Tùy theo truyền thống tố tụng mà pháp luật mỗi nước có sự hỗ trợ đối với nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự là khác nhau Theo PLTTDS của Mỹ, Tòa án giải quyết vụ kiện trên cơ sở chứng cứ do các bên đương
sự đưa ra và các bên đương sự có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ cho nhau hay phải trả lời câu hỏi của phía bên kia đưa ra Trong trường hợp không cung cấp chứng cứ và không trả lời câu hỏi của phía bên kia thì Thẩm phán sẽ hỗ trợ bằng cách ra lệnh buộc cung cấp chứng cứ hay buộc phải trả lời câu hỏi Nếu người được Thẩm phán ra lệnh nhưng không chấp hành việc cung cấp chứng cứ hoặc không trả lời cho phía bên kia thì Thẩm phán sẽ áp dụng biện pháp chế tài đối với họ Trong trường hợp người đó là bị đơn thì Thẩm phán sẽ quyết định giải quyết vụ kiện hoàn toàn trên chứng cứ do nguyên đơn xuất trình trước Tòa Đây là khả năng có thể xẩy
ra nên các đương sự đã tự nguyện hơn trong việc cung cấp chứng cứ cho nhau, cũng như chấp hành các quy định của Luật, Lệnh của Tòa án [13, tr 22] Với pháp luật của những nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi thì sự hỗ trợ của Tòa án lại nhiều hơn Trong PLTTDS của Pháp hay của Trung Quốc thì Thẩm phán tiến hành các hoạt động điều tra để giúp đương sự thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không tự thu thập được chứng cứ và có đơn đề nghị Thẩm phán Hay BLTTDS của nước ta cũng quy định Thẩm phán có quyền chủ động tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ khi thấy cần thiết trong quá trình giải quyết VVDS
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Thông tin về VVDS phải đảm bảo tính hợp pháp mới được sử dụng làm căn
cứ giải quyết vụ kiện Theo đó, những thông tin về vụ việc phải được Tòa án thu thập từ các nguồn hợp pháp và theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Đặc điểm này nhằm bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ, tránh sự lạm quyền hay tùy tiện của Tòa án, ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến quyền lợi của đương sự
Trang 17Các sự kiện, tình tiết để trở thành chứng cứ trong VVDS có giá trị chứng minh cho yêu cầu hay phản yêu cầu của các bên thì cần phải được thu thập, bảo quản, củng cố, nghiên cứu và đánh giá theo một thủ tục do luật định Trình tự này nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ, buộc Tòa án tiến hành tố tụng một cách thận trọng, chặt chẽ; vừa đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan của các chứng
cứ do Tòa án thu thập và sử dụng, từ đó các phán quyết của Tòa án có được sức thuyết phục cao, thể hiện tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật Chứng cứ sẽ mất giá trị nếu trong quá trình thu thập có sự vi phạm quy định của pháp luật
Bên cạnh quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ và chứng minh của đương sự, thì PLTTDS của các nước đều quy định trình tự, thủ tục khi Tòa án tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ nhằm đảm bảo chứng
cứ có giá trị pháp lý làm căn cứ giải quyết VVDS Theo PLTTDS Việt Nam khi tiến hành thu thập chứng cứ Tòa án phải tuân thủ các thủ tục thu thập chứng cứ được quy định từ Điều 85 đến Điều 94 BLTTDS, chẳng hạn khi tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ xem xét, thẩm định tại chỗ Tòa án phải ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ, việc xem xét thẩm định tại chỗ phải do Thẩm phán tiến hành với sự có mặt của đại diện UBND xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định…theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 89 BLTTDS
1.2 Cơ sở của các quy định pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS
- Xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa xuất phát từ nhiệm vụ quyền hạn của Tòa án trong TTDS
Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền xét xử nhằm ổn định, giữ vững các quan hệ xã hội, việc xét xử của Tòa án dựa trên các chứng cứ, tình tiết liên quan đến sự việc có tranh chấp Trong TTDS, để đảm bảo cho việc giải quyết VVDS được nhanh chóng, khách quan, bảo đảm quyền và lích hợp pháp của các bên thì cần phải dựa trên các chứng cứ Về nguyên tắc đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, song trong nhiều trường hợp đương sự không có khả năng hoặc không thể thực hiện được việc thu thập chứng cứ Do đó, ở các mức độ khác nhau, pháp luật các nước đều quy định cơ chế hỗ trợ của Tòa án đối với nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong những trường hợp cần thiết Chẳng hạn ở Anh, Mỹ thì PLTTDS quy định việc cung cấp chứng cứ và thu thập chứng cứ do đương sự hoặc luật sư của họ thực hiện, Tòa
án chỉ hỗ trợ họ bằng việc ra các lệnh buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải cung cấp chứng cứ hay buộc đương sự phải trả lời câu hỏi của phía bên kia, chứ Tòa án không trực tiếp tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ như lấy lời khai của
Trang 18đương sự, người làm chứng…Đối với pháp luật của Pháp hay Nga lại hỗ trợ đương
sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh nhiều hơn bằng cách trực tiếp tiến hành điều tra, xác minh các tình tiết của vụ kiện khi đương sự không thể thực hiện được hoặc trong trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết để thu thập thêm chứng cứ Ở Việt Nam, Tòa án với tư cách là cơ quan công lý giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân lao động trong quá trình giải quyết vụ việc, nên Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn các bên đương sự cung cấp chứng cứ; có nghĩa vụ xác minh chứng cứ các bên đưa ra và hỗ trợ các bên đương
sự khi họ không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu
Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, do đó Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh, song trong quá trình tố tụng Tòa án vẫn phải hỗ trợ các bên đương sự trong việc tìm ra sự thật khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ bởi: Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng xét xử, thiết lập lại các quan hệ nội dung bị vi phạm hay tranh chấp, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Và trong một số trường hợp do trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế, sự chây ỳ, chống đối của phía đương sự đối lập, sự trì trệ trong việc cung cấp thông tin của các cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ dẫn đến có những việc mà bản thân đương sự không thể thực hiện việc thu thập chứng cứ được cần phải có sự hỗ trợ, can thiệp của Tòa án
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải phù hợp với đặc điểm truyền thống tố tụng
Tùy theo truyền thống tố tụng mà pháp luật mỗi nước đều có cơ chế hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh khác nhau Ở những nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng hoàn toàn không quy định trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án, việc cung cấp chứng cứ để chứng minh vụ việc hoàn toàn thuộc nghĩa vụ của các bên đương sự Còn đối với những nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi thì ngược lại, việc thu thập chứng cứ được các bên đương sự tiến hành trước khi phiên tòa được mở nhưng Tòa án sẽ hỗ trợ họ trong trường hợp nhất định
Ở Việt Nam, vai trò của Thẩm phán được đề cao trong việc hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh Theo đó, Thẩm phán là người được phân công giải quyết vụ án, là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án, thu thập các tài liệu chứng cứ
để giải quyết vụ án Quá trình tiếp nhận các tài liệu chứng cứ do đương sự xuất trình hoặc thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự cũng chính là quá trình xây dựng
hồ sơ vụ án Để đảm bảo việc giải quyết VADS được khách quan, công bằng đúng pháp luật, Thẩm phán có nhiệm vụ sử dụng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để nghiên cứu, đánh giá, lựa chọn và sàng lọc những chứng cứ dùng làm
Trang 19căn cứ đưa ra phán quyết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án Trước đây, Điều 3
PLTTGQCVADS quy định: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Toà án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác” Ở quy định này, thì vai trò hỗ trợ của Tòa án đối với nghĩa vụ chứng
minh của đương sự được đề cao, nhưng đến BLTTDS thì sự hỗ trợ của Tòa án chỉ
trong trường hợp pháp luật có quy định cụ thể, Điều 6 BLTTDS quy định: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước
Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng các dịch vụ pháp lý của Việt Nam chưa phát triển, sự hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế, còn sự chênh lệch lớn ở các vùng miền, đặc biệt ở những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu, chứng cứ chưa sẵn sàng cung cấp thông tin như một dịch vụ để người dân có thể dễ dàng tiếp cận được, những thông tin này nhiều lúc, nhiều nơi còn là bí mật không thể tiết lộ, không thể công khai khi người dân có nhu cầu được cung cấp Chính vì vậy, pháp luật cần quy định cơ chế hỗ trợ cho người dân có thể thuận tiện tìm kiếm thông tin để thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình khi tham gia tố tụng và sự hỗ trợ của Tòa án trong việc đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh là cần thiết trong điều kiện hiện nay của nước ta Tuy nhiên, việc xây dựng các quy định về thu thập chứng cứ của Tòa
án cũng phải tính đến yêu tố hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của sự hội nhập mạnh, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với khu vực và thế giới Vì thế, PLTTDS nói chung, quy định về hoạt động thu thập chứng cứ nói riêng cần hoàn thiện hơn để thích ứng được với những thay đổi của kinh tế xã hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải xuất phát từ việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân
Trang 20Hoạt động TTDS hiện nay phải vừa là phương tiện hữu hiệu để người dân có thể sử dụng trong việc bảo vệ quyền lợi cho mình, vừa là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các quan hệ xã hội đã, đang và sẽ phát sinh trong cuộc sống Muốn vậy, việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải gắn với các yêu cầu bảo vệ công lý, bảo đảm các quyền TTDS của người dân
Tiếp cận công lý là khả năng của công dân có thể tìm kiếm và đạt được một
sự đền bù hoặc khắc phục cho những bất công hoặc thiệt hại do cá nhân hay chủ thể khác gây ra, thông qua các cơ chế tư pháp chính thống hoặc không chính thống phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người [5] Như vậy, quyền tiếp cận công lý là khả năng chủ thể yêu cầu Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để sử dụng pháp luật nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của mình tại
cơ quan Nhà nước khi có tranh chấp hoặc xử lý vi phạm pháp luật
Về nguyên tắc, Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc theo quy định của pháp luật sau khi đã thụ lý vụ án Do đó, nếu quy định khi khởi kiện đương sự phải cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp thì trong nhiều trường hợp, vì nhiều lý do khác nhau mà đương sự không thể cung cấp được các tài liệu đó để nộp cho Tòa án, hệ quả là đương sự không thể thực hiện quyền khởi kiện của mình và như vậy, quyền tiếp cận công lý của công dân bị ảnh hưởng
Để đảm bảo mọi công dân có thể tiếp cận công lý bằng con đường thuận tiện, nhanh nhất, pháp luật cần có cơ chế hỗ trợ để giúp người dân khi họ không thể thực hiện được Việc thu thập chứng cứ ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đương sự có thể yêu cầu Thừa phát lại thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa án khi khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án
Việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân luôn gắn với vấn đề thực thi công lý của Tòa án Quá trình yêu cầu Tòa án thực thi công lý chính là quá trình tiếp cận công lý của công dân, quá trình đó bắt đầu từ nhu cầu được tiếp cận công lý
và kết thúc là kết quả phán quyết và thực hiện phán quyết của Tóa án Để tiếp cận được với công lý người dân phải được biết và có khả năng để biết công lý nằm ở đâu, đến với công lý bằng con đường nào và với phương tiện gì? Muốn vậy, những quy định về hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS cần phải tạo điều kiện để công dân biết và thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình, vừa phải tạo điều kiện
để Tòa án thu thập chứng cứ trong các trường hợp cần thiết để tìm ra sự thật khách quan, giúp cho việc giải quyết VVDS thực sự công bằng và thuyết phục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước những hành vi xâm phạm
Trang 21- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải bảo đảm tính trung thực, khách quan, vô tư
Trong TTDS các đương sự không những có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình mà còn bình đẳng với nhau trong việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án, vì vậy khi có yêu cầu của đương sự hoặc trong trường hợp pháp luật có quy định Tòa án tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ để hỗ trợ cho nghĩa vụ chứng minh của họ Song nếu Tòa án không vô tư, không khách quan, không trung thực trong khi tiến hành thu thập chứng cứ hay không đánh giá, sử dụng chứng cứ một cách vô tư, khách quan thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án không có ý nghĩa, dẫn đến phán quyết của Tòa án không đảm bảo quyền và lợi ích của công dân
Tính trung thực, khách quan, vô tư thể hiện ở việc tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, tiến hành công việc của mình với thái độ thực sự công tâm, khách quan,
vô tư, không để những quan hệ, tình cảm cá nhân chi phối vào công việc Không được có thái độ thiên vị hay định kiến đối với bất kỳ người tham gia tố tụng nào, tạo điều kiện để mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật PLTTDS đã quy định cụ thể những trường hợp người tiến hành tố tụng phải từ chối hoặc bị thay đổi để đảm bảo được yêu cầu trên của hoạt động TTDS, nhằm mục đích để việc thu thập chứng
cứ của Tòa án có hiệu quả, có tình thuyết phục cao Ngoài ra khi xây dựng các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ cần cụ thể hóa các biện pháp thu thập mà Tòa
án được phép tiến hành nhằm tránh sự tùy tiện, lạm quyền Đồng thời phải thiết lập các thủ tục chặt chẽ, có cơ chế kiểm soát để bảo đảm tính khách quan, độ tin cậy của các thông tin mà Tòa án thu thập được
1.3 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS Việt Nam dưới góc nhìn lịch sử
1.3.1 Giai đoạn trước ngày 01/01/2005
Trước ngày 01/01/2005 các hoạt động TTDS nói chung và hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói riêng được điều chỉnh bởi các công văn hướng dẫn nghiệp vụ của TANDTC, thông tư liên tịch, bởi các văn bản dưới luật như PLTTGQCVADS Theo các văn bản này thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án để làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp dân sự được thể hiện đậm nét trong giai đoạn này gắn liền với sự hình thành của chế định điều tra trong TTDS Theo
đó, điều tra VADS được hiểu là tổng hợp những hành vi TTDS mà Tòa án và Viện kiểm sát tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thu thập, nghiên cứu và bước đầu đánh giá chứng cứ để giúp Tòa án có những quyết định đúng đắn về vụ án trong giai đoạn xét xử
Trang 22Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đã được xác định rõ ngay từ thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo quy định tại
Thông tư số 06/TATC ngày 25/02/1974 quy định: “Thẩm phán yêu cầu các đương
sự xuất trình các giấy tờ cần thiết để chứng minh những yêu cầu của họ, như văn tự mua bán, vay mượn, giấy đồng, biên lai, chúc thư…” [14, tr 62] Trong giai đoạn
này, trách nhiệm xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án được ghi nhận khá rõ ràng Công văn số 96/NCPL ngày 08/02/1977 của TANDTC hướng dẫn về trình tự
xét xử sơ thẩm có nêu: “Khi đương sự khởi tố, TAND phải tích cực chủ động việc điều tra, thu thập chứng cứ, chứ không nên cho rằng đương sự đề xuất chứng cứ đến chừng mực nào thì TAND chỉ căn cứ vào những chứng cứ đó để xét xử” [14, tr
68] Theo tinh thần của Công văn số 96/NCPL, thì việc thu thập chứng cứ làm căn
cứ để giải quyết vụ án thuộc trách nhiệm của Tòa án, gánh nặng nghĩa vụ chứng minh đè nặng lên vai Tòa án
Các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong hướng dẫn của Thông tư được sử dụng trong suốt thời kỳ này cho đến khi PLTTGQCVADS được ban hành năm 1989 Tuy nhiên, những hướng dẫn này tính pháp lý không cao
và không mang tính bao quát, đối với những quan hệ pháp luật tranh chấp mà không được hướng dẫn, khi giải quyết VADS Thẩm phán lúng túng trong hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ
PLTTGQCVADS được ban hành ngày 29/11/1989 đã tạo ra hành lang pháp
lý để Tòa án tiến hành giải quyết các VADS, lần đầu tiên quy định nguyên tắc nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ của đương sự được ghi nhận chính thức trong văn bản pháp luật Điều 3 PLTTGQCVADS quy định: Các đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc có yêu cầu cơ quan tiến hành TTDS ra một phán quyết trong quá trình tiến hành tố tụng phải cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó Hay quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của Viện kiểm sát hay tổ chức xã hội khi khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung thì Viện kiểm sát hoặc tổ chức xã hội đó có nghĩa vụ thu thập và cung cấp chứng cứ (Khoản 3, Điều 28 và Điều 29 PLTTGQCVADS) Thời kỳ này nghĩa vụ chứng minh của đương sự chưa được đề cao, pháp luật rất hạn chế các quy định tạo điều kiện cho đương sự dễ dàng, chủ động trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ, vai trò chứng minh chủ yếu vẫn thuộc về Tòa án Để giải quyết vụ kiện dân sự một cách khách quan và đúng pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và những chứng cứ đương sự xuất trình ban đầu, vì vậy Điều 3 PLTTGQCVADS đã xác định trách nhiệm của
Tòa án phải “xem xét mọi tình tiết vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng
cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác”
Trang 23Trong giai đoạn này trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án để hoàn thiện
hồ sơ vụ án giữ vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động chứng minh, Tòa án gánh thay nghĩa vụ chứng minh của đương sự, trách nhiệm nặng nề đặt lên vai Thẩm phán Sở dĩ, PLTTDS thời kỳ này quy định nhiệm vụ điều tra của Thẩm phán khi giải quyết các VADS do điều kiện của đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, đang trong quá trình xây dựng, đổi mới, người dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật và trình độ văn hóa của đại đa số các đương sự còn thấp, các đơn kiện
và lời trình bày của họ không rõ ràng và đầy đủ Bên cạnh đó là các dịch vụ pháp lý chưa phát triển rộng rãi và người dân cũng không có điều kiện kinh tế để tiếp cận các dịch vụ này cho nên Tòa án phải tích cực giúp đỡ các đương sự hiểu rõ những quyền lợi hợp pháp của họ để họ đề xuất được những yêu cầu và giúp họ biết đề xuất những chứng cứ để chứng minh
1.3.2 Giai đoạn từ ngày 01/01/2005 đến nay
Năm 2004, BLTTDS đầu tiên của nước ta được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005, sự ra đời của BLTTDS đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong lịch sử PLTTDS của Việt Nam Trên cơ sở khắc phục những bất cập và khoảng trống của PLTTDS trước đây, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án có nhiều thay đổi rõ nét, trách nhiệm điều tra của Tòa án gần như được loại bỏ, Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong một số trường hợp mà pháp luật quy định Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự được đề cao trên
tinh thần “việc dân sự cốt ở đôi bên”, Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ
chứng minh của mình khi cần thiết và phải tuân theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Sau sáu năm thực hiện, năm 2011 BLTTDS được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn, tạo sự phù hợp, thống nhất với các văn bản pháp luật khác và phù hợp với tình hình thực tiễn Theo đó thì việc thu thập chứng cứ của Tòa án không chỉ bó hẹp trong trường hợp khi đương sự không thể tự mình thu thập được chứng
cứ và có yêu cầu mà được mở rộng hơn theo quy định của pháp luật; các quy định
về các biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án thực hiện được bổ sung, sửa đổi phù hợp hơn với thực tế Với quy định hiện hành của BLTTDS về nghĩa vụ chứng minh của đương sự thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án đang giữ đúng vai trò chỉ
hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong quá trình tố tụng
1.4 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS của một số nước trên thế giới
1.4.1 Hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS của Anh, Mỹ
Pháp luật của Anh và Mỹ là hệ thống pháp luật theo truyền thống tranh tụng, theo đó trong TTDS đề cao vai trò thu thập chứng cứ của đương sự, Thẩm phán chỉ
Trang 24đóng vai trò là người trọng tài trong quá trình giải quyết vụ việc, phân xử căn cứ vào các chứng cứ mà các đương sự đưa ra tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán hoàn toàn không trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ
Theo PLTTDS của Mỹ thì Tòa án không bao giờ tự mình thu thập chứng cứ của vụ kiện mà do đương sự, luật sư của họ tự thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình Các bên đương sự phải tự mình tìm kiếm, thu thập mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình như thu thập các chứng cứ viết, các vật chứng, đề xuất Tòa án triệu tập những người làm chứng cần thiết…Các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ trao đổi chứng cứ với nhau và quyền được biết toàn bộ các chứng cứ của bên kia Nếu một bên từ chối không cung cấp chứng cứ hoặc không trả lời về vấn đề nào đó thì Thẩm phán sẽ hỗ trợ họ bằng cách ban hành lệnh buộc người từ chối phải cung cấp chứng cứ hoặc áp dụng các biện pháp chế tài cần thiết Nếu người không cung cấp chứng cứ là bị đơn thì Thẩm phán sẽ quyết định giải quyết vụ kiện hoàn toàn trên chứng cứ do nguyên đơn xuất trình trước tòa
án Trong trường hợp Thẩm phán thấy rằng chứng cứ mà các đương sự xuất trình chưa đầy đủ để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ chứ Thẩm phán không bao giờ tự mình thu thập chứng cứ Sau khi các bên thu thập được đầy đủ thông tin, chứng cứ thì họ phải gặp nhau theo lệnh của Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa Tại đây, Thẩm phán có thể tiến hành hóa giải để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc hoặc thống nhất những vấn đề cần tranh tụng tại phiên tòa Như vậy, có thể thấy PLTTDS Hoa Kỳ luôn đề cao vai trò của các bên đương sự trong việc chứng minh sự việc, họ là các chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quyết định kết quả tranh tụng Trong suốt quá trình tố tụng, các bên đương sự bình đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của PLTTDS Tòa án không chủ động thu thập chứng cứ mà chỉ là người trọng tài, giữ vai trò trung gian, căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra quyết định giải quyết vụ án Tất cả các tình tiết, chứng
cứ, tài liệu dùng làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án đều được các bên tranh tụng công khai, trực tiếp và bằng lời nói tại phiên tòa Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, vai trò chủ động thuộc về các luật sư là người dẫn dắt việc nêu câu hỏi và kiểm tra lời khai của người làm chứng [6, tr 55,56,57] Tương tự như vậy, ở Anh, phiên tòa xét xử là cơ hội để các luật sư tranh tụng thể hiện tài năng biện hộ của mình Mọi tình tiết chứng cứ của vụ án được các bên đưa ra và tranh luận ngay tại phiên tòa, Thẩm phán sẽ chỉ dựa vào đó để đưa ra các phán quyết của mình [18, tr
248, 284]
Trang 25Sở dĩ, PLTTDS của Mỹ, Anh quy định Tòa án ít thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ xuất phát từ truyền thống tố tụng tranh tụng mà họ đang thực hiện Theo phương thức tranh tụng này thì mọi vấn đề cần chứng minh trong vụ án phải được các đương sự thống báo trước và công khai tại phiên tòa, Thẩm phán hay bồi thẩm đoàn chỉ là người trọng tài phân xử xem chứng cứ bên nào đưa ra là có căn cứ
và hợp pháp Ở những nước này trình độ dân trí đặc biệt là kiến thức pháp luật của người dân cao và đội ngũ Luật sư phát triển về số lượng và chất lượng Bên cạnh
đó, là sự hoạt động có hiệu quả của các cơ quan, tổ chức trong việc tạo điều kiện cho đương sự thu thập chứng cứ được dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng
1.4.2 Hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS của Pháp, Nga
Pháp và Nga là hai nước có truyền thống tố tụng xét hỏi nên Thẩm phán có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng hồ sơ giải quyết VVDS Việc thu thập chứng cứ được tiến hành trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán luôn có trong tay toàn
bộ hồ sơ về quá trình thu thập chứng cứ và nhiều trường hợp Thẩm phán còn làm nhiệm vụ điều tra
Trong BLTTDS Liên bang Nga, hoạt động chứng minh và thu thập chứng cứ được quy định là nghĩa vụ của các bên đương sự, Tòa án chỉ là cơ quan ở giữa xem xét hồ sơ trên cơ sở việc cung cấp chứng cứ chứng minh của đương sự mà không tiến hành bất cứ một biện pháp thu thập chứng cứ nào Trong trường hợp đương sự
đã dùng mọi biện pháp mà không thu thập được chứng cứ thì Tòa án có thể giúp các đương sự thu thập chứng cứ bằng cách yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ cho đương sự, với điều kiện đương sự phải cung cấp được đúng tên cá nhân, cơ quan, tổ chức và địa điểm lưu giữ chứng cứ cần thu thập BLTTDS Liên bang Nga còn quy định cụ thể chế tài xử phạt đối với những trường hợp người được yêu cầu cung cấp chứng cứ không cung cấp chứng
cứ mà không có lý do chính đáng Theo quy định tại khoản 3 Điều 57 BLTTDS
Liên bang Nga thì “Những người có chức vụ hoặc công dân không có khả năng cung cấp chứng cứ do Tòa án yêu cầu không thể cung cấp chứng cứ trong thời hạn Tòa án ấn định có nghĩa vụ trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu phải thông báo cho Tòa án việc đó và phải nêu rõ lý do Trong trường hợp không thông báo cho Tòa án hoặc không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì những người có chức vụ bị phạt tiền đến mức 10 lần lương tối thiểu, công dân bị phạt tiền đến mức 5 lần lương tối thiểu, nếu họ không phải là những người tham gia tố tụng” [8] Điều 149 BLTTDS Liên bang Nga quy định về hoạt động
của các bên trong việc chuẩn bị xét xử, trong đó quy định trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn, bị đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn, bị đơn phải chuyển
Trang 26cho bên kia bản sao chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của mình; đề nghị Thẩm phán yêu cầu cung cấp chứng cứ trong trường hợp không tự mình thu thập được chứng cứ nếu không có sự giúp đỡ của Tòa án [8] Đồng thời với việc quy định hoạt động của các bên trong việc chuẩn bị xét xử, Điều 150 BLTTDS Liên bang Nga cũng quy định hoạt động của Thẩm phán trong quá trình chuẩn bị xét xử, theo đó: Tòa án yêu cầu công dân hoặc tổ chức cung cấp chứng cứ, nếu các bên hoặc người đại diện của họ không thể tự mình thu thập chứng cứ đó [8] Các quy định này cũng nâng cao trách nhiệm chứng minh của đương sự đối với việc chứng minh cho yêu cầu của mình, đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm của người
có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, giúp cho việc thu thập chứng cứ của Tòa án được tiến hành thuận lợi hơn
BLTTDS của nước Cộng hòa Pháp tại Điều 6 cũng quy định “Các bên đương sự có nghĩa vụ viện dẫn các tình tiết cụ thể cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của mình” [3, tr 8], hay tại điều 9 mục 4 cũng quy định “Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của mình” [3, tr 9] nhưng cũng quy định vai trò của Tòa án trong việc thu thập
chững cứ là rất lớn, Điều 10, mục 4, Chương I, thiên I, quyển thứ nhất quy định:
“Thẩm phán có quyền tự mình quyết định tất cả các biện pháp thẩm cứu mà pháp luật cho phép” [3, tr 9] Điều 27, Chương 2, thiên I, quyển thứ nhất cũng quy định:
“Thẩm phán tự mình tiến hành tất cả những biện pháp thẩm cứu cần thiết Thẩm phán có quyền nghe lời trình bày của những người có thể làm sáng tỏ vụ việc cũng như những người có quyền lợi liên quan bởi quyết định của thẩm phán mà không bị
lệ thuộc vào bất kỳ thể thức nào” [3, tr 13] BLTTDS Pháp còn quy định Thẩm
phán có quyền điều tra và dành một mục riêng với 27 điều quy định cụ thể về hoạt động này Qua nghiên cứu cho thấy trong hoạt động TTDS ở Pháp, Thẩm phán được quyền chủ động trong hoạt động thu thập chứng cứ để chứng minh phục vụ cho việc giải quyết vụ án Pháp luật cũng quy định chế tài đối với việc các bên không thực hiện nghĩa vụ giúp đỡ Tòa án thu thập chứng cứ Điều 11, Mục 4,
Chương I, thiên I quy định: “Nếu một bên đương sự đang nắm giữ một yếu tố cấu thành chứng cứ, thì theo yêu cầu của bên kia, thẩm phán có thể ra lệnh cho họ cung cấp các yếu tố cấu thành chứng cứ đó, trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế Theo đề nghị của một trong các bên đương sự, thẩm phán có thể yêu cầu hoặc quyết định buộc người thứ ba đang nắm giữ những tài liệu liên quan phải xuất trình tất cả các tài liệu, nếu không có trở ngại chính đáng Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế như đối với trường hợp trên” [3, tr 9] Ngoài nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của
Trang 27mình, giúp Thẩm phán thu thập chứng cứ, đương sự còn có nghĩa vụ trao đổi giấy
tờ, tài liệu cho các bên khác trong cùng vụ kiện, có quyền yêu cầu Thẩm phán buộc bên kia phải trao đổi giấy tờ, tài liệu và có thể bị phạt tiền để cưỡng chế nếu không thực hiện nghĩa vụ trên [3, tr 37, 38]
Qua những phân tích trên, có thể thấy PLTTDS Nga và Pháp đều quy định nghĩa vụ chứng minh là của đương sự, nhưng đồng thời cũng quy định trong một số trường hợp Tòa án có thể thu thập chứng cứ và các đương sự, các bên liên quan phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án khi có yêu cầu, trao đổi tài liệu, chứng cứ với nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án Pháp luật các nước đều có quy định về chế tài xử phạt đối với các trường hợp vi phạm, mà chủ yếu là phạt tiền nhằm hạn chế các hành vi không hợp tác, gây khó khăn cho quá trình tố tụng Đây là điều mà PLTTDS Việt Nam cần nghiên cứu, áp dụng để hoàn thiện các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS
1.4.3 Hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS của một số nước Châu Á
Theo quy định của BLTTDS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa việc chứng minh thuộc về các đương sự, theo đó, các bên đương sự có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ cho Tòa án và chịu trách nhiệm về việc cung cấp chứng cứ của mình Tòa
án không có nghĩa vụ điều tra mà chỉ trong trường hợp chứng cứ do hai bên đương
sự cung cấp trái ngược, mâu thuẫn nhau thì Tòa án phải điều tra để thu thập chứng
cứ hoặc trong trường hợp đương sự không tự mình cung cấp được chứng cứ thì Tòa
án hỗ trợ đương sự xác minh thu thập chứng cứ [15, tr 38]
Cơ quan, tổ chức đang lưu giữ chứng cứ cũng có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án Trong trường hợp cơ quan, tổ chức từ chối cung cấp chứng cứ hoặc gây trở ngại cho Tòa án trong việc thu thập chứng cứ thì người phụ trách đơn vị hoặc người có trách nhiệm trực tiếp của đơn vị đó có thể bị phạt tiền từ trên 1000 nhân dân tệ đến dưới 30.000 nhân dân tệ hoặc Tòa án có thể kiến nghị với cơ quan giám sát hoặc cơ quan hữu quan để xử phạt kỷ luật đối với các cơ quan, tổ chức đó Đối với các cá nhân có hành vi cản trở hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án thì bị phạt tiền đến 1000 nhân dân tệ hoặc có thể bị bắt giữ hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 65, 102, 103 và 104 BLTTDS Trung Hoa) Theo điều 113 BLTTDS Trung Hoa thì trong vòng 5 ngày từ ngày lập án, Tòa án phải phát bản sao đơn khởi kiện cho các bị đơn, trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn khởi kiện bị đơn phải nộp bản tự bảo vệ Khi bị đơn nộp bản tự bảo vệ, Tòa án phải gửi bản sao bản tự bảo vệ cho nguyên đơn trong vòng 5 ngày kể
từ ngày nhận được bản tự bảo vệ Như vậy, PLTTDS Trung Quốc cũng không quy
Trang 28định về việc trao đổi chứng cứ, tài liệu trực tiếp giữa các bên đương sự mà việc trao đổi chứng cứ, tài liệu giữa các đương sự được thực hiện thông qua Tòa án
Theo nguyên tắc tranh tụng, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự, Tòa án chỉ cân nhắc các tình tiết do các bên đưa ra trong tranh luận miệng và khẳng định xem các tình tiết đó có đúng hay không Tuy nhiên, trách nhiệm thu thập chứng cứ của các bên không phải là ý tưởng tốt cho thái độ thờ ơ của Tòa án Bởi
vì, nghĩa vụ của Tòa án là tiến hành xét xử tranh chấp một cách công bằng, Tòa án
có trách nhiệm khuyến khích việc chứng minh của các bên [4, tr 35] Do đó, Điều
149 BLTTDS Nhật Bản quy định tại vào ngày tranh luận miệng hoặc ngay sau đó, Tòa án phải hỏi các câu hỏi về các tình tiết của vụ án và căn cứ pháp lý đối với những vấn đề không rõ ràng và không hoàn chỉnh hoặc yêu cầu các bên chứng minh vấn đề này Ngoài ra, trong trường hợp cần phải làm rõ các vấn đề của vụ án thì Tòa
án có quyền tiến hành các biện pháp như yêu cầu các bên bổ sung chứng cứ; yêu cầu bên đương sự hoặc người thứ ba đang lưu giữ chứng cứ xuất trình chứng cứ; thẩm tra chứng cứ; tiến hành điều tra…(Điều 151 BLTTDS Nhật Bản)
Khi tiến hành thẩm tra chứng cứ, nếu người làm chứng không có mặt tại Tòa
án mà không có lý do chính đáng thì Tòa án có thể ra quyết định áp giải người làm chứng đồng thời buộc người làm chứng chịu những chi phí Tòa án phát sinh và chịu khoản tiền phạt Các bên đương sự đã tuyên thệ mà đưa ra lời khai gian dối thì bị phạt tiền (Điều 192 và 259 BLTTDS Nhật Bản)
Ngoài ra, BLTTDS Nhật Bản không chỉ quy định về việc Tòa án có quyền ra quyết định buộc các bên đương sự, người thứ ba xuất trình chứng cứ mà còn có những quy định về hậu quả pháp lý khi họ không tuân thủ quyết định xuất trình chứng cứ Đó là nếu một bên đương sự cố tình không cung cấp chứng cứ hoặc phá hủy chứng cứ với mục đích ngăn cản bên kia sử dụng chứng cứ thì Tòa án có thể công nhận sự thật được viện dẫn bởi phía bên kia (Điều 224 BLTTDS Nhật Bản) Nếu bên thứ ba không tuân thủ quyết định xuất trình chứng cứ thì bị Tòa án phạt một khoản tiền không quá 200.000 yên (Điều 225 BLTTDS Nhật Bản)
Tìm hiểu hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS của một số nước trên thế giới cũng có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định Các nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng thì đề cao vai trò của các bên đương sự trong việc chứng minh sự việc, Tòa án chỉ là người trọng tài trung gian và ra phán quyết Ở các nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi thì lại đề cao vai trò của Thẩm phán trong việc chứng minh sự việc Tuy nhiên, bên cạnh những điểm khác biệt về vai trò của các bên và trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án, trao đổi chứng cứ, tài liệu giữa các bên đương sự thì PLTTDS của các nước cũng có những điểm tương đồng như
Trang 29thời gian giao nộp chưng cứ, trách nhiệm của các bên khi không cung cấp chứng cứ cho Tòa án; chế tài đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức cản trở hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự, Tòa án
Nhưng có thể thấy PLTTDS của Trung Quốc và Nhật bản có nhiều điểm tương đồng với PLTTDS Việt Nam, khi đều quy định vai trò thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS và đang hoàn thiện PLTTDS theo hướng tăng cường trách nhiệm chứng minh cho đương sự, giảm nhẹ công việc thu thập chứng cứ cho Tòa
án Để các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được hoàn thiện, phù hợp với xu hướng phát triển và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước thì chúng
ta cần vận dụng sáng tạo kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước do Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử tiến hành tập hợp, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ liên quan đến VVDS theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và bảo đảm cho việc giải quyết VADS được chính xác, khách quan, đúng thời hạn luật định Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS có một số đặc điểm đặc trưng đó là: thể hiện quyền lực Nhà nước khi Tòa án thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ; do chủ thể có thẩm quyền tiến hành đó là Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử; thể hiện vai trò hỗ trợ của Tòa án trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự và hoạt động này cũng phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Việc quy định hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS trên cơ
sở xuất phát từ nhiệm vụ quyền hạn của Tòa án trong TTDS, phải phù hợp với đặc điểm truyền thống tố tụng, đồng thời phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, hiệu quả hoạt động của các cơ quan công quyền, bệnh cạnh đó phải xuất phát từ việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân và phải bảo đảm tính trung thực, khách quan, vô tư
Tùy theo truyền thống tố tụng mà PLTTDS các nước có quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án ở mức độ khác nhau, theo đó, với những nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng thì sự hỗ trợ của Tòa án đối với nghĩa vụ chứng minh của đương sự ít hơn so với các nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi
PLTTDS Việt Nam đã quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong suốt quá trình của lịch sử phát triển TTDS và ngày càng được hoàn thiện theo hướng thu hẹp sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự
Trang 30CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PLTTDS VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN
2.1 Các trường hợp thu thập chứng cứ của Tòa án
Hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS của Tòa án chỉ mang tính hỗ trợ cho nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ sở, quyết định của Tòa án Việc thu thập chứng cứ của Tòa án được quy định trong BLTTDS Việt Nam thể hiện ở các trường hợp sau:
2.1.1 Trường hợp đương sự không thể tự thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu
Về nguyên tắc, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Tòa án có trách nhiệm xem xét mọi tình tiết của vụ án, căn cứ vào pháp luật để giải quyết yêu cầu của đương sự Điều 85 BLTTDS quy định: Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ VVDS chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Trong trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ…
Từ quy định này, Thẩm phán chỉ có thể tiến hành thu thập chứng cứ khi có
đủ các điều kiện đó là: Hồ sơ vụ án còn thiếu những chứng cứ cần thiết làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án; Đã yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ nhưng đương sự không thể bổ sung được và có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
Để có thể kết luận là hồ sơ vụ việc còn thiếu chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết, Thẩm phán phải căn cứ vào những chứng cứ tài liệu mà đương sự đã giao nộp Khi xem xét chứng cứ, để xác định còn thiếu chứng cứ nào phải tùy thuộc vào từng loại chứng cứ mà Tòa án (cụ thể là Thẩm phán được phân công giải quyết) đang xem xét Nếu chứng cứ mà đương sự giao nộp còn thiếu, Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ bổ sung Việc Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ phải được thể hiện bằng văn bản riêng hoặc có thể thể hiện trong biên bản ghi lời khai của đương sự Vấn đề yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ hiện có hai quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng khi yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ Thẩm phán phải yêu cầu rõ đương sự bổ sung cụ thể tài liệu, chứng
cứ nào? Quan điểm thứ hai lại cho rằng Thẩm phán chỉ yêu cầu đương sự bổ sung chứng cứ nhưng không nêu rõ tên tài liệu, chứng cứ gì, vì pháp luật tố tụng không quy định rõ ràng? Tuy nhiên, trên thực tế để tạo điều kiện cho đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh đồng thời cũng tạo điều kiện để Tòa án giải quyết vụ án
Trang 31đúng thời hạn luật định, Tòa án thường ban hành văn bản yêu cầu đương sự cung cấp cụ thể những tài liệu, chứng cứ phải giao nộp cho Tòa án Nếu Tòa án yêu cầu giao nộp chứng cứ được thể hiện trong biên bản lấy lời khai của đương sự thì cũng phải nêu rõ tên, loại tài liệu, chứng cứ mà đương sự phải giao nộp cho Tòa án Dù với cách thức nào thì yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ cũng phải được thể hiện bằng văn bản để lưu trong hồ sơ vụ án Các văn bản này là một trong những căn cứ pháp lý để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng
Khi đương sự có yêu cầu Tòa án tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ, đương sự phải thể hiện thành văn bản Theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP, tùy từng trường hợp, Thẩm phán yêu cầu đương sự phải viết thành một đơn yêu cầu riêng, nhưng cũng có thể kết hợp ghi yêu cầu của đương sự trong bản khai, bản ghi lời khai, biên bản đối chất Nếu đương sự trực tiếp đến Tòa án yêu cầu thì Thẩm phản phải lập biên bản ghi rõ yêu cầu của đương sự Riêng đối với trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ theo Điều 94 BLTTDS thì nhất thiết Thẩm phán phải yêu cầu đương sự làm đơn riêng
Yêu cầu của đương sự về việc đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ cũng cần phải nêu rõ biện pháp đương sự đề nghị Tòa án áp dụng là biện pháp thu thập nào, biện pháp đó có được quy định trong BLTTDS hay không Nếu yêu cầu của đương
sự chưa thể hiện nội dung này thì Thẩm phán cần yêu cầu đương sự thể hiện rõ
Khi đã nhận thấy đủ những điều kiện để tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán cần giải thích cho đương sự biết nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí tương ứng với biện pháp thu thập mà đương sự yêu cầu (ví dụ chi phí giám định, tiền tạm ứng chi phí giám định, định giá ) Thẩm phán chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng, nếu thuộc trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng
2.1.2 Trường hợp Tòa án chủ động thu thập chứng cứ
Ngoài việc thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, trong một số trường hợp, Tòa án cũng có thể chủ động thu thập chứng cứ, theo khoản 1 Điều
86, khoản 1 Điều 87, khoản 1 Điều 88, Điều 89, điểm b khoản 1 Điều 92, Điều 93 BLTTDS và Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP thì đó là các trường hợp: lấy lời khai của đương sự khi đương sự không thể tự khai; lấy lời khai người làm chứng khi xét thấy cần thiết; đối chất khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng; xem xét, thẩm định tại chỗ là cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án; định giá tài sản trong trường hợp các bên thỏa thuận với
Trang 32nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn nghĩa vụ với Nhà nước; ủy thác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của VVDS
Quy định về vai trò chủ động của Tòa án trong việc hỗ trợ các đương sự thu thập chứng cứ xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam Trước hết phải nói về truyền thống tố tụng, Việt Nam là nước có truyền thống tố tụng xét hỏi, trong quá trình giải quyết các VADS Tòa án là cơ quan trực tiếp xây dựng hồ
sơ vụ án và trên cơ sở hồ sơ này để giải quyết vụ án Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ cũng chính là quá trình xây dựng hồ sơ VADS vì vậy, hồ sơ VADS là yếu
tố có ý nghĩa hết sức quan trọng khi Tòa án giải quyết vụ án Ngoài nhiệm vụ phải đảm bảo cho việc giải quyết VADS được khách quan, công bằng, đúng pháp luật, Thẩm phán còn có trách nhiệm giải quyết vụ án đúng thời hạn luật định Mặt khác,
lý luận về chứng cứ cũng cho thấy, Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án, việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy
đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không Và ở đây, trách nhiệm của Thẩm phán
là phải đảm bảo trong hồ sơ vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án Do đó, mặc dù BLTTDS quy định các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để Tòa án xem xét giải quyết vụ án, nhưng nếu “phó thác” toàn bộ nghĩa
vụ chứng minh cho các đương sự để giải phóng hoàn toàn nghĩa vụ chứng minh của Tòa án, thì sẽ không phù hợp thực tế trong điều kiện hiện nay ở nước ta Vì như vậy
có thể làm cho vụ án bị giải quyết thiếu khách quan, làm lợi cho đương sự này nhưng lại xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của đương sự khác
Bên cạnh đó, là khả năng tự bảo vệ của các đương sự trong VADS còn rất yếu, sự hiểu biết pháp luật của họ còn hạn chế, họ không có điều kiện mời luật sư để bảo vệ quyền lợi cho mình Do đó, khi có tranh chấp xảy ra, họ không biết phải có các chứng cứ, tài liệu gì để bảo vệ quyền lợi của mình và không biết tìm kiếm các chứng cứ đó ở đâu để cung cấp cho Tòa án Trong khi đó, chúng ta chưa đủ điều kiện quy định việc tham gia tố tụng của luật sư là bắt buộc, nên nếu quy định nghĩa
vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về đương sự có thể dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Mặt khác ở nước ta, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc công khai các tài liệu, giấy tờ liên quan đến các giao dịch dân sự còn hạn chế, nhiều tài liệu, giấy tờ, văn bản chưa có điều kiện để công khai cho công dân Thêm nữa, việc quản lý hành chính còn cồng kềnh, quan liêu, máy móc, trang thiết bị chưa cho phép phổ cập tất
cả mọi thông tin này đến với người dân Nhiều trường hợp, việc thu thập chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý là rất khó khăn Trong rất nhiều vụ án,
Trang 33mặc dù đương sự đã mất nhiều công sức, thời gian đi lại yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến VADS để họ giao nộp cho Tòa án nhưng đều
bị từ chối với đủ mọi lý do; hoặc các cơ quan, tổ chức cung cấp không đầy đủ, không chính xác, không đúng thời hạn Điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, cụ thể là Tòa án, với tính chất là cơ quan có chức năng giải quyết tranh chấp, hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ đang lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thu thập được
Với vị trí là người tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ xây dựng hồ sơ vụ án, giải quyết VADS đúng pháp luật, đúng thời hạn, nên Tòa án (cụ thể là Thẩm phán) có vai trò quan trọng trong việc thu thập chứng cứ Thẩm phán là người phải xác định đối tượng chứng minh, các chứng cứ cần thu thập của vụ án, trên cơ sở đó, Thẩm phán thúc đẩy các bên đương sự chủ động tiến hành thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa án, đồng thời Thẩm phán tiến hành các hoạt động tố tụng để thu thập chứng
cứ theo quy định của pháp luật Khi quyết định tự mình thu thập chứng cứ mà không có yêu cầu của đương sự, Tòa án phải hết sức thận trọng, xác định đủ những tài liệu làm cơ sở để tự mình thu thập chứng cứ Ví dụ, Thẩm phán phải xác định được những văn bản chứa đựng mâu thuẫn giữa lời khai của đương sự làm căn cứ cho việc cần thiết phải đối chất Đồng thời khi đã có đủ cơ sở pháp lý, Tòa
án phải tiến hành đúng biện pháp trong phạm vi thẩm quyền của mình
Dù áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc chủ động khi thấy cần thiết thì Tòa án cũng đều phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Đối với trường hợp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc thu thập chứng cứ khi đã xác định đầy đủ các điều kiện pháp lý để áp dụng và phải áp dụng đúng biện pháp thu thập mà đương sự yêu cầu Đối với trường hợp chủ động thu thập chứng cứ, Tòa
án chỉ áp dụng những biện pháp mà pháp luật quy định, không tự mình áp dụng những biện pháp mà pháp luật không quy định
2.2 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án
Theo khoản 2 Điều 85 BLTTDS, khi xác định đủ các điều kiện để thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án có quyền
áp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ sau đây:
2.2.1 Biện pháp lấy lời khai của đương sự, người làm chứng
Các đương sự là những người có quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với vụ án,
họ là người trực tiếp liên quan đến các tình tiết trong vụ kiện, là người biết rõ nội dung vụ kiện đã và đang tồn tại như thế nào Vì vậy, việc lấy lời khai của các đương sự có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ
Trang 34án, yêu cầu của các đương sự và là cơ sở để xác định được đường lối giải quyết vụ
án Về nguyên tắc, lời khai của đương sự do đương sự tự cung cấp, tự viết và ký tên Khoản 1 Điều 86 BLTTDS quy định: “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ,
rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự”
BLTTDS sửa đổi vẫn quy định chỉ Thẩm phán mới có quyền lấy lời khai của đương sự, Thư ký Tòa án chỉ có thể giúp Thẩm phán ghi lời khai của đương
sự vào biên bản Nhưng trên thực tế giải quyết các VADS thì có nhiều trường hợp Thư ký hoặc cán bộ Tòa án thực hiện việc lấy lời khai của đương sự khi có sự phân công của Thẩm phán, do đó tại Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP đã hướng dẫn bổ sung trường hợp Thư ký cũng có thể lấy lời khai của đương sự khi được Thẩm phán giao nhiệm vụ và được sự đồng ý của đương sự Hướng dẫn bổ sung này hoàn toàn phù hợp với thực tế giải quyết các VADS tại Tòa án hiện nay, khi
mà khối lượng công việc của Thẩm phán giải quyết ngày một tăng, đương sự không phải ai cũng có thể tự viết bản tự khai ban đầu với nội dung đơn giản chưa cần làm sáng tỏ những mâu thuẫn trong lời khai của họ thì Thư ký cũng có thể lấy lời khai của đương sự
Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương
sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản Để việc lấy lời khai của các đương sự phục vụ tốt cho quá trình giải quyết các vụ án, Thẩm phán phải nắm chắc các tình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án, các quy định của pháp luật nội dung cần áp dụng để giải quyết vụ án Trường hợp Thư ký lấy lời khai của đương sự cũng cần yêu cầu đương sự khai chi tiết, cụ thể nội dung sự việc vụ án Lời khai của đương sự phải tập trung làm rõ nội dung cơ bản của vụ án, yêu cầu của các bên đương sự, các căn
cứ pháp lý và chứng cứ thực tế để bảo vệ yêu cầu của họ
Về địa điểm lấy lời khai, Tòa án phải tiến hành lấy khai của đương sự tại trụ sở Tòa án Trong những trường hợp vì lý do khách quan, chính đáng như đương sự đang bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù, ốm đau, đương sự không có mặt tại Tòa án…Tòa án không thể lấy lời khai của đương sự tại trụ sở thì Thẩm phán, Thư ký Tòa án có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật, quy định đối với cán bộ công chức của ngành Tòa án nhân dân và bảo đảm khách quan Tuy nhiên, khoản 2 Điều 86 BLTTDS quy định việc lấy lời khai đương sự ngoài trụ sở Tòa án trong mọi trường hợp phải có người làm chứng hoặc xác nhận
Trang 35của UBND, công an xã, phường, thị trấn là không phù hợp và không cần thiết Vì trường hợp đương sự là người có đủ năng lực hành vi TTDS, nếu Tòa án lấy lời khai không khách quan, thì họ có đầy đủ khả năng nhận biết và có quyền từ chối không ký vào biên bản ghi lời khai Trường hợp lấy lời khai ngoài trụ sở Tòa án nhưng không có người làm chứng mà có xác nhận của UBND, công an xã, phường thị trấn nơi lập biên bản thì UBND, công an sẽ xác nhận nội dung gì vào biên bản ghi lời khai (UBND, Công an chỉ cần xác nhận về sự có mặt của người làm chứng
A, B tại địa phương hay phải chứng kiến việc Tòa án lấy lời khai và xác nhận) Vấn đề này pháp luật cũng chưa quy định cụ thể rõ ràng, nên trên thực tế có nhiều cách làm khác nhau để hoạt động lấy lời khai của Tòa án đối với đương sự đảm bảo đúng trình tự, pháp luật quy định
Đối với đương sự quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 57 BLTTDS, tức là đương sự chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, đương sự từ đủ
6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Trong trường hợp lấy lời khai của họ thì phải có mặt người đại diện hợp pháp của họ và người đại diện hợp pháp phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản lấy lời khai
Khi ghi biên bản lấy lời khai của đương sự, Tòa án phải thể hiện rõ ngày, giờ, tháng, năm ghi biên bản, địa điểm lấy lời khai, người tiến hành lấy lời khai,
họ tên, tuổi, địa chỉ nghề nghiệp của người được lấy lời khai, trường hợp Thư ký Tòa án lấy lời khai thì phải thể hiện sự đồng ý của đương sự trong biên bản lấy lời khai Biên bản phải ghi đầy đủ chính xác nội dung khai báo Nếu là những lời khai quan trọng phải ghi đúng cả lời văn của người khai, khi người khai có thái độ đáng chú ý trong quá trình lấy lời khai cũng cần phản ánh vào biên bản (ví dụ thái độ ngập ngừng, luống cuống, khóc.v.v…) Mỗi chữ, mỗi câu thêm vào hoặc bỏ đi trong biên bản phải được người lấy lời khai và người khai xác nhận, những dòng trống phải gạch đi; biên bản lấy lời khai được người khai tự đọc hoặc đọc lại cho
họ nghe, đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai; chữ viết trong biên bản phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt Biên bản lấy lời khai phải được người khai ký tên xác nhận, nếu người khai không biết chữ thì cho họ điểm chỉ xác nhận và có người chứng kiến, trường hợp người khai không ký thì yêu cầu họ phải ghi rõ lý do vì sao không ký Nếu đã giải thích họ vẫn không ký, không ghi lý do vì sao không ký thì Thẩm phán yêu cầu mời người làm chứng đến xác nhận sự việc và ký tên vào biên bản
Khác với đương sự, người làm chứng không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì trong vụ án nhưng họ là người biết những tình tiết có liên quan đến vụ án
Trang 36Lời khai của người làm chứng chứa đựng nhiều chứng cứ về những tình tiết cần chứng minh nhằm giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của vụ án Tuy vậy, lời khai của người làm chứng cũng có thể bị sai lệch và không phù hợp với sự thật khách quan như trong trường hợp người làm chứng bị mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa,
cố tình khai báo sai sự thật hoặc không nhớ kỹ đúng sự việc đã chứng kiến Trong các trường hợp đó, lời khai của nhân chứng không mang tính khách quan và lời khai đó phải được đánh giá cùng với các chứng cứ khác trong vụ án
BLTTDS quy định trường hợp Tòa án cần lấy lời khai của người làm chứng tại Điều 87, đó là trường hợp “theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết” Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP giải thích rõ các trường hợp Tòa án tiến hành lấy lời khai của người làm chứng: Trường hợp Tòa án lấy lời khai của người làm chứng theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự, Thẩm phán phải xem xét đủ các điều kiện để thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, đồng thời giải thích rõ cho đương sự biết họ phải chịu chi phí cho người làm chứng khi yêu cầu Tòa án lấy lời khai của họ Khi đã thấy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, Thẩm phán làm giấy triệu tập gửi cho người làm chứng Trong giấy triệu tập phải ghi rõ lý do triệu tập (để làm chứng trong vụ án ), thời gian, địa điểm làm việc , giấy triệu tập phải được tống đạt hợp lệ tới người làm chứng
Tòa án chủ động lấy lời khai người làm chứng trong trường hợp cần thiết, tuy đương sự không có yêu cầu Được coi là “cần thiết” nếu việc lấy lời khai của người làm chứng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật
Về phương pháp lấy lời khai của người làm chứng và cách ghi biên bản lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành như đối với phương pháp lấy lời khai của đương sự theo khoản 2 Điều 86 BLTTDS Ngoài ra có một số điểm chú ý khi ghi biên bản: Nếu người làm chứng là thân thích, gần gũi với đương sự như cha,
mẹ, vợ, con…thì trong biên bản cũng phải ghi rõ quan hệ đó Trong biên bản ghi lời khai của người làm chứng phải có thêm các nội dung: Cam đoan đã được Tòa
án giải thích rõ về quyền và nghĩa vụ của người làm chứng; Cam đoan khai báo trung thực trước Tòa án; Cam đoan xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật
về lời khai của mình Cũng như giống như việc lấy lời khai của đương sự, BLTTDS cũng quy định khi lấy lời khai của người làm chứng ngoài trụ sở Tòa án thì cần phải có người làm chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã, quy định này không phù hợp trên trực tế vì trong trường hợp người làm chứng là người có đủ năng lực hành vi TTDS thì họ có đầy đủ điều kiện để kiểm tra lại tính khách quan, trung thực của biên bản lấy lời khai của mình do Tòa án lập
Trang 37Việc lấy lời khai là cách thức thu thập chứng cứ được Tòa án áp dụng phổ biến nhất trong quá trình giải quyết VADS, giúp Tòa án nắm bắt một cách nhanh nhất nội dung vụ án, có được chứng cứ sinh động, thực tế của vụ kiện Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khi hoạt động này chưa mang lại hiệu quả chứng minh như mong muốn, vì PLTTDS không quy định hậu quả hay chế tài của việc người được lấy lời khai nhưng khai không đúng sự thật, hay từ chối khai khi có yêu cầu của Tòa án Đây cũng là một trong những lý do khiến nhiều VADS bị kéo dài khi không lấy được lời khai của đương sự hay của người làm chứng
2.2.2 Biện pháp Đối chất
Đối chất trong TTDS được hiểu một cách đơn giản là hai bên trực tiếp gặp nhau, trình bày và chất vấn nhau về những vấn đề mà hai bên trước đó có lời khai mâu thuẫn, khác biệt nhau Tuy nhiên, việc đối chất có được tiến hành hay không là
do Tòa án (Thẩm phán) quyết định thực hiện và nội dung đối chất phải được lập thành văn bản gọi là “Biên bản đối chất” Trên thực tế, không phải khi nào có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự thì Tòa án cũng chủ động tiến hành đối chất Do vậy, các bên cần hiểu về quy định trên, và có thể áp dụng như một “vũ khí” để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất Khoản 1 Điều
86 BLTTDS quy định: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng, hoặc giữa những người làm chứng với nhau theo thứ tự hợp lý Tùy từng trường hợp cụ thể
mà tiến hành đối chất về từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn
đề cần đối chất theo thứ tự Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất Biên bản phải có chữ ký của những người tham gia đối chất, Thẩm phán tiến hành đối chất, Thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất và đóng dấu của Tòa án Cách ghi biên bản đối chất về cơ bản được thực hiện như đối với trường hợp ghi biên bản lấy lời khai của đương sự, người làm chứng
BLTTDS cũng như Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP đều không quy định hoặc không có hướng dẫn cụ thể về địa điểm tiến hành đối chất Nhưng trên thực tế, đối chất chỉ được thực hiện tại trụ sở Tòa án, vì đương sự trong các VADS thường có những mâu thuẫn, tranh chấp rất căng thẳng, đôi khi họ chỉ gặp mặt nhau, hay ngồi lại với nhau tại Tòa án mà không chịu đến bất cứ địa điểm nào, đồng thời cũng phần nào tạo sự thuận tiện cho Tòa án khi giải quyết vụ án Nhưng cũng có trường hợp đối chất được Tòa án thực hiện tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn hay chính nơi làm việc của đương sự Vậy, việc đối chất thực hiện ngoài trụ sở Tòa án cần có điều kiện gì để đảm bảo tính khách quan, song vấn đề này pháp luật còn bỏ ngỏ chưa có quy định rõ ràng, dẫn đến mỗi nơi áp dụng khác nhau
Trang 382.2.3 Biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ
Những vụ án mà đối tượng tranh chấp là bất động sản, vật không thể di chuyển hoặc trường hợp Thẩm phán cần nắm vững hiện trường xảy ra sự việc tranh chấp nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được chính xác và bảo đảm khả năng thi hành án.Do đó, nếu đương sự có yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và xét thấy cần thiết thì Thẩm phán tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ
Khi tiến hành biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ theo Điều 89 BLTTDS, Thẩm phán phải ra quyết định và phải gửi cho UBND cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định kèm theo văn bản đề nghị UBND hoặc cơ quan, tổ chức cử đại diện tham gia việc xem xét, thẩm định tại chỗ Nhưng thành phần, số lượng người của UBND cấp xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức tham gia việc xem xét, thẩm định tại chỗ pháp luật lại chưa quy định
cụ thể nên ở mỗi địa phương, thậm chí trong cùng một địa phương hay trong từng
vụ án khác nhau lại có sự tham gia khác nhau của các cá nhân, cơ quan này Trên thực tế khi có yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ UBND cấp xã thường cử một lãnh đạo, cán bộ địa chính, một cán bộ tài chính, công an viên thậm chí có nơi cử cán bộ tư pháp tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ Chính vì pháp luật không quy định thành phần, số lượng người của UBND, cơ quan, tổ chức tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ nên nhiều trường hợp việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải hoãn khi vắng một trong những người đã được cử tham gia, gây lãng phí về tài chính cho đương sự khi phải chi phí xem xét, thẩm định cho nhiều người không cần thiết
và kéo dài thời gian giải quyết vụ án
Vào ngày, giờ đã định trong quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ, nếu chưa có đại diện của UBND hoặc cơ quan, tổ chức thì Thẩm phán phải liên hệ để
họ có mặt Trong trường hợp vắng mặt đại diện của UBND hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định, Thẩm phán phải hoãn việc xem xét thẩm định tại chỗ Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được giao hoặc gửi cho đương sự để họ biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ Tuy nhiên, nếu đương sự vắng mặt thì việc xem xét, thẩm định tại chỗ vẫn được tiến hành theo thủ tục chung Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản, Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện UBND cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, Tòa án phải yêu cầu đại diện UBND cấp xã hoặc cơ