Sơ lược quá trình phát triển của các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
HÀ THANH HƯƠNG
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TOÀ ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TOÀ ÁN
NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
HÀ THANH HƯƠNG
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TOÀ ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TOÀ ÁN
NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Thanh Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khi tham gia học chương trình Thạc sỹ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, tôi đã
có cơ hội được học tập và nghiên cứu chuyên sâu về khoa học pháp lý thông qua các môn học cụ thể trong chương trình học tập Với vốn kiến thức thu được trong quá trình học tập và qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, văn bản quy định của pháp luật, các bài báo, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, cùng với sự chỉ bảo tận tình của giảng viên hướng dẫn, nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn, vấn đề nghiên cứu tương đối rộng và phức tạp, sự hiểu biết của bản thân còn hạn chế nên bài viết chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý chia sẻ của các thầy giáo, cô giáo và những người quan tâm đến lĩnh vực đầu tư xây dựng để đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Nhà trường, giảng viên hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ tác giả hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục của Luận văn 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÕA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 5
1.1.1 Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 5
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 8
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 13
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 16
1.2.1 Yếu tố khách quan 16
1.2.2 Yếu tố chủ quan 21
1.3 Sơ lược quá trình phát triển của các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 22
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 22
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1988 24
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2003 24
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014 25
1.3.5 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÕA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 28
2.1 Điều kiện để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ trong vụ án hôn nhân và gia đình có yêu tố nước ngoài 28
2.1.1 Hoạt động chủ động thu thập chứng cứ của Tòa án 28
Trang 72.1.2 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án theo yêu cầu của đương sự 31
2.2 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 33
2.2.1 Lấy lời khai của đương sự 33
2.2.2 Lấy lời khai của người làm chứng 36
2.2.3 Thu thập chứng cứ thông qua biện pháp đối chất 38
2.2.4 Xem xét, thẩm định tại chỗ 39
2.2.5 Trưng cầu giám định 41
2.2.6 Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản 44
2.2.7 Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ 47
2.2.8 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ 52
2.2.9 Biện pháp thu thập chứng cứ thông qua xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
Chương 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH – KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 56
3.1 Thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh 56
3.1.1 Kết quả đạt trong thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh .56
3.1.2 Một số tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh 59
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74
KẾT LUẬN CHUNG 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 81
LỜI MỞ ĐẦU
Theo số liệu thống kê tại báo cáo số BC-T NDTC của Tòa án nhân dân tối cao, tính trung bình m i năm các Tòa án nhân dân đ giải quyết trên vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình; trên vụ việc về kinh doanh, thương mại; trên vụ việc về lao động; t lệ các vụ việc mà Tòa án phải giải quyết hàng năm tăng khoảng Trong bối cảnh các điều kiện về kinh tế - x hội ngày càng phát triển tại Việt Nam, đồng thời cùng với sự hội nhập quốc tế, việc xảy ra các tranh chấp trong quan hệ dân sự giữa các chủ thể dễ dàng xảy ra hơn bao giờ hết, đặc biệt là các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Pháp luật Tố tụng Dân sự của nước Cộng hòa X hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời với mục tiêu góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Để góp phần đạt được những mục tiêu như nêu trên, Tòa án là cơ quan có vai trò khách quan nhất nhằm phân xử, giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể Để có thể đưa ra những bản án, quyết định đúng đắn phù hợp với hiện thực khách quan của vụ việc dân sự xảy ra trên thực tế, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là vấn đề pháp lý cần được đặt ra tiên quyết, là hoạt động đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác là cơ
sở để Tòa án có kết luận khách quan và toàn diện nhất về các tình tiết, sự kiện của vụ việc, đặc biệt là trong vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, khi mà việc thu thập chứng cứ gặp phải những rào cản về ngôn ngữ, địa lý, kinh tế, x hội…
Thực tiễn cho thấy vấn đề thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự đ được quy định khá cụ thể và đầy đủ trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Tuy nhiên, khi Tòa án thực hiện thu thập chứng cứ trong các vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cho thấy vẫn bộc lộ nhiều những vướng mắc, bất cập chẳng hạn như BLTTDS 2015 chưa quy định biện pháp, cơ chế nào để nâng cao hiệu quả của biện pháp yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ cho Tòa án Mặt khác, tại tỉnh Quảng Ninh, nơi mà các vụ án liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài xảy ra với mật độ nhiều hơn ở những địa phương khác do đặc điểm tại Quảng Ninh tốc độ đô thị hóa đang phát triển rất nhanh, kèm theo đặc điểm địa lý là nơi giao thương, tập trung rất nhiều người nước ngoài Trong khi đó, trình độ dân trí không đồng đều, công tác quản
lý hồ sơ, tài liệu trong nhiều lĩnh vực còn bất cập Hệ quả tất yếu khi xảy ra vụ án hôn nhân và gia đình, việc thu thập chứng cứ của Tòa án gặp phải rất nhiều khó khăn Đây
là những trở ngại lớn trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại địa phương
Trang 92
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân có yếu tố nước ngoài trở thành một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết nhằm tạo điều kiện phân tích chỉ ra những điểm mạnh cần phát huy và một số bất cập của pháp luật, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện các chế định của pháp luật Bên cạnh đó, việc phân tích và nghiên cứu các quy định pháp luật cũng cần phải đi liền với việc đối chiếu thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ tại Tòa án địa phương trong vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Xuất phát từ những yêu cầu về thực tiễn nêu trên,
tác giả xin lựa chọn đề tài “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và thực tiễn giải quyết tai Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự trong thời gian qua đ có một số công trình nghiên cứu có liên quan như:
- “Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam” - Luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Nguyễn Minh Hằng; năm 2; TS Đinh Ngọc Hiện hướng dẫn;
- “Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự” - Luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Bùi Thu Huyền; năm ; TS Đinh Ngọc Hiện hướng dẫn;
- “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam” - Luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Phạm Thị Hương; năm ; TS Trần Anh Tuấn hướng dẫn
- “Hoạt động thu thập chứng cứ trong Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án nhân
dân huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp” - Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật, Đại học
Cần Thơ, Cần Thơ, tác giả Nguyễn Thị Thanh Kiều; năm ; Giảng viên Thân
Thị Ngọc Bích hướng dẫn
- “Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm”, Luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Nguyễn Kim Lượng; năm ;
TS Nguyễn Công Bình hướng dẫn
- “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân
sự của Tòa án cấp huyện thành phố Hải Phòng”, Luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Nguyễn Thị Liên; năm ; TS Bùi Thị Huyền hướng dẫn
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Một số vấn đề lý luận về chứng minh
Trang 103
trong tố tụng dân sự” do TS Nguyễn Công Bình làm chủ nhiệm năm ; Ngoài ra còn có một số sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu có liên quan tới một số khía cạnh pháp lý của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết
vụ án, như “Vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết
vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh, đăng tải tại Tạp chí nghiên cứu lập pháp;
“Một số ý kiến về trách nhiệm thu thập chứng cứ của tòa án trong tố tụng dân sự”, của tác giả Hà Thái Thơ – đăng tải tại tạp chí Nghề Luật, Học viện Tư pháp, Số 5/2013, tr
19 – 21
Đề tài mà tác giả lựa chọn về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là chủ đề không quá mới, nhưng các tài liệu, bài báo, công trình nghiên cứu viết về vấn đề này mới chỉ là những nghiên cứu chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự nói chung Các vấn đề chuyên sâu và thực tiễn về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án đặc thù là vụ án về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời gian gần đây theo tác giả tìm hiểu là chưa có sách chuyên khảo hay công trình nghiên cứu nào cụ thể chi tiết về vấn đề này
Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có đề tài nào thực sự đi sâu vào việc nghiên cứu pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ
án về hôn nhân và gia đình, đặc biệt là vụ án có yếu tố nước ngoài Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài nêu trên để làm đề tài luận văn thạc sỹ là không trùng lặp với các công
trình khoa học đ được công bố
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ và phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong giải quyết vụ
án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Trên cơ sở các vấn đề lý luận, tác giả đem so sánh, đối chiếu với thực trạng và thực tiễn thực hiện tại một Toà án nhân dân
cụ thể (Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh) Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được đặt
ra là:
vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;
Toà án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;
Quảng Ninh trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, luận văn chỉ ra một số bất cập, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và
Trang 114
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng là các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài theo pháp luật của Việt Nam được quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự
và các văn bản hướng dẫn thi hành Đề tài không nghiên cứu các vấn đề liên quan tới vấn đề kinh tế - x hội, văn hóa, truyền thống, trừ khi tác giả Luận văn chủ động đề cập tới nhằm mục đích nghiên cứu nói trên
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi pháp luật hiện hành ở Việt Nam mà không nghiên cứu sâu về lịch sử của lĩnh vực pháp luật này trừ khi cần xử lý những thông tin liên quan để đáp ứng mục đích nghiên cứu của đề tài theo sự lựa chọn của tác giả Luận văn Phạm vi nghiên cứu của tác giả trong luận văn giới hạn trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam; thực tiễn tìm hiểu của tác giả nằm trong phạm vi không gian nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh - nơi tác giả đang trực tiếp công tác, tập trung nghiên cứu vào các vụ việc tranh chấp phát sinh trong thời gian gần nhất với thời điểm tác giả nghiên cứu tài liệu của luận văn
Đề tài được nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận là phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam
về Nhà nước và pháp luật Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và phương pháp khái quát hoá
Đề tài có cơ cấu gồm: lời nói đầu, phần nội dung, phần kết luận và tài liệu tham khảo Phần nội dung của đề tài được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án
trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về hoạt động thu thập
chứng cứ của Toà án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài
Chương 3: Thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ
án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh – Kiến nghị hoàn thiện
Trang 125
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
CỦA TÕA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Để tìm hiểu về khái niệm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trước tiên chúng ta cần tìm hiểu rõ về một số khái niệm cơ bản, cụ thể như sau:
Chứng cứ
Theo Từ điển tiếng Việt, “chứng cứ được hiểu là những cái cụ thể như lời nói,
việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì đó có thật” 1 Đây là cách hiểu thông thường, đơn giản nhất về chứng cứ Ở góc độ pháp lý, có nhiều khái niệm về chứng cứ trong hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới chẳng hạn như: Luật TTDS Liên Bang
Nga có quy định:“Chứng cứ trong tố tụng dân sự là những sự thật khách quan mà
theo đó Tòa án có cơ s để giải quyết các vụ án dân sự” 2; trong Luật TTDS của Nhật
Bản đưa ra khái niệm: “Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó là tình tiết được pháp
luật công nhận và là một tư liệu, cơ s thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết nhất định tồn tại hay không” 3
Chứng cứ trong vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp
Như vậy, có thể thầy rằng các khái niệm về chứng cứ trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều mang điểm chung và đó được coi là bản chất của chứng cứ, theo đó chứng cứ là căn cứ để Tòa án giải quyết vụ án theo một cách đúng
Trang 136
đắn nhất Để phục vụ cho yêu cầu này, Tòa án cần phải có những giấy tờ, tài liệu hoặc thông tin có đầy đủ độ tin cậy, chính xác để xác minh sự khách quan của vụ việc Trong một vụ việc dân sự thông thường có các tình tiết, sự kiện khác nhau mà quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự phụ thuộc vào nó Những tình tiết, sự kiện đó bao gồm các nguồn thông tin, tư liệu được thể hiện bằng hình thức nhất định và được Tòa
án xem xét sử dụng để làm cơ sở giải quyết vụ việc dân sự Từ những quan niệm chung và quy định của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam, chúng ta
có thể hiểu: “Chứng cứ là những gì phản ánh sự thật khách quan, được đương sự và
cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định”
Để xác định được đâu là chứng cứ của vụ việc dân sự cần dựa vào các đặc tính
của chứng về: (i) tính khách quan: chứng cứ trước hết phải là những gì có thật tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người; (ii) tính liên quan:
chứng cứ là những sự kiện thực tế tồn tại khách quan và liên quan đến vụ việc mà Tòa
án dựa vào đó để giải quyết; (iii) tính hợp pháp: các sự kiện, tình tiết để trở thành
chứng cứ trong vụ việc phải được rút ra từ nguồn nhất định và phải được thu thập, bảo quản, củng cố và nghiên cứu, đánh giá theo thủ tục do luật quy định
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý nhiều tác giả đ đưa ra những khái niệm khác nhau về thu thập chứng cứ nói chung và của Tòa án nói riêng Theo tác giả Tưởng Duy Lượng thì thu thập chứng cứ là một hành vi tố tụng của Tòa án trong việc tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp, hoặc
4 Tưởng Duy Lượng ( ),“Chứng cứ và chứng minh – Sự thay đổi nhận thức trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Đặc san Nghề Luật, ( ), Hà Nội, tr
Trang 147
Nguyễn Minh Hằng cho rằng hoạt động thu thập chứng cứ được hiểu là hoạt động tố
tụng dân sự của các chủ thể chứng minh trong việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ bằng các phương pháp, biện pháp theo một trình tự, thủ tục do pháp
bản chất của thu thập chứng cứ là: (i) hoạt động tố tụng dân sự của các chủ thể chứng minh; và (ii) được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật tố tụng dân sự quy
định Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội
thì “Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp, đưa vào hồ sơ
vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự” 6
Hoạt động thu thập chứng cứ là hoạt động có sự tham gia của nhiều chủ thể bao gồm: đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, người đại diện, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chủ yếu dựa trên khả năng cung cấp chứng cứ của đương sự Khi đương sự trình bày sự kiện, xuất trình giấy tờ, yêu cầu của mình và liên hệ trực tiếp đến yêu cầu đó bằng những chứng cứ, kết quả sẽ tùy thuộc vào việc có hay không những bằng chứng cụ thể Để đảm bảo tính khách quan giải quyết vụ án, phán quyết đưa ra công bằng với cả hai bên, Tòa án cần có những biện pháp thu thập chứng cứ hiệu quả Tòa án có thể thực hiện việc thu thập chứng cứ bằng các phương thức trực tiếp trong phạm vi l nh thổ Việt Nam hoặc gián tiếp thông qua hoạt động UTTP cho các cơ quan nằm ngoài
l nh thổ Việt Nam, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài
Như vậy, khái niệm thu thập chứng cứ của Tòa án có thể hiểu: là hoạt động
mang tính quyền lực của nhà nước do Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử tiến hành một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm tập hợp, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, với mục đích
hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác, khách quan đúng thời hạn luật định
Vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Yếu tố nước ngoài là thuật ngữ dùng để chỉ những yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật mà những yếu tố đó có liên quan đến nước ngoài Theo quy định tại Điều
66 Bộ luật Dân sự và khoản Điều 6 BLTTDS , quan hệ dân sự có yếu
Trang 15yếu tố nước ngoài như sau: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là
quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia
là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó nước ngoài” Vụ án hôn nhân và gia đình được xác định có yếu tố nước ngoài trong
trường hợp một bên đương sự phải là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư
ở nước ngoài; hoặc các đương sự đều là công dân Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân của các đương sự lại theo pháp luật nước ngoài hoặc phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân của các đương sự đó ở nước ngoài
Như vậy, có thể tổng kết hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải
quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là: hành vi tố tụng của Tòa án
trong việc tiếp nhận, chọn lọc, tập hợp các tài liệu, chứng cứ có nội dung liên quan đến quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài do các đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc do trực tiếp Tòa án tiến hành áp dụng một số biện pháp để thu thập nếu thấy cần thiết theo đúng trình tự pháp luật tố tụng, nhằm tập hợp, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ liên quan đến vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, với mục đích hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
và bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài được chính xác, khách quan đúng thời hạn luật định, đảm bảo công bằng và trật tự xã hội
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ
án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền giải quyết, xét xử các vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Khi giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, Tòa án phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng theo
Trang 169
trình tự, thủ tục và những nguyên tắc cơ bản được quy định trong luật tố tụng dân sự như nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,
án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài mang một số điểm đặc trưng như sau:
Thứ nhất, pháp luật áp dụng trong hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án khi
giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài không chỉ bị chi phối bởi
hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế
Khác với những VADS thông thường, vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài mang đặc điểm là những vụ việc này bị chi phối bởi hệ thống pháp luật vượt ra ngoài phạm vi l nh thổ Việt Nam Các vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài chịu sự điều chỉnh không chỉ của pháp luật Việt Nam mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế trên cơ sở các hiệp định tương trợ tư pháp thông qua quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các quốc gia khác theo nguyên tắc có đi có lại
Để đảm bảo giá trị pháp lý của chứng cứ do Toà án tiến hành thu thập để làm căn
cứ giải quyết vụ án dân sự, pháp luật TTDS Việt Nam quy định chi tiết về trình tự, thủ tục khi Toà án tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ Sở dĩ pháp luật quy định trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của Toà án phải được thực hiện khắt khe như vậy để ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến quyền lợi của các bên đương sự như việc Thẩm phán cố tình tạo chứng cứ có lợi cho một bên đương sự do có thoả thuận ngầm từ trước Các chứng cứ do Toà án thu thập phải được bảo quản, nghiên cứu, củng cố và đánh giá theo thủ tục mà pháp luật quy định Các quy trình khép kín này nhằm đảm bảo giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp quá trình tiến hành tố tụng được thận trọng, khách quan, đảm bảo độ tin cậy Từ đó, Toà án mới có thể đưa ra các phán quyết có sức thuyết phục cao, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật tố tụng dân
sự Tuy nhiên, khi giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, Tòa án ngoài việc phải tiến hành theo trình tự, thủ tục được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam, một mặt phải đảm bảo lợi ích của chủ thể tham gia quan hệ đó, một mặt vừa phải đảm bảo thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm việc mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế tốt đ p giữa nước ta với các nước khác Vì vậy, việc tiến hành các bước tố tụng của Tòa án nói chung và việc thu thập chứng cứ nói riêng cho đương sự ở nước ngoài còn phải được
7
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân do Quốc hội nước Cộng hòa X hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày tháng năm , Điều
Trang 1710
thực hiện tuân theo con đường ngoại giao, cụ thể là Tòa án tuân thủ các quy định chung của Tư pháp quốc tế Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ tố tụng như công dân Việt Nam, bên cạnh đó nhà nước ta cũng bảo hộ quyền lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, pháp luật của nước sở tại và tập quán quốc tế trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
Thứ hai, chủ thể mà Tòa án thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ trong các vụ
án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thường là các đương sự là người nước ngoài Ở nước ta, vấn đề xác định “yếu tố nước ngoài” trong khoa học pháp lý nói chung và tư pháp quốc tế nói riêng là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết, vấn đề này đ được quy định trong các văn bản pháp luật Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự năm , một vụ việc dân sự được xác định có “yếu tố nước ngoài” nếu thuộc
một trong các trường hợp: “Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ
quan, tổ chức nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó nước ngoài” 8 Đối với vụ việc hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài, do đặc trưng của quan hệ hôn nhân và gia đình nên chủ thể trong quan hệ này được thu h p lại chỉ là cá nhân, dấu hiệu để xác định có “yếu tố nước
ngoài” cũng được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm như sau: “Quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn
cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó nước ngoài” Như vậy, một vụ án hôn nhân gia đình được xác định có yếu tố nước ngoài thì đương sự trong vụ án phải
là người nước ngoài (bao gồm người không quốc tịch hoặc người có quốc tịch nước ngoài) 9 Trong trường hợp đương sự đều là người Việt Nam nhưng định cư ở nước ngoài hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình theo
Trang 1811
pháp luật nước ngoài hoặc quan hệ hôn nhân và gia đình phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân gia đình ở nước ngoài thì cần thiết phải tiến hành hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông qua hình thức ủy thác tư pháp, hình thức này được thừa nhận rộng r i trong thông lệ quốc tế cũng như trong các hiệp định tương trợ tư pháp song phương Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài có thể
do Tòa án trực tiếp thu thập chứng cứ hoặc gián tiếp thu thập chứng cứ thông qua hoạt động ủy thác tư pháp cho các cơ quan nằm ngoài l nh thổ Việt Nam, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài
Thứ ba, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình
có yếu tố nước ngoài mang những đặc điểm riêng biệt về không gian và thời gian Các
vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thì việc thu thập chứng cứ không chỉ được thực hiện trong phạm vi l nh thổ Việt Nam mà còn được thực hiện tại các vùng
l nh thổ khác Khi Tòa án cần thu thập chứng cứ của vụ án dân sự phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này Đặc điểm về không gian như vậy dẫn tới hệ quả hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài mang những đặc điểm riêng biệt về thời gian thu thập chứng cứ Bởi lẽ, đối với những vụ việc mà đương sự còn sinh sống, làm việc tại Việt Nam hay các tình tiết, sự kiện là chứng cứ có thể được thu thập tại Việt Nam thì Tòa án sẽ nhanh chóng trực tiếp thu thập chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết vụ án Còn nếu việc thu thập chứng cứ buộc phải thực hiện tại nước ngoài thì Tòa án sẽ ủy thác cho các cơ quan có thẩm quyền khác thực hiện thay mình Việc gián tiếp thu thập chứng cứ như vậy sẽ gây mất nhiều thời gian hơn để giải quyết
vụ án dân sự nói chung, vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng
Thứ tư, để thu thập chứng cứ trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
thì biện pháp ủy thác tư pháp ra các nước ngoài l nh thổ Việt Nam được sử dụng
thường xuyên hơn các vụ án dân sự thông thường
Theo quy định tại Luật Tương trợ tư pháp năm , ủy thác tư pháp được hiểu
là: “yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt
Trang 1912
Nam là thành viên” 10 Và tại Thông tư liên tịch số 6 TANDTC ngày 9 6 quy định về trình tự thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh
TTLT-BTP-BNG-vực dân sự có quy định “Ủy thác tư pháp của Việt Nam là yêu cầu bằng văn bản của
cơ quan có thẩm quyền Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự” 11 Việc ủy thác tư pháp được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập Trường hợp Việt Nam và quốc gia cần ủy thác tư pháp chưa có hiệp định tương trợ tư pháp thì việc
ủy thác tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế Do đó, bằng hình thức ủy thác
tư pháp, cơ quan có thẩm quyền Việt Nam có thể gửi văn bản yêu cầu cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tiến hành một số hoạt động tố tụng dân sự trên l nh thổ quốc gia được yêu cầu Ví dụ trong vụ án hôn nhân và gia đình cần phải tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp, Tòa án có thể thông qua Bộ Tư pháp hoặc trực tiếp gửi văn bản yêu cầu cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để thực hiện một số hoạt động tố tụng như tống đạt tài liệu, hồ sơ (công văn, thông báo thụ lý, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên họp, phiên tòa, bản án…) hay thu thập, cung cấp
tài liệu, chứng cứ,… để Tòa án có căn cứ xem xét giải quyết vụ án
Thứ năm, đa số các vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài do Tòa án
cấp tỉnh thực hiện Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm , hệ thống Tòa án
được phân cấp thành Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị x , thành
đặc trưng và được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Đối với các vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng, không phải cấp Tòa án nào cũng có
thẩm quyền thụ lý giải quyết
Theo quy định tại khoản , Điều , điểm c khoản Điều Bộ luật tố tụng dân sự năm và khoản Điều Luật hôn nhân và gia đình năm thì trừ trường hợp việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các
Trang 2013
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha m và con, về nhận cha, m , con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thì các
vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài đều thuộc thẩm quyền phân cấp giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trở lên
Thứ sáu, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình
có yếu tố nước ngoài có tác động tới vấn đề an ninh quốc gia, an ninh biên giới, vấn đề chủ quyền của quốc gia Các hoạt động thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích đảm bảo công bằng và trật tự x hội Vì vậy, các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng cần đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn cho chủ quyền của đất nước Chẳng hạn hiện nay tình trạng nhiều phụ nữ sang các quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc lấy chồng Khi xảy ra tranh chấp liên quan tới hôn nhân gia đình, thống kê từ Tòa án nhân dân tỉnh cho thấy một thực trạng là các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài, nhất là với người Hàn Quốc, rất ít khi giải quyết được Nguyên nhân chính là do khi toàn bộ hồ sơ được gửi ủy thác bằng đường ngoại giao qua nước bạn thì không thể tìm được người chồng hoặc người vợ do địa chỉ giả Theo quy định của pháp luật, thời hạn xử lý vụ án hôn nhân gia đình là tháng, riêng có yếu tố nước ngoài phức tạp sẽ cộng thêm thời hạn tháng Sau khoảng thời gian này, Bộ Ngoại giao không gửi kết quả cho Tòa án, thì Tòa án sẽ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và chờ kết quả ủy thác tư pháp Và khoảng thời gian chờ đợi này có thể sẽ kéo dài rất lâu Khi những tranh chấp chưa được Tòa án giải quyết triệt
để, việc các đương sự có những hành vi thiếu suy nghĩ gây ảnh hưởng tới trật tự x hội, an ninh quốc gia, an ninh biên giới… và mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam
và các quốc gia khác là điều luôn luôn tiềm ẩn Chính vì lẽ đó, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án góp phần tác động không nhỏ tới các vấn đề về an ninh quốc gia,
an ninh biên giới và chủ quyền của Việt Nam
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích tái hiện lại vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đ xảy ra trong quá khứ một cách chính xác, chi tiết nhất Nhờ các chứng cứ đó, Toà án có thể khẳng định có hay không các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hay phản tố yêu cầu của các bên đương sự trong vụ việc Vì vậy, nhiệm vụ của Toà án trong thu thập chứng cứ là rất quan trọng, là nhiệm vụ
Trang 2114
xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Cụ thể,
ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài được thể hiện ở những khía cạnh như sau:
Đối với việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Do tính chất phức tạp của các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung cũng như các vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng nên việc đương sự chủ động thực hiện nghĩa vụ chứng minh, thu thập tài liệu chứng cứ là tương đối khó khăn do hoạt động thu thập chứng cứ không còn nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà nếu đương sự có thể thực hiện được việc thu thập chứng cứ thì những tài liệu chứng cứ do m i bên đương sự cung cấp cho Tòa án sẽ ít nhiều có sự thiên lệch về phía mình để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân Vậy nên tỉ lệ giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài dựa trên chứng cứ và việc
tự chứng minh của các đương sự là tương đối thấp, phần lớn các vụ án giải quyết được đều do Tòa án chủ động xác minh, thu thập chứng cứ Các biện pháp thu thập chứng
cứ của Tòa án có tác dụng to lớn trong việc xây dựng hồ sơ vụ án, củng cố, chọn lọc, sắp xếp các chứng cứ quan trọng, từ đó, Tòa án sẽ có thêm cơ sở và căn cứ để giải quyết vụ án một cách minh bạch và công bằng nhất
Đồng thời, hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài giúp cho việc giải quyết vụ án được đúng thời hạn và chính xác Mặc dù pháp luật tố tụng dân sự đề cao vai trò chứng minh của đương sự, nhưng thực tiễn thực hiện cho thấy việc giải quyết các vụ án dân sự tại Việt Nam, đặc biệt là các vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thì hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án vẫn giữ vai trò là một hoạt động tiền đề quan trọng trong quá trình chứng minh
vụ việc dân sự bởi lẽ Toà án (mà trực tiếp là Thẩm phán được giao giải quyết vụ việc)
là người được trực tiếp tiếp xúc với chứng cứ, với các đương sự trong vụ án Từ đó, Thẩm phán là người hiểu rõ nhất những khúc mắc của vụ án, những vấn đề cần phải làm rõ, đưa ra các phương hướng, các vấn đề cần phải chứng minh, qua đó yêu cầu đương sự cung cấp hoặc tự mình thu thập chứng cứ chứng minh Do vậy, hiệu quả chứng minh sẽ cao hơn, tránh tình trạng thu thập chứng cứ tràn lan, không có trọng tâm dẫn đến chứng cứ thu thập không có giá trị sử dụng
Hiện nay, BLTTDS 2015 quy định đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh, tuy nhiên đối với những vụ án có yếu tố nước ngoài, việc đương sự tự mình thu thập chứng cứ (có thể tại các quốc gia khác nhau) gặp rất nhiều khó khăn Do đó, để tạo
Trang 2215
điều kiện thuận lợi cho đương sự được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án h trợ thu thập tài liệu chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thực hiện được Tòa án có thể tiến hành một số hoạt động tư pháp
cụ thể để thu thập tài liệu, chứng cứ từ đương sự ở nước ngoài hoặc thông qua Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bằng hình thức ủy thác tư pháp Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Việt Nam với đặc thù là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, mặt bằng về thu nhập chung của người dân còn thấp, kéo theo những hiểu biết pháp luật còn rất mơ
hồ Mặc dù pháp luật đề cao vai trò của đương sự trong việc tự thu thập chứng cứ chứng minh, tuy nhiên vai trò của Toà án trong việc h trợ đương sự thu thập chứng
cứ trong vụ án dân sự là điều vẫn rất cần thiết tại Việt Nam hiện nay Sở dĩ có tình trạng này do đương sự nếu tự mình thu thập chứng cứ thì sẽ gặp nhiều khó khăn do hiểu biết pháp lý còn hạn chế, họ không tự xác định được chứng cứ nào cần thiết cho vấn đề cần chứng minh, hơn thế nữa, có nhiều chứng cứ do các cá nhân, cơ quan, tổ chức nắm giữ, quản lý thì để đương sự tự thu thập e rằng rất khó khăn Cùng với đó, hiện nay khả năng tự bảo vệ của đương sự là rất yếu, đặc biệt là đương sự sinh sống tại các cùng nông thôn, miền núi không có điều kiện để mời luật sư bảo vệ, cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài sẽ giúp đương sự trong việc định hướng các nguồn chứng cứ, thu thập những chứng cứ mà đương sự không có khả năng thu thập Chính vì thế, đương sự có quyền yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ khi có căn cứ chứng minh mình không thể tự thu thập được các chứng cứ Khi đó, căn cứ theo yêu cầu của đương sự, Toà án sẽ tiến hành các hoạt động như đối chất, trưng cầu giám định… để tiến hành thu thập chứng
cứ giúp đương sự Qua đó, Toà án đ thực hiện được vai trò giúp đương sự thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình theo đúng pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
Đối với xã hội
Theo Hiến pháp , Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Trang 2316
sự nói chung và các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng, Tòa án nắm vai trò điều chỉnh và tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, công bằng để các quan hệ phát triển Do đó, việc Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ là một trong các biện pháp đảm bảo trật tự, công bằng của xã hội, thực hiện chức năng x hội của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi tham gia các quan hệ pháp luật
Hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án giúp Toà án thực hiện vai trò là cơ quan bảo vệ công lý, giúp đảm bảo sự công bằng cho toàn xã hội Tại Việt Nam, Toà án là
cơ quan có trách nhiệm thực thi công lý, bảo vệ pháp chế và chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân Ở nước ta, các đương sự của vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
có thể tự thu thập chứng cứ chứng minh là rất hạn chế Hơn nữa, các bên đương sự khi
tự thu thập chứng cứ thường sẽ chỉ chủ động cung cấp những chứng cứ có lợi cho mình dẫn tới việc Toà án có khả năng đánh giá sai về chứng cứ, từ đó giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thiếu chính xác, công bằng, công tâm Vì lẽ
đó, hoạt động tự thu thập chứng cứ của Toà án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài giữ vai trò bảo vệ lẽ phải, đảm bảo tính công bằng cho toàn xã hội
Mặt khác, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án mang ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ giữ gìn và nâng cao quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực ASEAN và khu vực châu Á Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có ảnh hưởng chung đến mối quan hệ hợp tác quốc tế nói chung giữa các quốc gia với nhau Giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài phải được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng các Điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, tôn trọng các tập quán quốc tế Khi giải quyết vụ
án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, Tòa án phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nước ngoài, góp phần bảo đảm quan hệ ngoại giao gữa Việt Nam với các đối tác nước ngoài Có như vậy, công dân Việt Nam sinh sống và làm việc tại nước ngoài mới nhận được sự đối xử đúng theo nguyên tắc có đi có lại của quốc gia nước ngoài mà họ đang sinh sống, làm việc
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Trang 2417
Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án bao gồm: vị trí địa lý, dân cư; điều kiện kinh tế và chính trị x hội
Vị trí địa lý và dân cư
Vị trí địa lý và dân cư là những yếu tố khách quan có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài Chẳng hạn, đối với những khu vực thành thị, nơi mà trình độ dân trí và hiểu biết pháp luật đồng đều hơn so với khu vực nông thôn, khi đương sự có thể thuận tiện, dễ dàng và có ý thức hơn trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho Tòa án thì trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án sẽ bớt nặng nề hơn Ngược lại, tại các vùng nông thôn, khi mà các đương sự còn chưa hiểu hết về các thủ tục tố tụng, không biết việc thu thập chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền lợi cho mình phải thực hiện theo cách nào, tại đâu thì khi đó trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án để làm sáng tỏ được sự thật khách quan của vụ án là điều hết sức quan trọng Đặc trưng địa lý
l nh thổ Việt Nam gồm hai bộ phận đất liền và biển, phần đất liền trải rộng hình chữ S tiếp giáp với các vùng biển Việt Nam có vùng biển rộng thuận lợi phát triển các ngành kinh tế biển, nằm trên ng tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới Nước ta còn là cửa ngõ mở lối ra biển thuận lợi cho các nước Lào, Đông bắc Thái Lan, Campuchia và khu vực Tây Nam Trung Quốc Vị trí địa lí thuận lợi như vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển các ngành kinh tế với các vùng l nh thổ, tạo điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các nước trên thế giới Chính những đặc điểm về vị trí địa lí như nêu trên đ tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta có thể tạo dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với nhiều nước, đặc biệt
là với các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, vị trí địa lý của Việt Nam cũng đi kèm những khó khăn riêng của nó, điển hình là việc có đường biên giới dài, vùng biển rộng lớn, tiếp giáp với nhiều quốc gia khác nhau trong khu vực kéo theo tại các vùng biên giới và tiếp giáp các quốc gia nước ngoài thì mật
độ dân cư cư trú luôn đông đúc, kèm theo sự giao thoa về văn hóa, kinh tế, x hội, các mối quan hệ có yếu tố nước ngoài sẽ được hình thành rộng r i Các mối quan hệ có yếu tố nước ngoài được phát triển mạnh hơn, nhanh chóng hơn đặc biệt là các quan hệ hôn nhân gia đình Mặc dù việc giao lưu văn hóa được sâu rộng, tuy nhiên sự bất đồng
về văn hóa dẫn tới số lượng những vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài tăng lên Yêu cầu đặt ra là việc giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài rất cần đến vai trò của Tòa án, mà trong đó hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giải quyết vụ án
Trang 2518
Theo thống kê tại Việt Nam hiện nay, số lượng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài chiếm t lệ cao hơn so với nam giới nhiều nhất là kết hôn với công dân Đài Loan, Trung Quốc Trung bình m i năm có khoảng 8 người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài Trong đó, tại các tỉnh giáp với biên giới nước ngoài như Quảng Ninh, thống kê cho thấy những phụ nữ kết hôn với người nước ngoài chủ yếu là phụ
nữ ở những gia đình nghèo, thiếu việc làm, trình độ học vấn thấp… và đa số đều
Từ những thống kê về vị trí địa lý và dân cư như nêu trên cho thấy, tại các địa phương có tập trung nhiều người nước ngoài thì số lượng các đôi vợ chồng kết hôn có yếu tố nước ngoài có xu hướng tăng cao hơn so với các địa phương khác và số lượng các vụ tranh chấp cũng t lệ thuận với số người kết hôn Cùng với sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương và nhận thức pháp lý khác nhau của m i người dân, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng gặp phải những ảnh hưởng và tác động nhất định như tác giả đ phân tích ở trên
Điều kiện kinh tế và chính trị xã hội
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài còn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế và chính trị x hội Tại địa phương có nền kinh tế phát triển, điều kiện chính trị x hội ổn định thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sẽ dễ dàng hơn tại những địa phương có nền kinh tế kém phát triển, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng không ổn định, gặp tình trạng chồng chéo, không phân định rõ ràng trách nhiệm Theo nghiên cứu của tác giả, Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, nền kinh tế đang ngày một phát triển để bắt kịp với thời kỳ cách mạng công nghiệp Với những điều kiện kinh tế phát triển như vậy, bộ máy chính trị của nước ta được vận hành ổn định, vì vậy hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có thể kỳ vọng đạt được những thuận lợi khi xử lý các vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, tại Việt Nam gặp phải một thực trạng là nền kinh tế không được phân hóa đồng đều cho toàn bộ dân cư, kéo theo sự hiểu biết pháp luật của người dân còn rất hạn chế, sự chênh lệch tại các vùng miền là rất lớn, đặc biệt là tại các địa phương có tình hình kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp Đối với các vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, khi mà rào cản
về mặt ngôn ngữ, tri thức có thể dễ dàng được nhận thấy thì khả năng thu thập chứng
cứ của đương sự sẽ càng bị hạn chế Thực tiễn thực hiện cho thấy đa số các cặp vợ chồng kết hôn có yếu tố nước ngoài đều không đăng ký với cơ quan có thẩm quyền
14
moi-nam-438073.html
Trang 26https://thanhnien.vn/doi-song/18000-cong-dan-viet-nam-ket-hon-voi-nguoi-nuoc-ngoai-19
của Việt Nam hoặc của quốc gia khác Điều này chính là rào cản khiến cho việc quản
lý, thu thập chứng cứ chứng minh của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài gặp những khó khăn nhất định
Yếu tố khách quan ảnh hưởng tới các quy định về thu thập chứng cứ của Tòa án xuất phát từ đường lối của Đảng về hoạt động tư pháp Đảng Cộng sản Việt Nam đ và đang coi trọng việc cải cách tư pháp là một nội dung quan trọng để hoàn thiện bộ máy Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, bảo vệ pháp chế x hội chủ nghĩa Nghị quyết số 8 – NQ TW ngày về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp của Bộ Chính trị đ chỉ rõ: “Khi xét xử, các Tòa án phải đảm bảo mọi công dân
đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan… Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ s xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, nguyên đơn, bị đơn và những người
có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định” 15 Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam của Bộ Chính trị đ chỉ rõ định hướng cơ bản về cải cách thủ tục tố tụng tư pháp, trong đó có TTDS đặt ra hai yêu cầu cốt lõi mang tính chiến
lược là “đảm bảo thuận tiện cho dân” và “bảo đảm quyền tranh tụng của các đương
sự trong tố tụng dân sự” 16
Như vậy, có thể thấy yêu cầu đặt ra đối với việc cải cách
hệ thống pháp luật TTDS là những vấn đề trọng tâm để phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế Do đó, BLTTDS ra đời đ nhằm làm cho trình tự và thủ tục tố tụng dân
sự ngày càng dân chủ, công khai, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Nguyên tắc đảm bảo cạnh tranh trong xét xử được thể hiện xuyên suốt trong các quy định cụ thể của BLTTDS , trong đó có các quy định về thu thập chứng cứ của Tòa án
Ngoài ra, yếu tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài còn phải kể đến các đường lối chính sách về ngoại giao giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, sự tuân thủ các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế quy định về vấn đề này Yếu tố về chính sách ngoại giao của Việt Nam với m i quốc gia, mối quan hệ quốc tế giữa các nước để cụ thể hóa các chính sách ngoại giao trong hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là rất
Trang 2720
quan trọng Đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc mở rộng các quan hệ quốc tế là cơ sở nền tảng để mở ra các quan điểm về chính trị cho các cơ quan tham vấn cho Chính phủ, các cơ quan ngoại giao, cơ quan tư pháp, giúp Chính phủ có những quyết sách đúng đắn trong việc gia nhập các hiệp định, điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình
có yếu tố nước ngoài Để tạo cơ sở pháp lý ổn định cho việc điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung và các quan hệ về hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng thì việc
ký kết các hiệp định song phương giữa Việt Nam với các nước về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự có vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đ và đang hội nhập quốc tế Đến nay, Việt Nam đ ký kết 8 hiệp định thỏa thuận tương trợ tư pháp
về dân sự với các nước trên thế giới, đây là các văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo
vệ các quyền nhân thân và tài sản của công dân của các bên ký kết nói chung và công dân Việt Nam ở nước ngoài nói riêng Bên cạnh đó, kể từ ngày 6, Việt Nam
đ chính thức là thành viên của Công ước La Hay năm 96 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại, trong đó, có khoảng nước là thành viên của Công ước này Điều đó cho thấy, các vụ việc dân sự
có yếu tố nước ngoài phát sinh cần có sự tương trợ tư pháp quốc tế ngày càng được mở rộng và gia tăng, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong cộng đồng quốc tế
Việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, do vậy khi Tòa án giải quyết từng vụ việc cụ thể Tòa án cần phải xác định hệ thống pháp luật được áp dụng Bên cạnh việc áp dụng pháp luật trong nước để giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng nảy sinh vấn đề xung đột pháp luật Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam và các nước đ tích cực tham gia ký kết hay gia nhập các ĐƯQT để giải quyết Khi giải quyết các vụ
án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài một số kiểu hệ thuộc cơ bản áp dụng đó là: Luật nhân thân; Điều ước quốc tế (trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thì ĐƯQT được coi là nguồn quan trọng điều chỉnh các quan hệ này); Tập quán quốc tế (trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thì tập quán quốc tế thường áp dụng khi trong trường hợp các văn bản pháp luật trong nước, ĐƯQT mà chúng ta ký kết hoặc gia nhập không quy định, nhưng việc áp dụng này cũng không được trái với pháp luật trong nước)
Trong quan hệ quốc tế, chủ quyền quốc gia được xem là nguyên tắc tối cao và bất khả xâm phạm Do vậy, khi có vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài xảy
ra, đòi hỏi phải có sự hợp tác của các quốc gia liên quan để giải quyết các vấn đề về
Trang 2821
tương trợ tư pháp Đây là xu thế tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa
hiện nay Điều này đ được Hiến pháp cụ thể hóa như sau: “Chính phủ Việt Nam
có nhiệm vụ tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam nước ngoài” 17
Có thể nhận thấy, hợp tác quốc tế trong TTDS giữ vị trí quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án ở m i quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới Ở Việt Nam, trên cơ sở quy định của các Điều ước quốc tế, các Hiệp định đ tham gia, ký kết với các quốc gia khác chúng ta đ nội luật hóa, hình thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp tác quốc tế trong TTDS, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, trong đó đáng chú ý là sự ra đời của Luật tương trợ tư pháp năm
2007 Trước bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, tình hình các
vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài phát sinh ngày càng nhiều về số lượng, gia tăng về mức độ phức tạp thì yếu tố đường lối chính sách về ngoại giao giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
1.2.2 Yếu tố chủ quan
Yếu tố chủ quan là những yếu tố thuộc về chủ thể và tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động của chủ thể, cũng như bản thân của sự hoạt động đó Thuộc về yếu tố chủ quan là năng lực thể chất của chủ thể, ý thức của chủ thể tham gia vào việc định hướng cho hoạt động và bản thân của sự hoạt động đó Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan chủ yếu từ phía đương sự, các cơ quan công quyền, cơ chế phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan có thẩm quyền trong việc cung cấp chứng cứ cho Tòa
án, đặc biệt là các cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài trong trường hợp Tòa án cần thu thập chứng cứ bằng biện pháp UTTP Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới việc thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện ở sự tận tâm, ý thức, sự hợp tác của các chủ thể như đương sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án trong việc h trợ Tòa án thu thập chứng cứ của vụ án…; sự h trợ tận tình của các cơ quan công quyền, phối hợp nhịp nhàng giữa Tòa án với các cơ quan có thẩm quyền được Tòa án
17
Hiến pháp nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 8 tháng năm , khoản Điều 96
Trang 2922
yêu cầu thực hiện việc ủy thác tư pháp Hiện nay ở Việt Nam, việc lưu trữ, quản lý thông tin tài liệu, chứng cứ của các cơ quan, tổ chức còn nhiều bất cập khiến cho đương sự không thể dễ dàng tiếp cận, thu thập được Chính vì lẽ đó, pháp luật cần quy định về cơ chế h trợ cho người dân có thể dễ dàng tra cứu, truy xuất thông tin để thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình khi tham gia TTDS và sự h trợ của Toà án trong hoạt động thu thập chứng cứ là thực sự cần thiết để có thể phối hợp cùng đương sự làm sáng tỏ sự thật khách quan của VADS nói chung, vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng, đảm bảo tính công bằng của pháp luật và x hội
Khi Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ của vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, biện pháp UTTP là hoạt động thu thập chứng cứ được áp dụng thường xuyên Để thực hiện việc UTTP ra nước ngoài, Tòa án cần thông qua các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam như Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, các cơ quan l nh sự để gửi yêu cầu UTTP sang cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài Thực tế hiện nay Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp gặp phải nhiều vướng mắc, đó là khi gửi yêu cầu cho các cơ quan tại Việt Nam, hoặc các cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài kể cả các nước mà Việt Nam đ ký kết, gia nhập điều ước quốc tế thì kết quả trả lời thường rất chậm, thậm chí không có sự hợp tác dẫn đến không nhận được kết quả phản hồi, từ đó dẫn tới việc thu thập chứng cứ của Tòa án bị kéo dài, có khi không thực hiện được Khi đó, công tác phối hợp giữa các cơ quan là yếu tố được đặt lên trên hết để h trợ Tòa án trong việc thu thập chứng cứ của vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử, giải quyết các VADS BLTTDS
2015 quy định, Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết
vụ án Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phù thuộc vào việc thu thập chứng cứ có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không
Vì vậy, thiết nghĩ để Tòa án có thể làm tốt vai trò của mình, các chủ thể cần h trợ hết khả năng của mình để Tòa án có thể thu thập chứng cứ có ý nghĩa trong việc giải quyết VADS Đồng thời, các Thẩm phán cũng cần tận tâm, tận lực và công tâm để h trợ các đương sự thu thập chứng cứ Những yếu tố chủ quan như tác giả đ nêu ở trên ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án và kết quả phán quyết của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
1.3 Sơ lược quá trình phát triển của các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Cách mạng tháng Tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
Trang 3023
Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á Thời kỳ này, những văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề dân sự trong đó có các quan hệ hôn nhân gia đình không có nhiều, do đó đối với những quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài còn tương đối ít ỏi Tuy nhiên cũng có thể kể đến một số văn bản pháp luật sau: Điều Sắc lệnh số -SL ngày 9 6 quy định về thẩm quyền của Tòa án trong
giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tuy còn rất chung chung: “Trong
toàn cõi Việt Nam, các Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với mọi người, bất cứ quốc tịch nào” Sắc lệnh số 9-SL ngày 9 là văn bản pháp luật riêng biệt đầu tiền
quy định về ly hôn và có đề cập đến quyền tự do ly hôn, nguyên nhân ly hôn, thủ tục
ly hôn, hiệu lực của việc ly hôn một cách cụ thể và rõ ràng
Luật hôn nhân và gia đình năm 9 9 ra đời là một bước ngoặt trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình trong thời kì bấy giờ, đ tách riêng các quan hệ hôn nhân và gia đình khỏi các quan hệ dân sự Tuy nhiên, các vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài chỉ được đề cập sau khi có Pháp lệnh tổ chức Tòa án ngày 96 Thông qua các Thông tư số DS ngày 96 về việc xử lý ly hôn đối với người cố tình giấu địa chỉ, Thông tư 8 TC ngày
9 96 hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền mới của Tòa án nhân dân thuộc tỉnh,
x , huyện, khu phố, Thông tư này quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp hành chính tương đương có thể lấy lên để giải
quyết các việc có liên quan đến “Ngoại kiều, Việt kiều mới về nước…” Ngoài ra, Tòa
án nhân dân tối cao cũng có ban hành công văn mang tính chất hướng dẫn một số trường hợp đơn l như Công văn số 8 DS ngày 966 gửi Tòa án nhân dân tỉnh
Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai,… về việc giải quyết các vụ án ly hôn ở biên giới Việt Trung Đặc biệt, Thông tư số 9 T TC ngày 8 6 9 của Tóa án nhân dân tối cao hướng dẫn các vụ ly hôn ở vùng biên giới Việt – Trung đ có những quy định về thẩm quyền xét xử và thủ tục tố tụng khá cụ thể
Đối với hoạt động thu thập chứng cứ, trong giai đoạn này có xuất hiện một số quy định nhỏ l về chế độ điều tra trong tố tụng dân sự Cụ thể như Thông tư HCTP ngày 9 của Bộ Tư pháp quy định về tổ chức và phân công trong
nội bộ Tòa án mới có quy định “Đối với những vụ án dân sự, ông Chánh án có nhiệm
vụ điều tra lập hồ sơ vụ án ” hay Thông tư số NCPL ngày 9 8 9 của Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn việc xử lý về dân sự những hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn do luật định trong đó có quy định chứng cứ về hôn nhân thực tế Nổi bật ở giai đoạn này là Thông tư số 6 T TC Ngày 9 của Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn việc điều tra trong tố tụng dân sự Tuy vậy, trong giai đoạn này, các
Trang 3124
quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ việc dân sự nói chung cũng như vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài dù đ được đề cập nhưng còn rất hạn chế
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1988
Ngày 9 , miền Nam giải phóng, đất nước ta hoàn toàn thống nhất Trong hoàn cảnh hệ thống Tòa án các tỉnh phía Nam được thành lập, hệ thống pháp luật Việt Nam cùng với đó cũng dần được hoàn thiện
Ngày 9 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 6-CP về việc hướng dẫn thi hành và xây dựng pháp luật thống nhất, trong đó thống nhất áp dụng các văn bản pháp luật trong toàn quốc Tư pháp quốc tế của Việt Nam dần phát triển và ngày càng tiến bộ khi Nhà nước ta tham gia ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với một số nước trong đó có đề cập đến lĩnh vực dân sự, phải kể đến là: Hiệp định tương trợ tư pháp với Đức, Liên bang Xô Viết, Tiệp Khắc, Cu Ba, Hungari, Bungari Ngoài
ra, ngày 986, T NDTC – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp đ ban hành Thông tư liên ngành số 6 TT-LN hướng dẫn về thẩm quyền và thủ tục giải quyết những việc ly hôn giữa các công dân Việt Nam mà ở một bên ở nước ta chưa có Hiệp định TTTP về các vấn đề hôn nhân và gia đình, trong đó tại mục của Thông tư
có quy định khá cụ thể hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài Ngoài ra, Công văn 96 NCPL ngày 8 9 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm có nêu: “Khi đương sự
kh i tố, Tòa án nhân dân phải tích cực chủ động việc điều tra, thu thập chứng cứ, chứ không nên cho rằng đương sự để xuất chứng cứ đến chừng mực nào thì Tòa án nhân dân chỉ căn cứ vào những chứng cứ đó để xét xử” Hướng dẫn của Công văn này thể
hiện trách nhiệm chủ động tích cực thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án thuộc thẩm
quyền của Tòa án
Giai đoạn này, các quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài tuy chưa nhiều nhưng đ được các nhà làm luật chú trọng và dần được hoàn thiện hơn
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2003
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 9 989 là văn bản có tính pháp lý cao nhất của Nhà nước ta từ trước đến thời điểm này Các thủ tục tố tụng giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động đều tuân theo các quy định của pháp lệnh này Đối với vấn đề thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự, Pháp lệnh này quy định có nhiều tiến bộ Vai trò của Tòa án trong điều tra thu thập chứng cứ vẫn được khẳng định và coi là nhiệm vụ bắt buộc của Tòa án Tuy nhiên, các quy định về
Trang 32Như vậy, giai đoạn từ năm 98 đến năm thể hiện từng bước thay đổi của nước ta trong thời kỳ hội nhập, đồng thời cũng đánh dấu sự phát triển đáng kể của pháp luật đối với những quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ
án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Từ đó tạo tiền đề để củng cố và hoàn thiện các quy định của pháp luật giai đoạn sau
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014
Ngày 6 , tại kỳ họp thứ V Quốc hội khoá XI thông qua Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày Bộ luật gồm 6 Chương với 8 Điều quy định các trình tự thủ tục để giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Chương VII của Bộ luật này (từ Điều 9 đến Điều 98) về chứng minh và chứng cứ trong đó quy định tương đối đầy đủ và cụ thể các biện pháp, cách thức để thu thập tài liệu chứng cứ của Tòa án Bộ luật quy định nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng
cứ là của đương đương sự Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Trưng cầu giám định; Quyết định định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại ch ; U thác thu thập chứng cứ; Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự Ngoài ra, Phần thứ chín của Bộ luật này quy định riêng đối với thủ tục giải quyết các
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự, đặc biệt
ở Chương XXXVI đ quy định cụ thể về nguyên tắc áp dụng tương trợ tư pháp cũng như cách thức thực hiện biện pháp ủy thác tư pháp, có ý nghĩa quan trọng trong hoạt
Trang 3326
động thu thập chứng cứ đối với các vụ việc dân sự nói chung và các vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng
Việt Nam khoá XII đ thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (LSĐBSBLTTDS) đ bổ sung và sửa đổi một số quy định về chứng cứ, chứng minh và đặc biệt là các biện pháp thu thập chứng cứ của Toà án để phù hợp hơn với sự phát triển của thực tiễn đời sống kinh tế x hội và thông qua hoạt động của Toà án trong việc thu thập chứng cứ sẽ giúp đương sự nhiều hơn trong quá trình tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
1.3.5 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay
BLTTDS năm số 9 QH được Quốc hội trong kỳ họp khóa X thông qua ngày và chính thức có hiệu lực từ ngày 6 bao gồm Chương, Điều, trong đó, giữ nguyên 6 Điều, sửa đổi, bổ sung Điều, bổ sung mới Điều, b i bỏ Điều Đối với hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, Bộ luật dân sự năm quy định từ Điều 9 đến Điều 6 nhìn chung không có thay đổi gì đáng kể, chỉ sửa đổi bổ sung một số quy định để phù hợp với mô hình tố tụng “xét hỏi kết hợp tranh tụng”
và nhằm khắc phục những hạn chế trong của Bộ luật tố tụng cũ ví dụ như đối với định giá tài sản, Bộ luật tố tụng dân sự năm sửa đổi bổ sung năm quy định Tòa án chỉ ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá trong trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc các bên thoả thuận với nhau theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều vụ án, các bên đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản, đây không thuộc trường hợp Tòa án có thể chủ động ra quyết định định gia nhưng không có đương sự nào yêu cầu Tòa án ra quyết định giá nên không thể định giá đối với tài sản đang tranh chấp làm cho Tòa án gặp khó khăn trong việc giải quyết vụ án Vì vậy, để khắc phục vướng mắc đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm đ bổ sung trong trường hợp các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản thì Tòa án ra quyết định định giá tài sản Ngoài ra, nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết quốc tế về hoàn thiện thủ tục giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài, Bộ luật tố tụng dân sự năm đ
có nhiều quy định mới về thủ tục giải quyết các yêu cầu, trong đó đối với hoạt động thu thập chứng cứ ở nước ngoài, Bộ luật đ quy định riêng tại Điều và hướng dẫn chi tiết các phương thức tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, bên cạnh phương thức tống đạt truyền thống như trước đây được quy định tại Điều ước quốc tế và thông qua con đường ngoại giao,
Bộ luật tố tụng dân sự bổ sung thêm các phương thức tống đạt mới như tống đạt theo đường
Trang 3427
dịch vụ bưu chính, …, trong trường hợp thực hiện các phương thức tống đạt không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài,…
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, tác giả rút ra được một số kết luận như sau:
Luận văn đ đưa ra cơ sở các khái niệm về chứng cứ, thu thập chứng cứ, từ đó xây dựng khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
Luận văn đ chỉ ra những điểm đặc trưng cơ bản của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài gồm một số điểm đặc trưng về áp dụng pháp luật, chủ thể, đặc điểm về không gian, thời gian, đặc điểm tác động tới vấn đề an ninh quốc gia, an ninh biên giới, vấn đề chủ quyền của quốc gia Từ
đó, luận văn đưa ra những ý nghĩa của các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Việc pháp luật quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS có ý nghĩa to lớn trong việc có được những chứng cứ trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng nhằm đảm bảo cơ sở và căn cứ pháp lý của bản án, quyết định của Toà án, thể hiện chức năng bảo vệ công lý và công bằng x hội của Toà án Trong chương này, tác giả cũng chỉ ra các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Đồng thời, thống kê về lịch sử hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cho đến nay Các quy định về thu thập chứng cứ theo BLTTDS ngày càng được hoàn thiện, các trình tự thủ tục thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án dân sự nói chung, vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng được quy định khá đầy đủ, cụ thể Chi tiết các quy định pháp luật TTDS hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự nói chung, vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng sẽ được tác giả đề cập và phân tích tại Chương của Luận văn
Trang 3528
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÕA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT
VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
2.1 Điều kiện để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ trong vụ án hôn nhân và gia đình có yêu tố nước ngoài
Thực tế cho thấy trình độ nắm bắt, hiểu biết pháp luật của người dân Việt Nam hiện nay không đồng đều và còn nhiều hạn chế, nhất là đối với những vụ án có yếu tố nước ngoài, trong khi đó không phải khi nào đương sự cũng có khả năng thuê luật sư
để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, do đó nhiều trường hợp đương
sự không biết và cũng không thể tự mình thu thập được đầy đủ các tài liệu chứng cứ để cung cấp cho Tòa án Trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, đương sự ngoài những khó khăn về hiểu biết pháp luật như đ nêu ở trên còn gặp phải những hạn chế về ngôn ngữ, rào cản về khoảng cách địa lý Vì vậy, việc pháp luật quy định Tòa án có thể áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự cũng như đảm bảo việc giải quyết các vụ án một cách công bằng, nhanh chóng và hiệu quả nhất Tuy nhiên, không phải Tòa án có thể tùy tiện áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ mà phải tuân theo những điều kiện chặt chẽ do pháp luật quy định nhằm tránh việc áp dụng một cách tùy tiện pháp luật và đảm bảo giá trị pháp lý của chứng cứ thu thập được Theo quy định của BLTTDS năm có những trường hợp Tòa án có quyền chủ động thu thập chứng cứ đồng thời có những trường hợp Tòa án thu thập chứng cứ khi
có yêu cầu của đương sự Về cơ bản các trường hợp này áp dụng đối với vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài không khác biệt so với các vụ án dân sự nói chung,
vì vậy tác giả sẽ đi sâu phân tích các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
2.1.1 Hoạt động chủ động thu thập chứng cứ của Tòa án
Theo quy định tại khoản Điều 9 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm , Tòa án có thể chủ động tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng
cứ trong các trường hợp: (i) lấy lời khai của đương sự khi đương sự không thể tự khai; (ii) lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết; (iii) đối chất khi xét thấy
có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng; xem xét, thẩm định tại ch khi xét thấy cần thiết; (iv) định giá tài sản trong trường hợp các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản, đưa ra giá tài sản khác nhau
Trang 3629
hoặc không thỏa thuận được giá tài sản; hoặc các bên thỏa thuận với nhau, với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba; có căn
cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đ vi phạm pháp luật khi thẩm định giá; (v) xem xét, thẩm định tại ch khi Toà án xét thấy cần thiết; (vi) u thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; (vii) yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp xét thấy cần thiết; (viii) xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú khi thấy cần thiết, chẳng hạn như đương sự là công dân Việt Nam học tập hoặc lao động ở nước ngoài
Việc pháp luật quy định các trường hợp Toà án chủ động thu thập chứng cứ như nêu trên nhằm thể hiện vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc xác minh thu thập chứng cứ trong trường hợp cần thiết cho việc giải quyết vụ án, đồng thời cũng khẳng định rõ không phải mọi hoạt động thu thập chứng cứ đều do Tòa án chủ động thực hiện Trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, Toà án
là cơ quan trực tiếp xây dựng hồ sơ và căn cứ vào hồ sơ đó để giải quyết vụ án Quá trình thu thập chứng cứ chính là một trong các bước cần tiến hành để Toà án xây dựng
hồ sơ vụ án Hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài có đảm bảo chính xác, khách quan, toàn diện thì Thẩm phán mới có thể định hướng giải quyết vụ án một cách công bằng, hợp pháp, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương
sự Vì vậy, những chứng cứ mà Toà án thu thập được phải luôn đảm bảo tính chính xác, đúng đắn, khách quan và toàn diện Mặc dù pháp luật quy định các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để Toà án giải quyết vụ án, nhưng nếu giao phó toàn bộ nghĩa vụ chứng minh cho đương sự để Toà án không phải tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ thì tác giả cho rằng điều đó sẽ không hợp lý với tình hình giải quyết các
vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam hiện nay do có thể các chứng cứ do các bên đương sự cung cấp chỉ là những chứng cứ có lợi cho mình, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự thật khách quan của vụ án
Việc pháp luật quy định Thẩm phán có quyền thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ trong các trường hợp mà Toà án xét thấy cần thiết như nêu trên là hợp lý bởi
lẽ các đương sự trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đa phần là những phụ nữ hoặc đương sự có gia cảnh khó khăn nên không có điều kiện mời luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế Do đó, khi có tranh chấp, họ không biết phải thu thập chứng cứ tại đâu, bằng hình thức nào, chứng cứ nào có thể phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp…,
Trang 3730
trong khi đó pháp luật lại không có quy định luật sư phải bắt buộc tham gia tố tụng dân
sự Chính vì lẽ đó, nếu trách nhiệm thu thập chứng cứ hoàn toàn thuộc về phía đương
sự thì rất có thể dẫn tới tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Mặt khác, trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu
tố nước ngoài thường có tranh chấp về những tài sản lớn như bất động sản, xuất hiện những trường hợp một trong các bên đương sự thông đồng nhằm thỏa thuận với nhau, với tổ chức khác về giá trị của tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc bên thứ ba Khi đó nếu Tòa án không chủ động tự thu thập chứng cứ để làm rõ sự thật khách quan của vụ án thì kết quả giải quyết vụ án rất dễ bị sai lệch, không đảm bảo sự công bằng cho các đương sự
Một lý do nữa cho thấy việc quy định Toà án có quyền chủ động thu thập chứng
cứ trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài là hợp lý bởi lẽ thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp đương sự gặp phải rất nhiều khó khăn khi tự mình đi thu thập chứng cứ đang do các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan Nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài đang lưu trữ, quản lý hồ sơ, tài liệu Hiện nay ở Việt Nam, việc công khai các tài liệu, giấy tờ, văn bản cho công dân còn bị hạn chế Cộng với bộ máy quản lý hành chính còn tình trạng quan liêu, chồng chéo, ngại trách nhiệm, thiếu tính hệ thống dẫn tới việc thu thập chứng cứ của đương sự lại càng gặp nhiều khó khăn Có những vụ án khi đương sự tự đi thu thập chứng cứ thì đa phần bị
từ chối, hoặc cung cấp không đầy đủ, không chính xác, không kịp thời Hoặc khi đương sự Việt Nam muốn liên hệ thu thập chứng cứ tại các cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài thì đều không được h trợ và rất mất thời gian do phải thông qua đại diện của cơ quan l nh sự của Việt Nam tại nước ngoài Từ đó đặt ra yêu cầu Toà án là cơ quan Nhà nước có chức năng giải quyết tranh chấp phải có sự can thiệp, h trợ đương
sự thu thập các chứng cứ đang được lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thu thập được
Tòa án có trách nhiệm giải quyết vụ án đúng pháp luật, thời hạn, đặc biệt các vụ
án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thường rất mất thời gian để thu thập chứng
cứ nên vai trò của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ là rất quan trọng Thẩm phán phải là người xác định đối tượng cần chứng minh, các chứng cứ cần thu thập của vụ
án, trên cơ sở đó, Thẩm phán thúc đẩy các bên đương sự chủ động tiến hành thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa án, đồng thời Thẩm phán tiến hành các hoạt động tố tụng để thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật Khi quyết định tự mình thu thập chứng cứ mà không có yêu cầu của đương sự, Tòa án phải thận trọng xác định những tài liệu làm cơ sở để tự mình thu thập chứng cứ Chẳng hạn như Thẩm phán
Trang 3831
phải xác định những văn bản chứa đựng mâu thuẫn giữa lời khai của đương sự làm căn
cứ cho việc cần thiết phải đối chất Khi đ có đủ cơ sở pháp lý, Tòa án phải tiến hành đúng biện pháp trong phạm vi thẩm quyền của mình
Việt Nam là quốc gia có truyền thống TTDS xét hỏi Việc xét hỏi dựa trên hồ sơ
vụ án bao gồm những chứng cứ mà Toà án có được Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chính là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án Nhiệm vụ của Toà án là phải đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự được khách quan, công bằng, đúng quy định của pháp luật Như vậy, để h trợ đương sự cung cấp những chứng cứ đảm bảo chính xác, hợp pháp, Toà án cần có sự h trợ đối với các đương sự Tuy vậy, khi thu thập chứng cứ, Toà án cũng chỉ được phép áp dụng những biện pháp theo đúng trình
tự, thủ tục mà pháp luật quy định Việc Toà án thu thập chứng cứ sai trình tự, thủ tục luật định thì chứng cứ thu thập được sẽ không có giá trị pháp lý
2.1.2 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án theo yêu cầu của đương sự
Nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là trách nhiệm của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự nói chung, vụ án hôn nhân gia đình có yếu
tố nước ngoài nói riêng Ngoài các trường hợp đ nêu tại mục ở trên, Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ với điều kiện đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu chứng cứ và đương sự có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại điểm e khoản Điều 9 BLTTDS hoặc có đơn yêu cầu Tòa án đối với quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản theo quy định tại điểm g khoản Điều này Theo đó, khi nhận đựợc yêu cầu của đương sự, Thẩm phán yêu cầu đương
sự trình bày rõ việc đương sự tự thu thập chứng cứ như thế nào? Lý do tại sao đương
sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ? Những biện pháp thu thập chứng cứ mà đương sự đ áp dụng? Trên cơ sở đó Tòa án sẽ xem xét chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ của đương sự Trường hợp Tòa án có cơ sở kết luận đương sự chưa tự mình chủ động thu thập chứng cứ hoặc chưa áp dụng hết khả năng mà đương sự có để thu thập chứng cứ thì Thẩm phán sẽ ra thông báo bằng văn bản thông báo không chấp nhận yêu cầu của đương sự và hướng dẫn đương sự cách thức thu thập chứng cứ Có thể hiểu trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ là trường hợp đương sự không thể thực hiện được mặc dù họ đ áp dụng mọi biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết hoặc trong trường hợp có nguy cơ rõ ràng về
việc chứng cứ tìm thấy có thể bị che hoặc tiêu hủy như: (i) chứng cứ do bên đương sự
kia giữ, mặc dù đương sự này đ ít nhất hai lần trở lên yêu cầu họ giao nộp cho Tòa án
nhưng họ không giao nộp trong thời hạn nhất định; (ii) chứng cứ đang do cá nhân, cơ
quan, tổ chức lưu giữ, đương sự đ yêu cầu cung cấp chứng cứ bằng văn bản nhưng bị
Trang 3932
từ chối; (iii) bên đương sự đưa ra yêu cầu cho thấy nguy cơ rõ ràng việc yêu cầu cung
cấp chứng cứ có thể làm cho chứng cứ bị che, tiêu hủy
Vấn đề Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ trong vụ án dân sự nói chung và vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng hiện nay tồn tại hai quan điểm Một quan điểm cho rằng, khi yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ, Thẩm phán phải yêu cầu rõ ràng đương sự cần bổ sung cụ thể tài liệu, chứng cứ nào? Quan điểm khác cho rằng, Thẩm phán chỉ yêu cầu đương sự bổ sung chứng cứ nhưng không nêu rõ tên, tài liệu, chứng cứ là gì để các đương sự chủ động cung cấp đầy đủ toàn bộ chứng cứ mình có Mặt khác, BLTTDS cũng không quy định rõ ràng về vấn đề này Vậy khi áp dụng sẽ tuân theo quan điểm nào? Thực tiễn thực hiện cho thấy để tạo điều kiện cho đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh đồng thời tạo điều kiện để Tòa án giải quyết vụ án đúng thời hạn pháp luật quy định, Tòa án thường ban hành văn bản yêu cầu đương sự cung cấp cụ thể những tài liệu, chứng cứ phải giao nộp cho Tòa án Nếu Tòa án yêu cầu giao nộp chứng cứ được thể hiện trong biên bản lấy lời khai của đương sự thì cũng phải nêu rõ tên, loại tài liệu, chứng cứ mà đương sự phải giao nộp cho Tòa án Như vậy, dù theo quan điểm nào đi nữa thì yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ vẫn phải thể hiện bằng văn bản và lưu trong hồ sơ của vụ án làm căn cứ
pháp lý để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật TTDS
Việc đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ phải được thể hiện trong bản đương sự tự khai và cũng có thể được thể hiện bằng văn bản của hình thức đơn yêu cầu, đơn đề nghị Trong trường hợp đương sự đến Tòa án yêu cầu thì Tòa án phải lập biên bản ghi rõ yêu cầu của đương sự Đối với trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ bằng biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức cung cấp chứng cứ khi đương sự đ áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì đương sự phải làm đơn ghi rõ vấn
đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu
giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập
Toà án có thể tiến hành một hay nhiều biện pháp thu thập chứng cứ là tuỳ thuộc vào từng vụ việc cụ thể, xuất phát từ chính yêu cầu thu thập chứng cứ của đương sự và tình trạng chứng cứ có trong hồ sơ Chẳng hạn như đối với vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, nếu đương sự yêu cầu và thực tế Toà án cũng thấy cần phải lấy lời khai của vợ chồng là người nước ngoài hay người làm chứng như cha, m … thì Tòa
án phải tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ đó Ngược lại, có những trường hợp
Trang 4033
dù đương sự có yêu cầu, nhưng Toà án thấy hồ sơ đ đầy đủ chứng cứ thì có thể không nhất thiết phải tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ như yêu cầu của đương sự Khi Tòa án xem xét đủ điều kiện để tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán cần giải thích cho đương sự biết nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí tương ứng với biện pháp thu thập mà đương sự yêu cầu như tiền tạm ứng chi phí giám định, định giá… Thẩm phán chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đ nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng trong trường hợp cần thiết
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài chỉ được thực hiện khi đáp ứng những điều kiện nhất định là quy định hoàn toàn hợp lý, đề cao trách nhiệm của đương sự trong việc thu thập chứng cứ, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự và hạn chế việc tự thu thập chứng cứ của Tòa
án Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS về vấn đề này đối với vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời gian qua cho thấy có nhiều Thẩm phán tiếp cận vấn đề đương sự yêu cầu một cách thụ động, cứng nhắc nên đ ngồi chờ đương sự yêu cầu và xuất trình chứng cứ mà không thấy được trách nhiệm, vai trò chủ động thu thập chứng cứ của Tòa án Trong khi đương sự trong vụ án hôn nhân gia đình
có yếu tố nước ngoài rất ít người biết cách thức tự mình thu thập chứng cứ và thủ tục yêu cầu Tòa án trong trường hợp không thể tự mình thu thập chứng cứ Một khó khăn nữa đặt ra là vụ án hôn nhân gia đình mang đặc điểm về yếu tố nước ngoài, phạm vi thu thập chứng cứ có thể nằm ngoài l nh thổ Việt Nam, sự bất đồng về ngôn ngữ, rào cản địa lý, pháp lý ở m i quốc gia khác nhau khiến cho đương sự gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tự mình thu thập chứng cứ do không biết phải thu thập chứng cứ
ở đâu, thu thập chứng cứ gì và nếu không thu thập được thì gửi yêu cầu cho Tòa án bằng phương nào, hình thức ra sao? Chẳng hạn đương sự là người nước ngoài khi gửi đơn yêu cầu cho Tòa án hoặc trực tiếp đến Tòa án yêu cầu thì phải thông qua người phiên dịch, qua đó gặp rất nhiều khó khăn trong diễn đạt và cung cấp các tình tiết,
chứng cứ của vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
2.2 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
2.2.1 Lấy lời khai của đương sự
Theo quy định tại khoản Điều 98 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ