1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

94 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
Tác giả Trương Việt Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Phương
Trường học Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự Và Tố Tụng Dân Sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự là Tòa án đầu tiên thụ lý và tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo qui định của pháp luật để giải quyết các vụ việc dân sự... Dựa trên

Trang 1

TRƯƠNG VIỆT HỒNG

HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ

CỦA TÒA ÁN SƠ THẨM TRONG QUÁ TRÌNH

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 2

TRƯƠNG VIỆT HỒNG

HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SƠ THẨMTRONG QUÁ TRÌNH

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 3

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tác giả, không hề sao chép từ luận văn của các tác giả khác Tác giả chịu trách nhiệm danh dự về công trình nghiên cứu của mình

Người viết

Trang 5

Bảng 1: Tình hình thụ lý và giải quyết án của Tòa án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến năm 2013

Bảng 2: Phân tích tỷ lệán dân sự, HNGD, LD, KDTM trong tổng số thụ

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SƠ THẨM TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 5

1.1 Khái niệm và đặc trưng pháp lý của hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự 5

1.1.1 Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự 5 1.1.2 Đặc trưng pháp lý của hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự 9

1.2 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết vụ

án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự trước ngày 01/01/2005 15

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1990 15 1.2.2 Giai đoạn từ 1990 đến 2004 15

1.3 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết vụ

án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước 17

1.3.1 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của Liên bang Nga 17 1.3.2 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp 19 1.3.3 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Liên bang Đức 21

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SƠ THẨM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH, THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 24

2.1 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết vụ

án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành 24

2.1.1 Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử sơ thẩm 24 2.1.2 Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện trong quá trình diễn ra phiên tòa sơ thẩm 47

2.2 Thực tiễn hoạt động thu thập chứng của Tòa án sơ thẩm, các vướng mắc

và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 51

2.2.1 Thực tiễn áp dụng các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm 51

Trang 7

Kết luận 80

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thủ tục tố tụng dân sự, chứng cứ có một vai trò quan trọng trong việc chứng minh và giải quyết vụ án dân sự Chứng cứ có thể các đương sự thu thập và giao nộp cho Tòa án, nhưng pháp luật cũng qui định cho Tòa án có quyền thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định Trong thực tế, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm rất quan trọng trọng việc xây dựng hồ sơ vụ án Những chứng cứ do các bên đương sự cung cấp, trong nhiều trường hợp chưa đầy

đủ, chưa có cơ sở vững chắc để phán quyết về vụ án Có những tình tiết của vụ án cần phải được Tòa án thu thập thêm những chứng cứ cần thiết để xác định, chứng minh Việc thu thập chứng cứ của các đương sự trong nhiều trường hợp còn gặp những trở ngại khách quan như khi đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ không được đáp ứng đầy đủ, kịp thời Vì vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là một nguồn bổ sung chứng cứ một cách khách quan, đầy đủ

và toàn diện để giải quyết vụ án được nhanh chóng Tuy nhiên, trong thời gian qua, những qui định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm còn nhiều bất cập, phần nào làm hạn chế kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án

Để góp phần nghiên cứu những qui định của pháp luật tố tụng dân sự về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm, làm rõ những vướng mắc, bất cập của pháp luật, từ đó góp phần kiến nghị hoàn thiện qui định của pháp luật về hoạt động

thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm, tác giả chọn đề tài “Hoạt động thu thập

chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyếtvụ án dân sự” làm Luận

văn Thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề này như:

Nguyễn Thị Minh Hằng, “Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt

Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học năm 2007 Tại công trình này, tác giả nghiên cứu

qui định của pháp luật về việc chứng minh của các chủ thể trong tố tụng dân sự Việt

Nam Vũ Trọng Hiếu,“Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự

Việt Nam” - Luận văn Thạc sĩ Luật học (1998) Công trình này, tác giả cũng nghiên

cứu về khái niệm chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam Đây là những công trình khoa học, được các tác giả nghiên cứu một cách công phu,

Trang 9

nhưng có giới hạn là nghiên cứu trong thời điểm Bộ luật Tố tụng dân sự chưa được sửa đổi bổ sung

Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn có các bài viết của Phạm Hữu

Thư, về“Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân

sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (số 9/1998); Hoàng Ngọc Thỉnh, “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học năm 2004; Nguyễn Công Bình,

“Các quy định về chứng minh trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học năm 2005

Các tác giả này cũng nghiên cứu những qui đinh về chứng minh trong tố tụng dân

sự Việt Nam Tuy nhiên, đó chỉ là những bài viết ngắn, nghiên cứu hoạt động chứng minh của mọi chủ thể có quyền và nghĩa vụ chứng minh, chứ không riêng chủ thể là Tòa án nhân dân và thời điểm nghiên cứu trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự thay đổi,

bổ sung năm 2011

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung từ năm 2011, có nhiều qui định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm đã được sửa đổi, bổ sung, những công trình nghiên cứu nêu trên chưa có điều kiện cập nhật Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên cũng là nguồn tham khảo quan trọng để tác giả có thể hoàn thành tốt phần nghiên cứu của mình

3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm nghiên cứu những vấn đề lý luận của hoạt động thu thập chứng

cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tại Tòa án để làm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài chú trọng nghiên cứu qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành, không nhằm tới việc nghiên cứu, so sánh với pháp luật các nước Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, đề tài tập trung nghiên cứu những qui định cụ thể về hoạt động thu thập chứng cứ của đối tượng chủ thể là Tòa án và ở cấp giải quyết vụ án là sơ thẩm Đó chính là những căn cứ pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở cấp sơ thẩm của Tòa án nhân dân

Trang 10

Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

Thủ tục giải quyết trong tố tụng dân sự gồm có vụ án dân sự và việc dân sự Trong thủ tục giải quyết việc dân sự, không có sự tranh chấp giữa các đương sự, tính chất đối lập trong tố tụng giữa các bên không được thể hiện rõ ràng, hoạt động thu thập chứng cứ của các của các chủ thể không quá phức tạp Do đó, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng không rõ nét bằng vụ án dân sự Chính vì lẽ đó, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là chỉ nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm đối với vụ án dân sự, không nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết việc dân sự và cũng không nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ cả quá trình tố tụng giải quyết vụ án tại Tòa án

Về phạm vi không gian và thời gian, tác giả nghiên cứu đề tài này dựa trên

cơ sở thực tiễn của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian 05 năm từ năm 2009 đến năm 2013

4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của Luận văn được dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mac-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược cải cách

tư pháp Cụ thể trong từng chương, các phương pháp nghiên cứu được vận dụng như sau:

Chương 1 chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích, so sánh Phương pháp phân tích được sử dụng trong việc phân tích khái niệm, đặc trưng pháp lý trong hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết

vụ án dân sự, lịch sử qui định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Phương pháp so sánh được kết hợp với phương pháp phân tích trong việc nghiên cứu hoạt động thu thập chứng của Tòa án một số nước

Trong chương 2, ngoài hai phương pháp phân tích, so sánh, tác giả còn vận dụng thêm phương pháp thống kê và phương pháp tổng hợp Bằng phương pháp phân tích, tác giả phân tích những qui định của pháp luật hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời gian 5 năm vừa qua Sau đó, tác giả dùng các phương pháp thống kê, so sánh để kết hợp với phương pháp phân tích để làm rõ việc thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời gian 5 năm vừa qua Trên cơ sở thực tiễn, tác giả đi vào phân tích những bất cập, tồn tại của Bộ luật TTDS hiện hành qui định về căn cứ

Trang 11

để Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Trên cơ sở kết quả phân tích những bất cập, vướng mắc, tác giả đề ra một số kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm Phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp kết quả nghiên cứu, khái quát những kết quả nghiên cứu Phương pháp phân tích và tổng hợp được thực hiện xuyên suốt quá trình nghiên cứu trong luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- Về lý luận, Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Luận văn góp phần làm rõ những khái niệm, thuật ngữ, cơ sở pháp lý của việc qui định các căn cứ qui định hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

- Về thực tiễn, Luận văn nghiên cứu khả năng vận dụng vào thực tiễn của những qui định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Luận văn góp phần làm rõ những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng các qui định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những tài liệu tham khảo cho những người tiến hành tố tụng nói chung và Thẩm phán, Kiểm sát viên nói riêng Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những đọc giả có quan tâm, sinh viên các trường Đại học Luật hay các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có chuyên ngành Luật, học viên Trường Bồi dưỡng Nghiệp vụ Kiểm sát, Học viện Tòa

án, Học viện Tư pháp

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài kết cấu thành 2 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ

thẩm trong giải quyết vụ án dân sự

Chương 2: Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong việc giải

quyết vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬPCHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SƠ THẨMTRONG GIẢI QUYẾTVỤ

1.1.1.1 Khái niệm Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự

Khái niệm Tòa án sơ thẩm gắn liền với khái niệm về cấp xét xử Cấp xét xử

Tuy nhiên, cấp xét xử không chỉ đơn thuần là khái niệm tố tụng nói chung, mà “cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng thể hiện quan điểm của Nhà nước về xét xử các vụ án nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan trong phán quyết của Toà án, bảo vệ các quyền

tự do dân chủ của công dân”2 Cấp xét xử khác với thủ tục xét xử Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng, còn thủ tục xét xử là những quy định cần tuân thủ đề thực hiện việc xét xử theo từng cấp Chính vì quan niệm về cấp xét xử như trên, ngày nay hầu hết quốc gia có nền luật pháp tiến bộ đều áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử vào thủ tục xét xử các vụ án, dù hình sự hay dân sự, hành chính, lao động, kinh doanh thương mại Để thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, hệ thống Tòa án phải được tổ chức theo mô hìnhphù hợp Tuy nhiên, dù tổ chức hệ thống Tòa án theo mô hình nào thì cũng bảo đảm có Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm

Xét về góc độ ngôn ngữ, sơ thẩm là “xét xử lần đầu một vụ việc ở Tòa án cấp

với vụ án Khái niệm về Tòa án sơ thẩm chưa được đề cập chính thức trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên, qua khái niệm cấp xét xử và xét xử sơ thẩm, chúng ta có thể hiểu được khái niệm Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự

Theo đó, Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự là Tòa án đầu tiên thụ lý và tiến hành

hoạt động thu thập chứng cứ theo qui định của pháp luật để giải quyết các vụ việc dân sự

1 Theo Trần Văn Độ (2007), “Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ

chức Tòa án các cấp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (5/2007), tr.1

2 Trần Văn Độ, tlđd 1, tr.1

3 Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.1460

Trang 13

1.1.1.2.Khái niệm vụ án dân sự

Thuật ngữ “vụ án dân sự” đã xuất hiện từ rất sớm trong các văn bản qui phạm pháp luật Việt Nam, như trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 19604, Pháp lệnh Qui định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của

Đến khi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 được ban hành, khái niệm vụ án dân sự được hiểu cụ thể hơn, là những tranh chấp hay yêu cầu liên quan đến tài sản, nhân thân trong quan hệ

1992 được ban hành và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1994, 1995 thì cơ cấu Tòa án nhân dân cấp tỉnh được phân thành các tòa chuyên trách là Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa hành chính, Tòa lao động Cũng trong thời gian này, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các

vụ tranh chấp lao động (1996), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (1996) lần lượt được ban hành Những qui định cụ thể về thẩm quyền giải quyết các

vụ án kinh tế, lao động, hành chính trong các Pháp lệnh này đã làm cho khái niệm

“vụ án dân sự” không còn được hiểu theo nghĩa rộng như trước đây Theo các Pháp lệnh nêu trên, “Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp liên quan đến việc mua

được gọi là “vụ án kinh tế”; và “Các tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền

4

Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 1960 qui định “Các Tòa án nhân dân là những cơ quan xét

xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tòa án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự”

5 Điểm b Điều 9 Pháp lệnh Qui định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của các Tòa án nhân dân địa phương 1961 qui định “Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền: (a)…, (b) Sơ thẩm những vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, nhưng xét thấy quan trọng hoặc phức tạp, cần lấy lên để xử”

6 Điều 10 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 qui định “Các Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự sau đây: (1) Những việc tranh chấp về quyền sở hữu, về hợp đồng, về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự giữa công dân với nhau, giữa công dân với pháp nhân, giữa pháp nhân với nhau, trừ những việc thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác; (2) Những việc về quan hệ hôn nhân và gia đình; (3) Những việc tranh chấp về lao động; (4) Những việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết, trừ những trường hợp quân nhân, cán bộ mất tích hoặc chết trong chiến tranh thuộc trách nhiệm giải quyết của các cơ quan hữu quan; (5) Những việc khiếu nại cơ quan hộ tịch về việc từ chối đăng ký hoặc không chấp nhận yêu cầu sửa đổi những điều ghi trong giấy tờ về hộ tịch; (6) Những việc khiếu nại về danh sách cử tri; (7) Những việc khiếu nại cơ quan báo chí về việc không cải chính thông tin có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; (8) Những việc khác do pháp luật quy định”

7 Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994

Trang 14

lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thực hiện hợp đồng lao động, và trong quá trình học nghề; các tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể, về

đó, khái niệm về “vụ án dân sự” không cònbao gồm các vụ án kinh tế, vụ án lao động như trước đây, mà chỉ bao gồm những vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình

Đến khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 được ban hành, khái niệm về “vụ án dân sự” có sự thay đổi BLTTDS 2004 qui định về “trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Toà án”9 Từ qui định nêu trên của Bộ luật Tố tụng dân sự, khái niệm “vụ án dân sự” được hiểu là các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Trong vụ án dân sự, luôn có sự tranh chấp hay là sự bất đồng, xung đột, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật10 Do đó, trong vụ án dân sự luôn tồn tại một bên chủ thể yêu cầu Tòa án buộc bên chủ thể khác thực hiện nghĩa vụ nhất định, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Đây cũng chính là cơ sở để phân biệt với “việc dân sự” được qui định trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành

1.1.1.3.Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

Theo Từ điển tiếng Việt, thu thập là “góp nhặt và tập hợp lại”11, còn “thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng trong đó các chủ thể chứng minh tìm kiếm, phát hiện, thu nhận các thông tin, tình tiết, sự kiện để làm căn cứ bảo vệ quyền lợi cho chính mình”12 hay “thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc

8 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996

9 Trích Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004

10

Nguyễn Văn Tiến-Bành Quốc Tuấn (2011), Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu

tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại Cơ quan tư pháp Việt Nam, NXB Lao động, Thành phố Hồ

Trang 15

dân sự”13 Trong tố tụng dân sự, thu thập chứng cứ là một hoạt động mang tính chất pháp lý, nhằm phục vụ cho việc chứng minh, làm sáng tỏ những tình tiết, sự kiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự không chỉ đơn thuần là những hoạt động riêng lẻ như gom góp, tập hợp lại

mà là một chuỗi các hoạt động bao gồm “phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ”14 Các hoạt động trong chuỗi này đều có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

có thể được hiểu là hoạt động của các chủ thể chứng minh trong việc phát hiện, ghi

nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự qui định

Trong tố tụng dân sự, hoạt động thu thập chứng cứ được nhiều chủ thể thực hiện như thu thập chứng cứ của đương sự, của Tòa án, của Viện kiểm sát Việc thu thập chứng cứ của đương sự trong các vụ án, việc dân sự vừa là quyền vừa là nghĩa

vụ của đương sự “Trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ

Để có chứng cứ giao nộp cho Tòa

án, đương sự phải có hoạt động thu thập từ trước và trong quá trình giải quyết Chứng cứ mà đương sự thu thập để nộp cho Tòa án thường là từ việc cất giữ, bảo quản của chính đương sự, nghĩa là những chứng cứ thuộc sự quản lý của đương sự Tuy nhiên, cũng có những chứng cứ đương sự không quản lý mà do những cá nhân,

cơ quan, tổ chức khác quản lý, lưu giữ Lúc này, đương sự có quyền yêu cầu các chủ thể này cung cấp Trong thực tế, không phải lúc nào yêu cầu cung cấp chứng cứ của đương sự cũng được các cá nhân, cơ quan, tổ chức quản lý, lưu giữ đáp ứng kịp thời và đầy đủ Do đó, hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự có thể gặp khó khăn làm cho đương sự không thể tự thu thập được Bộ luật Tố tụng dân sự dự liệu trường hợp này và qui định cho phép đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ Như vậy, ngoài đương sự trong vụ án dân sự, Tòa án cũng có những hoạt động thu thập chứng cứ nhưng chỉ trong một số trường hợp nhất định: Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do BLTTDS quy định16

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án mang tính chất hỗ trợ cho đương sự

13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an

nhân dân, tr.155

14 Trần Quang Tiệp (2009), Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, tr.121

15 Khoản 1, Điều 84, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

16 Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

Trang 16

trong việc xác minh, làm rõ một số tình tiết của vụ án nhưng hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có vai trò quan trọng cho việc giải quyết vụ án Đặc biệt trong thời gian giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án càng có vai trò quan trọng.Hoạt động này bảo đảm những chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm phải được thu thập một cách khách quan, chính xác, kịp thời và đầy đủ Nếu trong giai đoạn giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm không kịp thời, đầy đủ thì khi

vụ án được giải quyết tại cấp phúc thẩm có thể không thể bổ sung được Từ đó dẫn đến việc Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án, quyết định sơ thẩm để trả hồ sơ vụ

án về Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện việc thu thập chứng cứ và giải quyết lại vụ án

Cũng như hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự nói chung, khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết

vụ án chưa được qui định chính thức trong pháp luật về tố tụng dân sự Dựa trên cơ

sở khái niệm về Tòa án sơ thẩm, vụ án dân sự và khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự chúng ta có thể hiểu khái niệm về hoạt động thu thập

chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự như sau: Hoạt

động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự

là hoạt động tố tụng dân sự, trong đó Tòa án sơ thẩm tiến hành xác minh, phát hiện, thu nhận, tập hợp các thông tin, tình tiết, sự kiện để làm căn cứ cho việc giải quyết

vụ việc dân sự trong những trường hợp do pháp luật qui định

1.1.2 Đặc trưng pháp lý của hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết

vụ án dân sự có một số đặc trưng pháp lý sau đây:

Thứ nhất, hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong

giải quyết vụ án dân sự là hoạt động thu thập chứng cứ đầu tiên của quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân nhằm hoàn tất hồ sơ vụ án

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án có trách nhiệm xây dựng hồ

sơ vụ án Trong quá trình xây dựng hồ sơ, Thẩm phán được phân công thụ lý phải tiến hành những qui định của pháp luật tố tụng dân sự để đưa những tài liệu, chứng

cứ vào hồ sơ vụ án một cách đầy đủ và kịp thời Trong thời gian luật định, Thẩm phán phải hoàn tất hồ sơ vụ án để có thể đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Khác với mục đích hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự là nhằm chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản bác lại yêu cầu của đương sự khác, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là nhằm bảo đảm cho việc hoàn tất hồ sơ vụ án dân sự một cách đầy đủ

Trang 17

và kịp thời nhất Do đó, mọi hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án đều hướng đến việc hoàn tất hồ sơ vụ án.Do cấp sơ thẩm là cấp đầu tiên thụ lý và giải quyết vụ

án dân sự nên hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm là hoạt động thu thập chứng cứ đầu tiên của quá trình giải quyết vụ án nhằm mục đích hoàn tất hồ sơ của vụ án

Để bảo đảm vụ án được giải quyết một cách kịp thời, pháp luật tố tụng dân

sự qui định một khoảng thời gian nhất định để Thẩm phán hoàn tất hồ sơ Khoảng thời gian này là thời hạn chuẩn bị xét xử Thời hạn chuẩn bị xét xử ở Tòa án sơ thẩm được qui định cho từng loại án Thời hạn bốn tháng đối với các tranh chấp về dân sự và tranh chấp về hôn nhân và gia đình17, thời hạn hai tháng đối với những tranh chấp về kinh doanh, thương mại và những tranh chấp về lao động thuộc thẩm

do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng bảo đảm không quá ½ thời hạn chuẩn bị xét xử đối với từng loại án nêu trên19 Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, nếu các đương sự không thỏa thuận được với nhau và vụ án không có những căn cứ để tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết thì Thẩm phán phải hoàn tất hồ sơ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.Cấp

sơ thẩm là cấp tiếp cận đầu tiên vụ án và có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ vụ án để đưa

ra xét xử sơ thẩm trong hạn luật định, cho nên hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa

án sơ thẩm thực hiện là những hoạt động thu thập chứng cứ đầu tiên nhằm vào việc hoàn tất hồ sơ vụ ántrong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án

Thứ hai,hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự được thực hiện từ khi nhận được đơn khởi kiện đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm

- Thời điểm nhận đơn khởi kiện

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án gắn liền với quá trình xây dựng hồ

sơ vụ án Ngay từ thời điểm nhận đơn khởi kiện, người khởi kiện phải gửi kèm theo những tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc khởi kiện Sau khi vụ án được thụ lý giải quyết, hồ sơ vụ án được thiết lập, Tòa án phải đưa những tài liệu, chứng cứ này vào

hồ sơ vụ án để bảo đảm cho quá trình chứng minh của đương sự Những chứng cứ này, được đương sự giao nộp và Tòa án tiếp nhận, là những chứng cứ ban đầu do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập ngay từ thời điểm nhận đơn khởi kiện Như vậy, ngay

17

Theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 179 và Điều 25, Điều 27 BLTTDS

18 Theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 179 và Điều 29, Điều 31 BLTTDS

19 Theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTDS

Trang 18

từ thời điểm nhận đơn khởi kiện, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa đã được bắt đầu Từ những chứng cứ ban đầu này, sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán sẽ xem xét cần phải bổ sung những chứng cứ khác và thông báo cho đương sự giao nộp, vừa bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đương sự, vừa bảo đảm việc hoàn tất hồ sơ vụ án để giải quyết trong thời hạn luật định

- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Giai đoạn chuẩn bị xét xử là khoảng thời gian mà các bên đương sự có những hoạt động tích cực nhất trong quá trình thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa

án Trong giai đoạn này, nguyên đơn tiếp tục thu thập và giao nộp cho Tòa án những chứng cứ để bảo vệ cho quan điểm khởi kiện của mình.Bị đơn, sau khi được Tòa án thông báo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng tích cực thu thập và giao nộp cho Tòa án những chứng cứ cần thiết để phản bác lại yêu cầu mà nguyên đơn đưa ra Ngoài ra, bị đơn còn có thể đưa ra những yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn Để bảo đảm cơ sở chứng minh cho phản tố này, bị đơn cũng phải tích cực thu thập và giao nộp những chứng cứ cần thiết cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án, phục

vụ cho quá trình chứng minh của bị đơn Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng có thể thu thập và giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh tình tiết, sự việc nào đó của vụ án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ Nếu có yêu cầu độc lập, họ còn phải thu thập và giao nộp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu độc lập của mình Trong quá trình thu thập chứng cứ để giao nộp cho Tòa án, các đương sự

có thể gặp trở ngại trong việc thu thập đối với những chứng cứ do cá nhân, cơ quan,

tổ chức khác lưu giữ, bảo quản, đương sự có thể yêu cầu Tòa án có biện pháp thu thập chứng cứ thay cho họ Do đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm đóng vai trò rất quan trọng, góp phần làm cơ

sở cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật Ngay sau khi thụ lý vụ án, thời gian chuẩn bị xét xử chính thức được bắt đầu, Tòa án phải có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ

vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử, cho nên Tòa án cũng phải tích cực trong hoạt động thu thập chứng cứ Có thể nói, giai đoạn chuẩn bị xét xử là khoảng thời gian

mà Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ là chính yếu Hết thời hạn này, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án vẫn có thể được tiếp tục nhưng chỉ mang tính chất thu thập bổ sung những chứng cứ còn thiếu để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án

- Trong quá trình tiến hành phiên tòa sơ thẩm

Pháp luật tố tụng dân sự nước ta không giới hạn thời gian thu thập chứng cứ của các đương sự và Tòa án, cho nên hết giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu còn những chứng cứ cần thiết mà chưa được thu thập thì các đương sự và Tòa án cấp sơ thẩm

Trang 19

còn có thể tiếp tục thu thập Sau khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc xét thấy đã

đủ cơ sở chứng cứ để hoàn tất hồ sơ vụ án, Thẩm phán kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử bằng cách ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Sau khi ra quyết định đưa vụ án

ra xét xử, các đương sự kiểm tra lại chứng cứ của mình để chuẩn bị cho việc bảo vệ quyền lợi trước phiên tòa Khi xét thấy chứng cứ còn thiếu thì đương sự phải nhanh chóng bổ sung và giao nộp cho Tòa án Tòa án cũng tiến hành mọi việc để chuẩn bị

tổ chức phiên tòa trong hạn luậtđịnh, trong đó có việc xem xét lại hồ sơ vụ án Khi phát hiện còn thiếu những chứng cứ cần thiết thì Tòa án cấp sơ thẩm cũng được tiếp tục thu thập bổ sung Hoạt động thu thập chứng cứ còn có thể được tiến hành ngay tại phiêm tòa sơ thẩm Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử tiến hành thu thập chứng cứ thông qua việc ghi nhận ý kiến của các đương sự, ý kiến của người bảo vệ quyền lợi của đương sự, ý kiến của người làm chứng và các cơ quan tham gia tố tụng mà Tòa án triệu tập Hội đồng xét xử cũng thu thập chứng cứ thông qua việc hỏi các đương sự, người làm chứng, người tham gia tố tụng… để làm sáng tỏ các tình tiết, sự việc cần thiết Việc thu thập chứng cứ trong quá trình tiến hành phiên tòa sơ thẩm cũng là hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm nhằm thẩm tra, xác minh, củng cố, bổ sung những chứng cứ cần thiết giúp cho việc giải quyết vụ án được khách quan, chính xác, toàn diện

Thứ ba, hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải

quyết vụ án dân sự được giới hạn trong phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố,

yêu cầu độc lập của các đương sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của các bên đương sự là không giới hạn khuôn khổ qui định của pháp luật, nghĩa là đương sự có thể tự mình thu thập mọi chứng cứ

mà đương sự cho là có thể phục vụ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình để giao nộp cho Tòa án Nhưng đối với Tòa án, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được đặt trong khuôn khổ qui định của pháp luật Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định20 Đây vừa là nhiệm vụ, vừa là quyền hạn của Thẩm phán khi xây dựng hồ sơ để giải quyết vụ án

Giới hạn của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là trong phạm vi yêu cầu của khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự Xuất phát từ

quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, “đương sự có quyền quyết định việc

khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ

lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ

20 Khoản 2 Điều 6 BLTTDS

Trang 20

giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” 21 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm là nhằm xây dựng hồ sơ để giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của các đương sự Những yêu cầu này do các đương sự đặt ra và được Tòa án thụ lý Tòa án chỉ thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết những yêu cầu của đương sự và chỉ giới hạn trong phạm vi yêu cầu của đương sự, bao gồm các yêu cầu khởi kiện, yêu cần phản tố và yêu cầu độc lập Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, việc khởi kiện, yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là do đương sự tự quyết định và thể hiện bằng yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập Khi đương sự có yêu cầu thì Tòa án mới có cơ sở giải quyết Tòa án không được giải quyết vụ án vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự

Do chỉ giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu của đương sự, nên hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm cũng giới hạn trong phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự

Thứ tư, hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải

quyết vụ án dân sự bao gồm hoạt động tiếp nhận chứng cứ do các đương sự cung cấp và hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện các biện pháp theo qui định

của pháp luật tố tụng dân sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm gồm nhiều hoạt động khác nhau, nhằm mục đích đưa các tài liệu, chứng cứ từ bên ngoài vào hồ sơ vụ án,

để từ đây có cơ sở xem xét, giải quyết về các yêu cầu của đương sự một cách đầy đủ

và toàn diện Xuất phát từ việc bảo đảm mọi nguồn chứng cứ đều phải được đưa vào hồ sơ vụ án một cách đầy đủ, kịp thời, phục vụ cho việc giải quyết vụ án, nên hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm phải được thực hiện đối với mọi nguồn chứng cứ có thể thu thập được

Trong tố tụng dân sự, do các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản bác yêu cầu của đương sự khác, nên nguồn chứng cứ do đương sự cung cấp khá phong phú Để bảo đảm đầy đủ chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Tòa án phải tiếp nhận đầy đủ và kịp thời các chứng cứ từ nguồn này Do vậy, hoạt động tiếp nhận chứng cứ do đương sự cung cấp cũng là hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm Để bảo đảm giá trị trong hoạt động thu thập chứng cứ từ việc tiếp nhận chứng cứ do các đương

sự cung cấp, Tòa án cần thực hiện đúng các thủ tục trong việc tiếp nhận chứng cứ

21 Khoản 1 Điều 5 BLTTDS

Trang 21

do các đương sự cung cấp22 Nếu việc tiếp nhận không được thực hiện đúng qui định của pháp luật thì có thể làm cho chứng cứ không có giá trị pháp lý, không sử dụng được để chứng minh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự

Ngoài nguồn chứng cứ do các đương sự cung cấp, Tòa án còn có thể thông qua yêu cầu của đương sự hay theo qui định của pháp luật, tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật qui định Đây vừa là nhiệm vụ, vừa là

cứ, các đương sự phải tự thu thập trước, chỉ trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì mới có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ24

Ngoài trường hợp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự như nêu trên, pháp luật cũng qui định những trường hợp Tòa án có thể tự mình tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải tuân thủ chặt chẽ qui định của pháp luật Tòa án chỉ có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây

để thu thập chứng cứ: (1) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; (2) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng; (3) Trưng cầu giám định; (4) Quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản; (5) Xem xét, thẩm định tại chỗ; (6) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; (7) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự25 Việc tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ do Tòa án tiến hành phải tuân thủ quy định tại các điều luật

cụ thể của BLTTDS về từng biện pháp và theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự bao gồm hoạt động tiếp nhận chứng cứ do các đương

sự cung cấp và hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện các biện pháp theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự

22 Theo qui định tại Điều 4 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

23 Được qui định tại khoản 3 Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự

24 Theo qui định tại khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự

25 Theo qui định tại khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự

Trang 22

1.2 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết

vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự trước ngày 01/01/2005

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1990

Năm 1945, sau khi giành được độc lập, để bảo đảm sự ổn định của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945, qui định tạm thời giữ lại các luật lệ của chế độ cũ mà không trái với bản chất của Nhà nước Sau đó, Nhà nước ban hành pháp luật Việt Nam để thay thế dần Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về tố tụng dân sự như: Sắc Lệnh

số 13/SL ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán, Sắc Lệnh 15/SL ngày 17/4/1946 quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp, Sắc Lệnh 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung sắc lệnh số 15/SL , Sắc Lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng… Tuy nhiên, tại các văn bản trên, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm chưa được qui định rõ Đến năm 1977, trong bản hướng dẫn trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96 – NC/PL ngày 8/2/1977, Tòa án nhân dân tối cao đã có sự hướng dẫn hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân cụ thể như sau: “Để bảo vệ quyền lợi của mình các đương sự có nhiệm vụ đề xuất chứng cứ nhưng Tòa án nhân dân không được phép chỉ dựa vào lời khai của đương sự và những giấy tờ mà họ xuất trình làm căn cứ cho việc xét xử mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật”

Các quy định tại thông tư nêu trên, đã dần dần khẳng định sự cần thiết của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, nhất là Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Mặc dù đương sự có nghĩa vụ phải thu thập và cung cấp những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, nhưng Tòa án với vị trí là cơ quan xét xửcũng có nhiệm vụ thu thập chứng cứ trong quá trình thụ lý vụ án tại Tòa

án cấp sơ thẩm, để có cơ sở xem xét giải quyết vụ án dân sự một cách khách quan, toàn diện

1.2.2 Giai đoạn từ 1990 đến 2004

Năm 1989 Nhà nước ban hành văn bản chính thức qui định về thủ tục tố tụng dân sự, là Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 07 tháng 12 năm 1989 Tiếp theo đó, một số pháp lệnh tương

tự ra đời nhưPháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ngày 11/4/1996 Có thể nói đây là

03 văn bản luật tiền thân của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sau này, góp phần khắc phục tính chất tản mạn của các quy phạm pháp luật về tố tụng dân sự trong thời gian

Trang 23

trước Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được qui định chung là “Toà án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác26” Những hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có thể được thực hiện trong quá trình điều tra, trước khi xét xử vụ án dân sự như: (1) Lấy lời khai của các đương sự, người làm chứng về những vấn đề cần thiết; (2) Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hữu quan hoặc công dân cung cấp bằng chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án; (3) Xem xét tại chỗ; (4) Trưng cầu giám định; (5) Yêu cầu cơ quan chuyên môn

Nếu cần thiết phải tiến hành điều tra ở ngoài địa hạt của mình, Toà án nơi thụ lý vụ án có thể uỷ thác cho Toà án nơi cần phải tiến hành điều tra trong việc thu thập chứng cứ của vụ án Toà

án được uỷ thác có nhiệm vụ thực hiện ngay uỷ thác và thông báo kết quả cho Toà

án đã uỷ thác28

Tương tự việc thu thập chứng cứ trong các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 qui định việc thu thập chứng cứ của Tòa án thông qua việc xác minh, thu thập chứng cứ “Khi cần thiết, Toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác”29 Việc xác minh, thu thập chứng cứ, Tòa án có thể tự mình tiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Toà án được uỷ thác có nhiệm vụ thực hiện ngay sự uỷ thác và thông báo kết quả cho Toà án đã uỷ thác Việc xác minh, thu thập chứng cứ có thể bao gồm các biện pháp sau: (1) Yêu cầu đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ hoặc trình bày về những vấn đề cần thiết; (2) Yêu cầu

cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án; (3) Yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết; (4) Xác minh tại chỗ; (5) Trưng cầu giám định; (6) Yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp30

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp lao động cũng qui định trong quá trình giải quyết vụ án “khi cần thiết, Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng

cứ hoặc yêu cầu các bên tranh chấp lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án lao động được

26 Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự N.1989

27 Theo qui định tại Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự N.1989

28 Theo qui định tại Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự N.1989

29

Theo qui định tại Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế N.1994

30 Theo qui định tại Điều 35Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế N.1994

31 Theo qui định tại Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp lao động N.1996.

Trang 24

tranh chấp lao động, Tòa án có thể tự mình tiến hành hoặc ủy thác cho Tòa án khác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ Tòa án được ủy thác, có nhiệm vụ thực hiện ngay việc ủy thác và thông báo kết quả cho Toà án đã uỷ thác Các biện pháp thu thập chứng cứ trong khi giải quyết các vụ án lao động bao gồm: (1) Yêu cầu các đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ hoặc trình bày về những vấn đề cần thiết; (2) Yêu cầu các bên tranh chấp lao động, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án; (3) Yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết; (4) Xác minh tại chỗ; (5) Trưng cầu giám định; (6) Lập hội đồng định giá hoặc yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá tài sản khi cần thiết32

1.3 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết

vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước

1.3.1.Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự củaLiên bang Nga

Bộ luật Tố tụng dân sự của Liên bang Nga được Quốc hội (Duma) thông qua ngày 23/10/2002 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2003 (sau đây gọi là Bộ luật dân sự Liên bang Nga) Bộ luật này được ban hành để thay thế Bộ luật Tố tụng dân

dân sự năm 2003 của Liên bang Nga có cơ cấu hoàn chỉnh với 7 phần, 47 chương,

446 điều Sau một thời gian dài áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1964 của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, các nhà lập pháp Liên bang Nga đã nghiên cứu,phân tích,đánh giá, tổng kết và đưa ra nhiều cải tiến phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong giai đoạn lịch sử mới Ngoài sự thay đổi về số lượng như trong cơ cấu của Bộ luật thể hiện, phải nói đến sự thay đổi

về chất lượng, những nội dung mới được bổ sung hoàn toàn hoặc sửa đổi phần lớn

Đó là những qui định về thủ tục rút gọn, quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận vănbản qui phạm pháp luật không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần, qui định về thủ tục giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền tham gia trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga, quy định về thủ tục nhận con nuôi, quy định về hạn chế hoặc tước quyền của người chưa thành niên từ 14-18 tuổi trong việc tự định đoạt thu nhập của mình, quy định về việc tuyên bố người chưa thành niên có năng lực hành

Trang 25

vi đầy đủ, bổ sung một số điểm về thủ tục tố tụng ở cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm

và thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Về chứng cứ và chứng minh, được qui định tại Chương VI, có 33 điều, từ Điều 55 đến Điều 87, qui định về chứng cứ vào chứng minh, cụ thể như nghĩa vụ chứng minh, các loại chứng cứ, thủ tục thu thập, bảo toàn, đánh giá chứng cứ Thủ tục tố tụng dân sự của Liên ban Nga rất quan trọng giá trị pháp lý của chứng cứ Theo qui định về chứng cứ của Bộ luật dân sự 2003, “Chứng cứ được thu thập nhưng vi phạm pháp luật không có giá trị pháp lý và không thể được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án”34

Tòa án tại nước Nga giữ vai trò tiếp nhận, xem xét, đánh giá chứng cứ: “Tòa án quyết định những tình tiết nào có ý nghĩa đối với vụ án, bên nào phải có nghĩa vụ chứng minh những tình tiết đó, và những tình tiết nào phải

Về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án tại nước Nga, cũng tương đồng với những qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên bang Nga qui định “Tòa án có quyền yêu cầu những người tham

tuy nhiên cũngchỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong những trường hợp mà đương sự không thể tự mình thu thập được, cụ thể là“trong trường hợp những người tham gia tố tụng gặp khó khăn trong việc xuất trình chứng cứ, theo yêu cầu của họ, Tòa án có thể giúp đỡ trong việc thu thập và yêu cầu cung cấp chứng cứ”37

Những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án theo qui định của Bộ luật Tố tụngdân sự Liên bang Nga cũng khá phong phú, và có nhiều biện pháp tương tự như thủ tục tố tụng dân sự của Việt Nam, chẳng hạn như: Xem xét và nghiên cứu chứng

cứ tại chỗ: “Tòa án có thể xem xét và nghiên cứu thư chứng hoặc vật chứng tại nơi bảo quản hoặc nơi lưu giữ chứng cứ nếu việc giao, nộp chúng tại Tòa án gặp khó

hợp chứng cứ cần thu thập nằm ở thành phố khác hoặc ở quận khác, Tòa án ủy thác

; trưng cầu giám định: “Trong trường hợp phát sinh vấn đề cần kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, thủ công thì Tòa án trưng cầu giám định Việc giám định có thể

34

Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung , Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Nxb Tư pháp, Hà

Nội 2005, khoản 2, Điều 55, tr.80

35 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, khoản 2, Điều 56, tr.80

36 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, khoản 1, Điều 57, tr.80

37

Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, khoản 1, Điều 57, tr.80

38 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 58, tr.81

39 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 62, tr.82

Trang 26

do cơ quan giám định tư pháp, một hoặc nhiều người giám định khác thực hiện”40 Ngoài ra, trong tố tụng dân sự của Liên bang Nga còn có những qui định cụ thể hơnso với tố tụng dân sự Việt Nam như qui định về bảo toàn chứng cứ: “Trong trường hợp có lý do cho rằng chứng cứ khó bảo toàn, những người tham gia tố tụng

xét và nghiên cứu vật chứng nhanh hỏng: “Vật chứng nhanh hỏng được xem xét và nghiên cứu ngay tại nơi lưu giữ hoặc nơi do Tòa án quyết định, sau đó vật chứng được trả lại cho người xuất trình hoặc chuyển cho tổ chức để sử dụng vật chứng theo đúng mục đích, và trong trường hợp này người nắm giữ vật chứng được hoàn trả vật chứng cùng loại, cùng chất lượng hoặc nhận lại giá trị bằng tiền tương đương trị giá vật chứng”42.Những qui định trên cho thấy, pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga có nhiều nét tương đồng với pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, nhưng có những qui định chi tiết và phong phú hơn

1.3.2.Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp

Trong tố tụng dân sự Pháp, Tòa án (mà chủ yếu là Thẩm phán) cũng có những thẩm quyền rất rộng trong hoạt động thu thập chứng cứ khi tiến hành giải quyết vụ án “Thẩm phán có quyền tự mình quyết định tất cả các biện pháp thẩm

hoặc theo yêu cầu của đương sự, lấy lời khai của bất kỳ người nào xét thấy cần thiết

để xác định rõ sự thật”44

Đối với chứng cứ do bên đương sự khác quản lý, thì luật qui định cho Thẩm phán được quyền yêu cầu họ cung cấp: “ Nếu một bên đương sự đang nắm giữ một yếu tố cấu thành chứng cứ thì theo yêu cầu của bên kia, Thẩm phán có thể ra lệnh cho họ cung cấp yếu tố cấu thành chứng cứ đó, trong trường hợp cần thiết có thể áp

ba quản lý, Thẩm phán cũng có quyền:“Theo đề nghị của một trong các bên đương

sự, Thẩm phán có thể yêu cầu hoặc quyết định buộc người thứ ba đang nắm giữ những tài liệu liên quan phải xuất trình tất cả các tài liệu, nếu không có trở ngại chính đáng Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng

40

Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 79, tr.90

41 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 64, tr.83

42 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung ,tlđd 34, Điều 75, tr.89

43 Nhà pháp luật Việt-Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội 1998, Điều 10, tr.9.

44 Nhà pháp luật Việt-Pháp, tlđd 43, Điều 218, tr.54.

45 Nhà pháp luật Việt-Pháp, tlđd 43, Điều 11, tr.9.

Trang 27

chế”46.Và “Trong quá trình tố tụng, một bên đương sự dựa vào một công chứng thư hoặc tư chứng thư mà họ không tham gia hoặc một tài liệu do người thứ ba đang giữ,

họ có thể yêu cầu thẩm phán thụ lý vụ kiện ra lệnh cấp cho họ tài liệu hoặc bản sao tài liệu ấy”47

Dù cho có thẩm quyền thu thập chứng cứ rộng rãi, nhưng cũng tương tự như

tố tụng dân sự Việt Nam, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Pháp cũng chỉ mang tính chất hỗ trợ trong những trường hợp đương sự không thể tự mình cung cấp chứng cứ, chứ không thay thế nghĩa vụ của các bên đương sự.Tòa án “chỉ được quyết định tiến hành biện pháp thẩm cứu đối với một sự việc mà bên đương sự nêu

ra nhưng không có đầy đủ các yếu tố cần thiết để chứng minh sự việc đó.Không một trường hợp nào được ra lệnh thực hiện biện pháp thẩm cứu để thay thế sự thiếu

Về thể thức tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Pháp cũng có những qui định rất linh động cho Thẩm phán như “Thẩm phán

tự mình tiến hành tất cả những biện pháp thẩm cứu cần thiết.Thẩm phán có quyền nghe lời trình bày của những người có thể làm sáng tỏ vụ việc cũng như những người có quyền lợi liên quan bởi quyết định của Thẩm phán mà không lệ thuộc vào

lệnh cấp bản chính, bản sao hoặc sao trích tài liệu được yêu cầu tùy từng trường hợp

và với những bảo đảm do Thẩm phán ấn định, nếu không tuân theo có thể sẽ bị phạt tiền để cưỡng chế thi hành nếu cần”50

Như vậy, chúng ta thấy rằng, trong tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng có điểm tương đồng với pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam như là chỉ thực hiện khi đương sự không tự mình thu thập chứng cứ được Tuy nhiên, luật qui định cho Tòa án có thẩm quyền rộng hơn qui định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong hoạt động thu thập chứng cứ về thẩm quyền, phạm vi thu thập và cả thủ tục thu thập chứng cứ Ngoài nguồn pháp luật thành văn, Án lệ của Tòa Phá án Pháp cũng là nguồn bổ sung phong phú cho tố tụng dân sự trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Pháp trong quá trình Thẩm phán giải quyết vụ kiện dân sự

46 Nhà pháp luật Việt-Pháp, tlđd 43, Điều 11, tr.9.

47 Nhà pháp luật Việt-Pháp 1998, tlđd 43, Điều 138, tr.38.

48

Nhà pháp luật Việt-Pháp 1998, tlđd 43, Điều 145, tr.40.

49 Nhà pháp luật Việt-Pháp 1998, tlđd 43, Điều 27, tr.13.

50 Nhà pháp luật Việt-Pháp 1998, tlđd 43, Điều 139, tr.38.

Trang 28

1.3.3 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong tố tụng dân

sự của nước Cộng hòa Liên bang Đức

Trong tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Liên bang Đức, việc thu thập chứng

cứ của Tòa án cấp sơ thẩm cũng chỉ được tiến hành trong một số trường hợp hạn chế Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Liên bang Đức qui định “Việc thu thập chứng

cứ được thực hiện trước Tòa án xét xử Chỉ trong các trường hợp cụ thể mà luật này qui định việc thu thập chứng cứ mới được giao cho một thành viên của Tòa xét xử

sự Cộng hòa Liên bang Đức qui định “Tòa án có thể ra một quyết định về chứng cứ trước thủ tục tranh tụng miệng”53, quyết định này có thể được thực hiện trước khi có thủ tục tranh tụng miệng nếu trong đó qui định: (1)Thu thập chứng cứ được thực hiện trước Thẩm phán theo ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu (Thẩm phán điều tra); (2)Yêu cầu cơ quan chức năng Nhà nước cung cấp thông tin; (3) Yêu cầu

có văn bản trả lời câu hỏi về chứng cứ; (4) Trưng cầu kết quả giám định của giám

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm Cộng hòa Liên bang Đức được giao cho một Thẩm phán của Tòa án xét xử (Thẩm phán được ủy quyền) hoặc Thẩm phán của Tòa án khác (Thẩm phán theo yêu cầu) thực hiện

Thẩm phán được ủy quyền thu thập chứng cứ trong trường hợp như sau: (1) Nếu việc thu thập chứng cứ sẽ do một thành viên của Tòa án xét xử thực hiện, thì Thẩm phán chủ tọa công bố quyết định về chứng cứ sẽ xác định luôn Thẩm phán được ủy quyền và thời gian thu thập chứng cứ; (2) Nếu không có qui định về thời gian, thì thời gian sẽ do Thẩm phán được ủy quyền qui định; nếu Thẩm phán này bị cản trở không thực hiện được công việc được giao, thì Thẩm phán chủ tọa sẽ chỉ

với Thẩm phán theo yêu cầu, hoạt động thu thập chứng cứ được thực hiện như sau:(1) Nếu việc thu thập chứng cứ sẽ do một thành viên của Tòa khác thực hiện, thì Thẩm phán chủ tọa sẽ ra văn bản yêu cầu Thẩm phán này thực hiện thu thập chứng cứ;(2)Thẩm phán được yêu cầu chuyển bản gốc kết quả thu thập chứng cứ đã thực

51 Điều 355 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

52 Điều 358 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

53

Điều 358 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

54 Điều 358a BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

55 Điều 361 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

Trang 29

hiện cho bộ phận hồ sơ của Tòa án; bộ phận hồ sơ thông báo cho các đương sự khi nhận được kết quả này56

Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Liên bang Đức cũng qui định Thẩm phán được ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu có thể chuyển việc thu thập chứng cứ:

“Sau khi có căn cứ cho thấy có những việc thu thập chứng cứ do một tòa khác thực hiện thì phù hợp, Thẩm phán được ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu có quyền yêu cầu này tòa này thu thập chứng cứ57”

Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm Cộng hòa Liên bang Đức cũng được thực hiện trong một số trường hợp cần thiết Việc thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ này do Thẩm phán thực hiện, tuy nhiên hoạt động thu thập chứng cứ có phân biệt do Thẩm phán được ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu tiến hành thực hiện

56 Điều 362 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

57 Điều 365 BLTTDS Cộng hòa Liên bang Đức

Trang 30

Kết luận chương 1

Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết

vụ án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự, trong đó Tòa án sơ thẩm tiến hành xác minh, phát hiện, thu nhận, tập hợp các thông tin, tình tiết, sự kiện để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự trong những trường hợp do pháp luật qui định Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án dân sự Từ những hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, sẽ góp phần bảo đảm đầy đủ chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án

Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án sơ thẩm thực hiện trong giải quyết

vụ án dân sự là hoạt động thu thập chứng cứ đầu tiên của quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhằm hoàn tất hồ sơ vụ án; hoạt động này được thực hiện từ khi nhận được đơn khởi kiện đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm; được giới hạn trong phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự và bao gồm hoạt động tiếp nhận chứng cứ do các đương sự cung cấp và hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện các biện pháp theo qui định của pháp luật tố tụng dân

sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân

sự Việt Nam ở những thời kỳ đầu lập pháp chưa được qui định rõ nét, nhưng ngày càng được các Nhà lập pháp Việt Nam quan tâm Trong tiến trình Cải cách tư pháp hiện nay, pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm càng được nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện Không riêng ở Việt Nam, ngày nay, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm cũng không ngừng được hoàn thiện trong pháp luật tố tụng dân sự của các nước trên thế giới

Để bảo đảm nguồn chứng cứ đầy đủ, giúp cho việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan, chính xác, toàn diện thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

sơ thẩm phải được Tòa án các cấp nhận thức, quán triệt thực hiện một cách đầy đủ,

có tinh thần trách nhiệm cao trên cơ sở những qui định của pháp luật hoàn thiện của pháp luật

Trang 31

CHƯƠNG 2HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SƠ THẨM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEOPHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH, THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀKIẾN

NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

2.1 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong giải quyết

vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được đặt ra trong suốt quá trình thụ

lý và giải quyết vụ án, nhằm tập hợp đầy đủ những chứng cứ cần thiết để phán quyết về vụ án Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được thực hiện thông qua Thẩm phán Khi thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải xác định chính xác yêu cầu của các đương sự, bao gồm yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và cả những yêu cầu độc lập của những người có quyền

và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Từ việc xác định chính xác yêu cầu của các đương

sự, Thẩm phán mới có thể xác định chính xác các quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án Từ quan hệ pháp luật tranh chấp, Thẩm phán mới xác định những vấn đề cần phải chứng minh và có định hướng, biện pháp để thu thập đầy đủ các chứng cứ cần thiết cho việc chứng minh Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án góp phần quan trọng trong việc bảo đảm chứng cứ của vụ án được đầy đủ, toàn diện Phán quyết của Tòa án dựa trên cơ sở chứng cứ đã được thu thập đầy đủ, hợp pháp mới bảo đảm khách quan, công bằng cho tất cả các bên đương sự Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được thực hiện trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ

án, từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa sơ thẩm, thậm chí tại phiên tòa phúc thẩm…

2.1.1 Hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án không chỉ tiếp nhận chứng cứ do đương sự và các chủ thể khác cung cấp

mà Tòa án còn có hoạt động mang tính chủ động trong việc thu thập chứng cứ Tòa

án, theo yêu cầu của đương sự hoặc tự mình áp dụng một số biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật qui định Tùy từngyêu cầu cụ thể của vụ án và chứng cứ cần phải thu thập mà Thẩm phán quyết định việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng

cứ thích hợp Pháp luật tố tụng dân sự qui định Tòa án có thể áp dụng các biện pháp sau đây để tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: (a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; (b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng; (c) Trưng cầu giám định; (d) Quyết

Trang 32

định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản; (đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ; (e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; (g) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan

Tòa án qui định trong các biện pháp nêu trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn chi tiết về điều kiện và thủ tục thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân Tuy nhiên, để phát huy quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự thông qua việc

họ tự thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án, Luật qui định Tòa án thu thập chứng cứ trong những trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được hoặc không có điều kiện thu thập và có yêu cầu Tòa án thu thập

2.1.1.1.Lấy lời khai của đương sự

Đương sự là người có quyền lợi và nghĩa vụ trong vụ án, liên quan trực tiếp trong vụ án.Do đó, lời khai của đương sự góp phần quan trọng trong việc làm rõ bản chất của vụ việc tranh chấp Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qui định trước hết đương sự phải có bản

tự khai về những việc có liên quan đến vụ án mà họ biết được để cung cấp cho Tòa

án làm cơ sở giải quyết vụ án Tuy nhiên, không phải đương sự nào cũng có khả năng tự khai một cách đầy đủ, chính xác, đáp ứng được yêu cầu của việc chứng minh Do đó, BLTTDS qui định Tòa án cũng có thể lấy lời khai của đương sự và đây là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án Lấy lời khai của đương sự là biện pháp thu thập chứng cứ từ những thông tin trong trí nhớ của đương

sự Trước đây, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự qui định Tòa án có quyền chủ động lấy lời khai của đương sự Và trong thực tế, việc lấy lời khai của đương sự hầu như là một nghĩa vụ bắt buộc của Tòa án để thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án Điều này không phát huy tính chủ động trong hoạt động chứng minh của đương sự Đương sự chỉ thụ động giao khoán nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh cho Tòa án Khắc phục nhược điểm này, BLTTDS 2004 qui định:

“Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình

58 Theo khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

59 Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

Trang 33

tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc thông qua Thư ký Toà án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản”60

Như vậy, đương sự phải tự khai bằng bản tự khai là chính Việc lấy lời khai của đương sự chỉ được Thẩm phán tiến hành trong hai trường hợp sau đây :

Thứ nhất, là trường hợp đương sự chưa có bản tự khai “Trước đây, khi chưa

có BLTTDS 2004 thì Thẩm phán hoặc cán bộ Tòa án có hướng dẫn cho đương sự

được ban hành, pháp luật tố tụng dân sự thống nhất một biện pháp là đương sự phải viết bản tự khai qui định tại Điều 86 BLTTDS và đây là một biện pháp bắt buộc đối với đương sự để cung cấp lời khai chính thức Tòa án Điều này, bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ từ phía đương sự được đầy đủ, rõ ràng, chính xác và còn tránh những trường hợp đương sự thiếu tích cực, chuyển nghĩa vụ thu thập chứng cứ sang cho Tòa án Để giúp cho đương sự tự khai đúng trọng tâm, Thẩm phán có thể giải thích các qui định của pháp luật liên quan đến yêu cầu của đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp Để từ đó, đương sự chọn lọc, khai những nội dung cần thiết cho việc chứng minh, nhằm làm sáng tỏ vụ việc dân sự Bản tự khai của đương

sự phải có chữ ký của tiếp chính đương sự và được gửi đến Tòa án trực hoặc qua bưu điện Làm bản tự khai là nghĩa vụ của đương sự, cho nên BLTTDS 2004 qui định đương sự phải làm bản tự khai Tuy nhiên, cũng có thể có những trường hợp vì trở ngại khách quan mà đương sự không thể tự mình thực hiện bản tự khai được (như trường hợp đương sự không biết chữ, đương sự là người chưa thành niên…) Trong những trường hợp này đương sự chưa có bản tự khai thì Tòa án sẽ tiến hành lấy lời khai của đương sự

Thứ hai, là trường hợp đương sự đã có bản tự khai nhưng nội dung của bản

tự khai chưa đầy đủ, rõ ràng Việc khai báo bằng bản tự khai là nghĩa vụ của đương

sự Đương sự phải viết bản tự khai đầy đủ, rõ rãng Trước khi đương sự tự khai, Thẩm phán có phải xác định cho đương sự trách nhiệm, nội dung và yêu cầu của lời khai Sau khi đương sự khai xong, Thẩm phán phải kiểm tra nội dung tự khai có đáp ứng yêu cầu hay chưa, nếu chưa rõ hoặc có điểm còn thiếu thì phải yêu cầu đương

sự giải thích hoặc khai bổ sung Tuy nhiên, trong thực tế, do trình độ dân trí của nước ta chưa cao, nên có những trường hợp đương sự không thể nào trình bày rõ ràng, đầy đủ yêu cầu của việc chứng minh, hoặc có những trường hợp đương sự cố tình che dấu thông tin, khai không hết, không đúng sự việc Những trường hợp này,

60

Khoản 1 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

61 Tưởng Huy Lượng (2012), “Thu thập chứng cứ chứng minh trong tố tụng dân sự”, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, tr.204

Trang 34

BLTTDS 2004 qui định cho Tòa án được quyền lấy lời khai của đương sự theo qui định tại Điều 86 BLTTDS

Khi lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán cũng phải giải thích quyền và nghĩa vụ của họ, trách nhiệm của họ trong việc khai báo Sau đó, Thẩm phán lần lượt đặt ra các câu hỏi một cách rõ ràng, đầy đủ, dễ hiểu cho họ khai báo Các câu hỏi được đặt ra phải có ý nghĩa trong việc tìm hiểu sự việc tranh chấp, không mang tính áp đặt, cưỡng bức Các đương sự phải có nghĩa vụ trả lời các câu hỏi của Thẩm phán một cách đầy đủ, trung thực

Việc lấy lời khai của đương sự phải được lập thành biên bản và do Thẩm phán tiến hành, Thư ký Tòa án chỉ giúp cho Thẩm phán trong việc ghi lời khai của đương sự vào biên bản Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được lập theo đúng qui định tại khoản 2 Điều 86 BLTTDS Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được đương sự tự đọc lại hoặc được Thư ký đọc lại cho đương sự nghe, có thể sửa chữa, bổ sung nếu chưa rõ và sau đó đương sự ký tên xác nhận (hoặc điểm chỉ) Nếu biên bản gồm nhiều trang, tách rời nhau thì đương sự ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai Trường hợp vì lý do trở ngại khách quan, Thẩm phán có thể giao cho Thư

ký tiến hành lấy lới khai của đương sự, nhưng phải được đương sự đồng ý Biên bản ghi lời khai sau đó phải được Thẩm phán xem lại và ký xác nhận

Việc lấy lời khai của đương sự thông thường được thực hiện tại trụ sở của Tòa án Chỉ trong những trường hợp vì trở ngại khách quan (như đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang bị ốm đau, bệnh tật…) mà đương sự không thể đến Tòa án được thì Thẩm phán có thể lấy lời khai ngoài trụ sở của Tòa án Khi lấy lời khai ngoài trụ sở của Tòa án phải bảo đảm tuân thủ đúng qui định của pháp luật, phải bảo đảm căn cứ thể hiện tính khách quan như phải có người làm chứng, có xác nhận của cơ quan chức năng cần thiết

Đối với các trường hợp cần thiết lấy lời khai của đương sự là người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì phải có mặt người đại diện hợp pháp của họ và những người này phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản ghi lời khai

2.1.1.2.Lấy lời khai của người làm chứng

Người làm chứng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam“là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án” và họ “có thể được Toà án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng”62 Việc lấy lời khai của người làm chứng là một biện pháp thu thập những thông tin từ trí nhớ con người Đây cũng là

62 Điều 65 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

Trang 35

một biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án được qui định tại Điều 87 BLTTDS Người làm chứng khác với đương sự trong vụ án dân sự là họ không có những quyền, lợi ích hay nghĩa vụ trong vụ án, cho nên lời khai của họ có tính khách quan hơn đương sự Lời khai của người làm chứng là một nguồn chứng cứ bổ sung và cần thiết cho việc giải quyết vụ án Do đó, theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết thì Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Người làm chứng có nghĩa vụ phải “cung cấp toàn bộ những thông tin, tài liệu, đồ vật mà mình

có được có liên quan đến việc giải quyết vụ án”, phải “khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án”63

Khác với việc lấy lời khai đương sự, bắt buộc phải yêu cầu đương sự viết bản

tự khai trước, đối với người làm chứng thì Tòa án có thể triệu tập đến Tòa án để lấy lời khai của họ ngay từ đầu Về thủ tục, việc lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành như đối với việc lấy lời khai của đương sự64 Thẩm phán có thể lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án Đối với người làm chứng chưa đủ 18 tuổi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì khi lấy lời khai phải có mặt người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện

số điểm khác biệt so với việc lấy lời khai của đương sự như sau :

Thẩm phán phải làm rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với đương sự để

có cơ sở nhận xét, đánh giá đúng tính khách quan trong lời khai của người làm chứng

Khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải giải thích cho người làm chứng biết trách nhiệm của họ trong trường hợp họ khai báo không đúng sự thật Người làm chứng phải cam đoan trước Toà án về việc thực hiện quyền, nghĩa

vụ của mình, trừ người làm chứng là người chưa thành niên66 Người làm chứng phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật do những lời khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác67

Đối với vụ án có nhiều người làm chứng thì Tòa án chỉ lấy lời khai của những người làm chứng cần thiết đối với việc giải quyết vụ việc dân sự

Khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải tiến hành lấy lời khai riêng của từng người làm chứng, không để cho họ có thể tiếp xúc với nhau hoặc với

63 Điều 66 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

64 Khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

65

Khoản 3 Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

66 Khoản 9 Điều 66 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

67 Khoản 7 Điều 66Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

Trang 36

đương sự trong thời gian họ khai báo68 Khi đặt những câu hỏi cho người làm chứng trả lời, Thẩm phán không được đặt các câu hỏi có tính chất gợi ý hay áp đặt

Người làm chứng được từ chối khai báo trong những trường hợp lời khai của mình liên quan đế bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư hoặc việc khai báo có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan

hệ thân thích với họ69 Người làm chứng có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng, được khiếu nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng70

2.1.1.3.Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng

Trong quá trình thu thập chứng cứ bằng lời khai của các đương sự, người làm chứng hoặc các biện pháp thu thập chứng cứ khác có thể có những trường hợp mâu thuẩn với nhau về vấn đề nào đó của vụ án hoặc chưa thống nhất với nhau giữa lời khai của các đương sự, giữa lời khai của đương sự với lời khai của người làm chứng Trong những trường hợp này, Tòa án cần phải làm rõ những tình tiết mâu thuẫn bằng biện pháp đối chất Đối chất là việc hỏi cùng một lúc nhiều đương sự,

Đối chất là một biện pháp thu thập chứng cứ do người tiến hành tố tụng thực hiện Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, hoạt động đối chất được tiến hành theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng72 Việc đối chất tại Tòa án do Thẩm phán tiến hành Biện pháp đối chất có thể được tiến hành giữa các đương sự với nhau, giữa đương

sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau

Để bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động đối chất, Thẩm phán phải ban hành

đối chất và các đương sự, người làm chứng đồng thời triệu tập họ đến Tòa án để thực hiện việc đối chất Trước khi tiến hành đối chất, Thẩm phán cần phải chuẩn bị

68

Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an

nhân dân, tr.160

69 Khoản 3 Điều 66Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

70 Khoản 6 Điều 66Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

71

Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an

nhân dân, tr.160

72 Khoản 1 Điều 88 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

73 Quyết định đối chất được qui định theo Mẫu số 06, ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số qui định về “chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

Trang 37

kỹ những vấn đề cần đối chất Tùy từng trường hợp cụ thể mà Thẩm phán tiến hành đối chất về từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn đề cần đối chất

phán cần tìm hiểu về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất và giải thích quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của những người tham gia đối chất Trong khi tiến hành đối chất, Thẩm phán phải đối chiếu từng lời khai của những người tham gia đối chất với nhau và với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án để đánh giá đúng những vấn đề được đưa ra đối chất Khi đã nghe những lời trình bày của người tham gia đối chất, Thẩm phán có thể đặt câu hỏi tiếp theo cho từng người hoặc cũng có thể cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau nhằm thu thập thêm những lời khai xác đáng về vấn đề cần làm sáng tỏ của vụ án

Việc đối chất phải được ghi thành biên bản75 Thẩm phán có thể tự mình hoặc yêu cầu Thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất Sau khi kết thúc đối chất, những người tham gia đối chất phải được xem hoặc nghe đọc lại biên bản đối chất Biên bản đối chất phải có chữ ký của những người tham gia đối chất, Thẩm phán tiến

2.1.1.4.Trưng cầu giám định

Trong quá trình giải quyết vụ án, có những chứng cứ sau khi thu thập vẫn chưa rõ ràng, chưa thể sử dụng để chứng minh được ngay mà cần phải có ý kiến kết luận của các nhà chuyên môn mới có cơ sở tin cậy, có giá trị chứng minh Do đó, cần phải có hoạt động giám định đối với những chứng cứ này Giám định là việc người giám định sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động giải quyết vụ việc dân sự theo trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo qui định của

dân sự Việt Nam, do các đương sự có nghĩa vụ chứng minh, nên việc giám định luật pháp cũng dành cho các đương sự quyền chủ động chủ động yêu cầu Tòa án trưng

74

Khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

75 Khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

76 Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

77 Khoản 1 Điều 21 Luật Giám định tư pháp 2012

78 Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

Trang 38

cầu giám định79 Trưng cầu giám định là việc Tòa án quyết định đưa vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định ra lấy ý kiến kết luận của người có kiến thức,

Theo qui định tại khoản 1 Điều 90 BLTTDS, giám định trong tố tụng dân sự

có thể được tiến hành theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo

việc dân sự, các bên đương sự có thể thấy rằng cần phải tiến hành giám định chứng

cứ (như chữ viết, ADN, chất lượng công trình xây dựng…) mới có cơ sở để tiếp tục thỏa thuận về việc giải quyết vụ án một cách chính xác Khi đó, giữa các đương sự

có thể có một sự thỏa thuận về việc giám định cũng như việc lựa chọn người, cơ quan tiến hành giám định và yêu cầu Tòa án tiến hành thủ tục trưng cầu giám định theo yêu cầu của các bên đương sự đã được thỏa thuận Cũng có thể chỉ có một hoặc một bên đương sự thấy cần phải giám định chứng cứ để tăng giá trị chứng

cầu, người tố cáo chứng cứ là giả mạo có thể đơn phương yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định mà không cần có sự thỏa thuận của bên kia Trong trường hợp Tòa án từ chối trưng cầu giám định thì đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định Điều

90, 91 BLTTDS không qui định đương sự có quyền tự mình yêu cầu cá nhân, tổ chức có thẩm quyền tiến hành giám định chứng cứ cho mình Tuy nhiên, Luật Giám định tư pháp có qui định vấn đề này Theo Luật Giám định tư pháp thì “Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành (01/01/2013), các qui định của Bộ luật Tố tụng hình

sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính về giám định tư pháp có nội dung khác với luật này thì áp dụng Luật này83” , “Giám định tư pháp có thể tiến

“Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã

đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương

sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp

79

Qui định tại Điều 90, 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

80 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an

nhân dân, tr 162

81 Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự 2005 (sửa đổi, bổ sung 2011)

82

Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

83 Khoản 3 Điều 45 Luật Giám định tư pháp năm 2012

84 Khoản 1 Điều 2 LuậtGiám định tư pháp năm 2012

Trang 39

của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo”85

Về thủ tục trưng cầu giám định của Tòa án, trước hết phải có đơn yêu cầu hoặc văn bản thỏa thuận của các đương sự về việc yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định Sự thỏa thuận lựa chọn hoặc yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định có thể được làm thành văn bản riêng nhưng cũng có thể ghi trong bản khai, trong biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất86 Trên cơ sở văn bản thể hiện sự thỏa thuận hoặc yêu cầu của đương sự, Thẩm phán căn cứ vào Điều 90 của BLTTDS, Luật Giám định tư pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để ban hành quyết định trưng cầu giám định Quyết định trưng cầu giám định phải được thực hiện theo mẫu số 03, ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012, có các nội dung chính sau đây87: (a) Ngày, tháng, năm ra quyết định và tên Toà án ra quyết định; (b) Tên, địa chỉ của tổ chức giám định nếu Toà án trưng cầu tổ chức giám định tư pháp hoặc họ, tên, địa chỉ của giám định viên được trưng cầu giám định nếu Toà án trưng cầu người đó tiến hành giám định; (c) Nguồn gốc và đặc điểm của đối tượng giám định; (d) Tên các tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo; (đ) Những vấn đề cần giám định; (e) Các yêu cầu cụ thể cần có kết luận giám định; (g) Thời hạn trả kết luận giám định

Quyết định trưng cầu giám định phải được gửi cho các đương sự, tổ chức giám định tư pháp, giám định viên88 và người giám định nhận được quyết định

Người

đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại các khoản 1,2 và 3 Điều 46

Việc giám định cũng có thể được tiến hành giám định bổ sung hoặc giám định lại Giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình

thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không

85 Khoản 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp năm 2012

86 Khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Khoản 2 Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

90 Khoản 3 Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

91 Khoản 1 Điều 29 Luật Giám định tư pháp năm 2012

Trang 40

chính xác92 Do đó, Khi xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại Lúc này, người đã thực hiện việc

khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định

Trong trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định95

Về chi phí tiến hành giám định thì“người yêu cầu giám định phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định, trừ trường hợp các bên đương sự có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Trong trường hợp các bên đương sự thoả thuận lựa chọn tổ chức giám định hoặc cùng yêu cầu về cùng một đối tượng trưng cầu giám định thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền tạm ứng chi phí giám định, trừ trường hợp các bên đương sự có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định

sau khi có kết quả giám định thì Tòa án sẽ căn cứ vào nghĩa vụ nộp tiền chi phí giám định để quyết định người phải nộp tiền chi phí giám định Nghĩa vụ nộp tiền chi phí giám định được áp dụng như sau : “Trong trường hợp các bên đương sự không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì người yêu cầu trưng cầu giám định phải nộp tiền chi phí giám định, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người đó là không có căn cứ; người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định phải nộp tiền chi phí giám định, nếu kết quả giám định chứng

2.1.1.5.Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Việc xác định giá trị của tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết chính xác vụ án dân sự Giá trị của tài sản thường do đương sự kê khai, tuy nhiên, có những trường hợp đương sự không biết rõ giá trị tài sản hoặc việc kê khai của đương sự không bảo đảm sự chính xác Khi đó, cần phải xác định chính xác giá trị tài sản để có cơ sở giải quyết đúng vụ án dân sự,Tòa án cần phải có sự tham gia

92 Khoản 2 Điều 29 Luật Giám định tư pháp năm 2012

93 Khoản 3 Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

94 Khoản 1 Điều 30 Luật Giám định tư pháp năm 2012

95

Khoản 2 Điều 30 Luật Giám định tư pháp năm 2012

96 Điều 136 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

97 Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 05 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành các qui định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm
28. Trần Văn Châu (2011), “Một vài ý kiến về vấn đề kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong dự thảo sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, (05), tr.19-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về vấn đề kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong dự thảo sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Trần Văn Châu
Năm: 2011
29. Trần Văn Độ (2007), “Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (5/2007), tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2007
30. Lê Thu Hà (2008), “Bàn về nguyên tắc áp dụng luật trong giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (08), tr.21-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nguyên tắc áp dụng luật trong giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Thu Hà
Năm: 2008
31. Nguyễn Thị Minh Hằng (2009), Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị-Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hằng
Nhà XB: Nxb. Chính trị-Hành chính
Năm: 2009
32. Nguyễn Thị Minh Hằng (2007), Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hằng
Năm: 2007
33. Vũ Trọng Hiếu (1998),Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Vũ Trọng Hiếu
Năm: 1998
34. Phan Vũ Linh (2011), “Một số vấn đề về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (05), tr.4-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Phan Vũ Linh
Năm: 2011
35. Nguyễn Quang Lộc (2009), “Phân tích số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại án của ngành Tòa án nhân dân” Tạp chí Tòa án nhân dân, (11), tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại án của ngành Tòa án nhân dân” "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Quang Lộc
Năm: 2009
36. Đoàn Đức Lương (2011), “Hoàn thiện các qui định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (04), tr.6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các qui định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Đoàn Đức Lương
Năm: 2011
37. Tưởng Huy Lượng (2009), Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Tưởng Huy Lượng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 2009
38. Nguyễn Đức Mai (2012), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
39. Hà Thái Thơ (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Hà Thái Thơ
Năm: 2013
40. Nguyễn Văn Tiến-Bành Quốc Tuấn (2011), Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại Cơ quan tư pháp Việt Nam, NXB Lao động, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại Cơ quan tư pháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến-Bành Quốc Tuấn
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
41. Trần Quang Tiệp (2009), Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Tiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
42. Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
43. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân" dân
Năm: 2012
50. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1998
51. Nhóm tác giả (2012), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, Nxb. Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi
Tác giả: Nhóm tác giả
Nhà XB: Nxb. Lao động-xã hội
Năm: 2012
52. Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w