Không những thế, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về NNHCĐ còn có sự nhầm lẫn trong việc áp dụng trách nhiệm này với trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của con người
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA - LÝ LUẬN, THỰC TRẠNG VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn.Các nội dung nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Tất cả những thông tin không phải là ý kiến của tác giả đều được trích dẫn nguồn rõ ràng và được thể hiện trong phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TP Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 07 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Thu Thùy
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 7
1.1 Lý luận chung về nguồn nguy hiểm cao độ 7
1.1.1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ 7
1.1.2 Các nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật 9
1.1.3 Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ 19
1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra- một trường hợp đặc biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 20
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 21
1.2.2 Điều kiện phát sinh của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 25
1.2.3 Xác định thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 29
1.2.4 Xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 34
1.2.5 Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 42
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 43
2.1 Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 43
2.1.1 Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 43
Trang 52.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 56
2.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm ồi thườn thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 67
2.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 67
2.2.2 Những kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm ồi thườn thiệt hại o n uồn nguy hiểm cao độ gây ra 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 75 KẾT LUẬN 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 61
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự tiến bộ không ngừng của trình độ khoa học kỹ thuật cùng với những thành tựu nổi bật của quá trình công nghiệp hóa, sự phát triển của quá trình cơ giới hóa đã làm cho cuộc sống của con người ngày càng cải thiện hơn Các phương tiện giao thông ngày càng hiện đại, các nhà máy chủ yếu sử dụng máy móc và dần được tự động hóa, hệ thống điện phục vụ cuộc sống người dân ngày càng trải dài và mở rộng khắp cả nước, Đời sống tinh thần của con người ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy thì con người cũng phải gánh chịu những hậu quả từ chính những sự phát triển đó Trong số đó, có những tai nạn xảy ra do chính bản thân tài sản gây ra mà con người không thể kiểm soát được hoặc mất khả năng kiểm soát Các vụ tai nạn do các phương tiện giao thông cơ giới gây ra ngày một tăng Các
vụ tai nạn do chất nổ, chất cháy diễn ra ngày càng nhiều, điển hình là vụ nổ bình gas tại phường An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương vào ngày 10/04/2012, làm 10 bị thương nặng1; hay mới đây nhất là vụ nổ do hợp chất thuốc nổ sử dụng trong đạo cụ làm phim gây ra tại hẻm 384 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/02/2013 làm 11 người tử vong2 Liên tiếp trong tháng 5 năm 2013, hàng loạt vụ cháy nổ lớn thiêu trụi hàng nghìn mét vuông nhà xưởng, tài sản, máy móc thiết bị của các doanh nghiệp ở TP Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh lân cận3 Gây bàng hoàng cho các doanh nghiệp là vụ cháy vừa xảy ra vào ngày 18/5/2013, tại nhà xưởng công ty sản xuất giày da trong Khu công nghiệp Sóng Thần (Bình Dương, tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh)4 Không chỉ vậy, cuộc sống thường ngày của người dân trở nên mất an toàn hơn khi liên tiếp xảy ra vụ việc chết người liên quan đến hệ thống tải điện Trong đó, nổi bật nhất là vụ việc diễn ra ngày 13/4/2009 tại đường Âu Cơ,
1 An Nhơn, “Nạn nhân nổ as như n ọn đuốc sốn ”,
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/04/nan-nhan-no-gas-nhu-ngon-duoc-song-1/ (truy cập ngày 01/05/2013)
2 “Nổ kinh hoàng khiến 11 n ười tử von ”,
http://dantri.com.vn/event/no-kinh-hoang-khien-11-nguoi-tu-vong-2159.htm (truy cập ngày 13/06/2013)
3
Nguyễn Lê - Thọ Sơn, “Báo động tình trạng cháy nổ ở các doanh nghiệp”,
http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Xa-hoi/591223/bao-dong-tinh-trang-chay-no-o-cac-doanh-nghiep (truy cập ngày 22/05/2013)
4 DH, “Cháy ữ dội tại hu c n n hiệp n hần”,
http://phapluatxahoi.vn/20130518080227926p1001c1015/chay-du-doi-tai-khu-cong-nghiep-song-than.htm (truy cập ngày 22/05/2013)
Trang 72
phường Tân Thành, quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh Một người đi đường đã tử nạn do sợi dây điện trung thế bị cháy đứt, rơi xuống đường5 Những vụ việc trên thiệt hại xảy
ra đều không phải do con người thực hiện mà do NNHCĐ gây ra Vậy những thiệt hại
đó ai sẽ chịu trách nhiệm bồi thường và vấn đề bồi thường được giải quyết như thế nào?
Từ những sự việc trên, tác giả muốn nhắc đến những vấn đề liên quan đến NNHCĐ và BTTH do NNHCĐ gây ra
BTTH do NNHCĐ gây ra là một trường hợp cụ thể của chế định BTTH ngoài hợp đồng trong Bộ Luật dân sự Dù đã trải qua một thời gian dài hình thành và phát triển nhưng vấn đề hiểu và áp dụng các quy định về BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH do NNHCĐ gây ra vẫn là vấn đề khá phức tạp Phức tạp bởi lẽ NNHCĐ ngoài thực tiễn rất đa dạng và đây là một vấn đề khá rộng Cho đến thời điểm này hướng dẫn
áp dụng trách nhiệm này chủ yếu quy định tại NQ 03/2006 nhưng những hướng dẫn này vẫn tồn tại rất nhiều bất cập Hơn nữa, có khá nhiều đề tài nghiên cứu về NNHCĐ; tuy nhiên, các đề tài này chỉ nghiên cứu một cách khái quát về các loại NNHCĐ Ở mỗi
đề tài lại có những quan điểm riêng và không thống nhất về những quy định trong trách nhiệm BTTH Không những thế, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về NNHCĐ còn có sự nhầm lẫn trong việc áp dụng trách nhiệm này với trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của con người gây ra có lên quan đến NNHCĐ Thêm nữa, cách giải quyết vấn đề còn chưa hợp lý, chưa thống nhất
Do vậy, tác giả chọn đề tài “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra- lý luận, thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật” với mong muốn sẽ đi
sâu làm rõ những vấn đề quan trọng còn chưa được nghiên cứu kỹ và những vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau Hơn nữa, đây là thời điểm BLDS đang được xem xét sửa đổi, bổ sung nên đây là thời điểm mà cần có những đề xuất, kiến nghị Tác giả mong rằng đề tài sẽ góp một phần nhỏ trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và
Bộ luật Dân sự nói riêng
Trang 83
nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn đề này Cụ thể có các đề tài nghiên cứu, khoá luận như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Trần Dụ Yên và Hồ Bửu Hoành năm 2000, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Khóa luận cử
nhân luật “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra” của tác giả Phạm
Tiến Dũng năm 2001, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân luật “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra” của tác giả Lê Thị Nguyên năm 2012, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, “Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại –
vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Thị Huệ- Nguyễn Minh Oanh- Đinh Văn Thanh-
Nguyễn Minh Tuấn- Phạm Kim Anh- Vũ Thị Hải Yến- Nguyễn Hồng Hải- Vũ Thị Hồng Yến- Bùi Thị Mừng- Nguyễn Hồng Bắc- Nguyễn Văn Cường- Bùi Dung Huyền- Trần Anh Tuấn, mã số: LH-08-05/ĐHL năm 2009, trường Đại học Luật Hà Nội
Ngoài ra, còn có những bài viết trên các tạp chí như: Bài viết “Bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 2/2003 của tác
giả Mai Bộ; bài viết “Bổ sung khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4/2005 của tác giả Nguyễn Xuân Đang; bài viết “Tìm hiểu về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”, Tạp chí Kiểm sát, số 01/2005
của tác giả Lê Phước Ngưỡng; bài viết “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ ây ra”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 18/2008 của tác giả Nguyễn
Văn Dũng; bài viết “Một số lý luận về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
ây ra”, Tạp chí Khoa học pháp lý trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số
3/2011 của tác giả Nguyễn Xuân Quang; bài viết “Cần c th n tư liên tịch hướng dẫn
thi hành quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”, Tạp chí
Kiểm sát, số 07/2012 của tác giả Phạm Vũ Ngọc Quang; bài viết “ rách nhiệm bồi
thường thiệt hại o tác động của tài sản ây ra ưới góc nhìn so sánh”, Tạp chí Luật
học, số 03/2013 của tác giả Bùi Thị Thanh Hằng và Đỗ Giang Nam
Vấn đề trên cũng được đưa ra nghiên cứu trong các cuộc hội thảo như: Bài viết
“Một số ý kiến sửa đổi, bổ sung chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong BLDS- Nhìn từ thực tiễn xét xử” của tác giả Nguyễn Trương Tín và Phan
Trung Hòa tại hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh (28-29/9/2011) do Bộ Tư pháp tổ
chức; bài viết “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Lý luận, thực tiễn và
Trang 94
hướng sửa đổi BLD ” của Nguyễn Trương Tín và Đỗ Văn Đại tại Hội thảo ở Hà Nội
ngày 6-7/12/2011 do Nhà pháp luật Việt Pháp tổ chức
Không những thế, có một số khóa luận có liên quan như: Đề tài “Bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồn ” của tác giả Đặng Thu Thảo năm 2003, đề tài “Vấn đề lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồn ” của tác giả Bùi Văn Châu năm 2004,
đề tài “Bồi thường thiệt hại do tại nạn iao th n đường bộ ây ra” của tác giả Võ Thị Đăng Hà năm 2006, đề tài luận văn Thạc sỹ “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng-
Thực trạng và kiến nghị” của tác giả Võ Thị Hồng Mai năm 2003
Một số sách chuyên khảo có liên quan như “Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án” năm 2010 của tác giả Đỗ Văn Đại
Các nghiên cứu trên, với những mức độ khác nhau đã hướng sự quan tâm vào các vấn đề:
- Tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, các NNHCĐ; các vấn đề lý luận về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng và BTTH do NNHCĐ gây ra;
- Thực trạng áp dụng trách nhiệm BTTH do NNHCĐ là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây ra và một số kiến nghị liên quan
Tuy nhiên, các đề tài trên chưa đi vào tìm hiểu sâu các NNHCĐ- vấn đề mà pháp luật còn có sự thiếu đồng bộ trong từng quy định giữa luật chung và luật chuyên ngành Đồng thời, cũng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu sâu các vấn đề còn tồn tại liên quan đến các quy định về quản lý, bảo quản và vận hành NNHCĐ Bởi vậy, khoá luận này sẽ bổ sung thêm những vấn đề nghiên cứu mà những người đi trước còn chưa nghiên cứu sâu và cụ thể, đó là:
- Tìm hiểu và đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về NNHCĐ;
- Xác định các NNHCĐ theo quy định của pháp luật một cách cụ thể, rõ ràng;
- Phân tích những vấn đề còn tồn tại liên quan đến các quy định về quản lý, bảo quản và vận hành NNHCĐ;
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về BTTH do NNHCĐ gây ra theo pháp luật Việt Nam Từ đó, đề tài đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật cũng như tạo sự áp dụng thống nhất trong thực tiễn
Trang 105
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Vấn đề BTTH do NNHCĐ gây ra là một vấn đề khá rộng và còn nhiều vấn đề phải được nghiên cứu, làm rõ Trong phạm vi đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu những quy định trong BLDS và những văn bản có liên quan như: Luật Giao thông đường bộ 2008, Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004,
Bộ luật Hàng hải 2005, Luật Đường sắt 2005 để làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm NNHCĐ, xác định các NNHCĐ Đồng thời, tác giả sẽ làm rõ các vấn đề xác định trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra Từ đó, đề tài chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật khi quy định về vấn đề này cũng như thực tiễn áp dụng của Toà án liên quan đến những vấn đề trên Qua đó, tác giả sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như tạo nên sự thống nhất trong việc áp dụng các quy định của pháp luật
về BTTH do NNHCĐ gây ra trong thực tiễn
4 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của khóa luận là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về NNHCĐ cũng như trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra; tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về BTTH do NNHCĐ gây
ra trong hoạt động xét xử của Tòa án Qua đó tìm ra những bất cập, thiếu sót của pháp luật để nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra, bảo đảm cho việc nhận thức và áp dụng chúng một cách thống nhất trong thực tiễn
5 Phươn pháp n hiên cứu
Trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, kết hợp với phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, dẫn chiếu, diễn giải, phương pháp suy diễn logic, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống hóa vấn đề tác giả đi sâu vào hai khía cạnh lý luận và thực trạng của vấn đề BTTH do NNHCĐ gây ra Đối với phần lý luận, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích, so sánh, dẫn chiếu, suy diễn logic để đưa ra một cái nhìn đầy đủ
về vấn đề BTTH do NNHCĐ gây ra và phân biệt với trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của con người có liên quan đến NNHCĐ Ở phần thực trạng, tác giả đánh giá, bình luận các quy định pháp luật và các bản án, quyết định của Tòa án để chỉ ra và lý giải các hạn chế, bất cập về mặt pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật thông qua phương pháp phân tích, suy diễn logic Cuối cùng tác giả sử dụng phương pháp tổng
Trang 116
hợp để khẳng định những vấn đề đã được đưa ra và đã được lý giải tạo điều kiện cho việc đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề BTTH do NNHCĐ gây ra
6 Ý n hĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Khoá luận sẽ khái quát những vấn đề lý luận về trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra và có sự so sánh với trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của con người
có liên quan đến NNHCĐ Điều này sẽ làm cho việc phân biệt hai loại trách nhiệm này trở nên dễ dàng và tạo điều kiện cho việc xét xử được đúng đắn và thống nhất Hơn nữa, khoá luận chỉ ra các bất cập trong quy định của pháp luật và những kiến nghị hoàn thiện sẽ tạo điều kiện cho các nhà làm luật xem xét sửa đổi các quy định ấy Từ đó, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật dân sự sẽ trở nên hoàn thiện hơn và việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn sẽ trở nên thống nhất
rõ những vấn đề trong trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra thông qua việc phân tích khái niệm, đặc điểm, điều kiện phát sinh trách nhiệm, xác định thiệt hại, chủ thể có trách nhiệm BTTH và những trường hợp không phải bồi thường
Chương II: Thực trạng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày và phân tích thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về BTTH do NNHCĐ gây ra Từ đó, tác giả sẽ đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện những quy định pháp luật cũng như khắc phục những vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật đã được đề cập
Trang 127
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA
1.1 Lý luận chung về nguồn nguy hiểm cao độ
Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, những thành tựu mới của công nghiệp hóa, cơ giới hóa đã làm thế giới ngày càng văn minh, hiện đại hơn Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng nó cũng kéo theo sự gia tăng các tai nạn nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều khiển của con người, đe dọa tới tính mạng, sức khỏe, tài sản… của con người trong xã hội Có những sự vật mà bản thân hoạt động của nó luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho con người và môi trường xung quanh Mặc dù con người luôn tìm mọi cách kiểm soát, vận hành nó một cách cẩn trọng, an toàn nhưng vẫn có những thiệt hại khách quan bất ngờ có thể xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát đó Thuật ngữ
“NNHCĐ” xuất hiện để chỉ những sự vật như vậy Tuy nhiên, những sự vật cụ thể nào trong tự nhiên, đời sống xã hội của con người được xem là NNHCĐ? Chúng có những đặc điểm gì? Việc xác định chính xác NNHCĐ sẽ giúp xác định được chính xác các vấn
đề liên quan đến trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra
1.1.1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ
BLDS không định nghĩa thế nào là NNHCĐ mà chỉ liệt kê các NNHCĐ Theo đó,
tại Khoản 1 Điều 623 BLDS quy định: “NNHCĐ ao ồm phươn tiện giao thông vận
tải cơ iới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đan hoạt độn , vũ hí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các NNHCĐ hác o pháp luật quy định”
Như vậy, BLDS chỉ liệt kê các NNHCĐ mà không định nghĩa như thế nào là NNHCĐ Hơn nữa, BLDS cũng không có những quy định giải thích hay định nghĩa các
NNHCĐ trên mà chỉ đưa ra dưới dạng khái quát Tuy nhiên, theo NQ 03/2006 thì: “Để
xác định NNHCĐ cần phải căn cứ vào Khoản 1 Điều 623 BLD và văn ản quy phạm pháp luật khác có liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh
6
Điểm b, mục 1, phần III NQ 03/2006
Trang 13Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội thì
NNHCĐ được hiểu là: “Vật mà khi bảo quản, sản xuất, vận hành, dịch chuyển có
tiềm năn ây ra thiệt hại cho m i trườn và n ười xun quanh NNHCĐ ồm: phươn tiện cơ iới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đan hoạt độn , vũ hí, chất nổ,
Ngoài ra, còn có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Có quan điểm cho
rằng:“NNHCĐ theo Điều 623 được hiểu là những vật đan tồn tại hiện hữu mà hoạt
động vận hành, sản xuất, vận chuyển, bảo quản… chún lu n chứa đựng khả năn ây thiệt hại cho m i trường và nhữn n ười xung quanh Tính nguy hiểm của nó còn thể hiện ở chỗ con n ười không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối n uy cơ ây thiệt hại”8 Một quan điểm khác cũng có nhận định tương tự: “NNHCĐ là những vật thể hay
chất thể tồn tại trong tự nhiên, xã hội mà trong quá trình tồn tại, hoạt động của nó tiềm tàng gây thiệt hại về tính mạng, tài sản cho nhữn n ười xung quanh, hay nói một cách hác các đối tượn là NNHCĐ lu n lu n c hả năn ây n uy hại cho con n ười và tài sản”9 Một quan điểm khác lại cho rằng: “Các đối tượn được coi là NNHCĐ là những vật, máy m c, phươn tiện động vật (thú dữ) đan tồn tại mà hoạt động vận hành, sản xuất, vận chuyển, bảo quản chúng có tiềm ẩn nhữn n uy cơ ây ra thiệt hại bất ngờ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản cho nhữn n ười xung quanh mà không phải bao giờ con n ười cũn c thể lườn trước và có thể n ăn chặn (không kiểm soát được n uy cơ ây thiệt hại)” 10
7 Trường Đại học Luật hà Nội (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr
86
8 Vũ Thị Hải Yến, “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/06/4727-4/ (truy cập ngày 18/5/2013)
9 Nguyễn Xuân Quang (2011), “Một số vấn đề pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra”, Tạp chí Khoa học pháp lý trườn Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, (03), tr 34- tr.38, tr.34
10 Phạm Vũ Ngọc Quang (2012), “Cần có thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, Tạp chí Kiểm sát, (07), tr.45- tr.53, tr 45
Trang 149
Các định nghĩa và quan điểm trên tuy khác nhau nhưng có những điểm chung là
đều xác định: NNHCĐ là những vật thể hay chất thể đan tồn tại hiện hữu trong tự
nhiên, xã hội mà trong quá trình tồn tại, vận hành của chúng luôn tiềm ẩn sự nguy hiểm, rủi ro cao và khả năn ây thiệt hại đối với tính mạng, sức khoẻ, tài sản của nhữn n ười xung quanh mặc ù đã được áp dụng những biện pháp cần thiết về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụn theo đún quy định của pháp luật
1.1.2 Các nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật
1.1.2.1 Phươn tiện giao thông vận tải cơ iới
Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào chính thức đưa ra khái niệm
“phương tiện giao thông vận tải cơ giới”11 Hơn nữa, mỗi văn bản chuyên ngành lại có những cách quy định khác nhau Vấn đề này tác giả sẽ phân tích và làm rõ dưới đây.Phương tiện giao thông vận tải cơ giới bao gồm rất nhiều phương tiện như: phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng không
Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định: “Phươn tiện tham gia giao
th n đường bộ gồm phươn tiện iao th n đường bộ và xe máy chuyên dùng” Trong
đó, “phươn tiện iao th n đường bộ gồm phươn tiện iao th n cơ iới đường bộ,
Theo đó, “phươn tiện iao th n cơ iới đường bộ (sau đây ọi là xe cơ iới) gồm xe t ; máy éo; rơ mo c hoặc sơ mi rơ
mo c được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tươn tự”13
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 623 BLDS thì chỉ có phương tiện giao thông vận tải cơ giới mới được xem là NNHCĐ Do vậy, các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, cụ thể là xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô
tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự là NNHCĐ
Tại Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 và Điều 3 Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 04 năm 2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ có quy định giải thích rõ hơn về một số phương tiện như máy kéo, các
Trang 1510
loại xe tương tự ô tô, các loại xe tương tự mô tô, xe máy điện, các loại xe tương tự xe gắn máy Đó đều là các phương tiện chạy bằng động cơ và di chuyển với tốc độ cao Ngoài ra, việc vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ các quy định của Luật Giao thông đường bộ 2008; Nghị định 95/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 quy định niên hạn sử dụng đối với xe ôtô chở hàng và xe ôtô chở người, Quyết định số 992/2003/QĐ- BGTVT ngày 09 tháng 04 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định bảo dưỡng kỹ thuật, sữa chữa ô tô
Như vậy, các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đều là các “phươn tiện
vận hành bằn độn cơ, c hả năn ây n uy hiểm cao cho nhữn n ười xung quanh;
và để được phép sử dụng, pháp luật đòi hỏi phải c các điều kiện về n ười điều khiển,
về an toàn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng ” 14 Các phương tiện này di chuyển với tốc
độ cao mà người điều khiển khó có thể làm chủ được tốc độ và khó có thể kiểm soát một cách tuyệt đối Tuy nhiên, những phương tiện có gắn động cơ chưa hẳn là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (như xe máy chuyên dùng)
Đối với đường thuỷ, theo Khoản 7 Điều 3 Luật Giao thông đường thủy nội địa
2004 thì: “Phươn tiện thuỷ nội địa (sau đây ọi là phươn tiện) là tàu, thuyền và các
cấu trúc nổi hác, c độn cơ hoặc h n c độn cơ, chuyên hoạt độn trên đường thuỷ nội địa” Và theo Khoản 8 Điều 3 Luật này quy định: “Phươn tiện th sơ là phươn tiện h n c độn cơ chỉ di chuyển bằng sức n ười hoặc sức gió, sức nước”
Xem xét toàn bộ những quy định của Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004, các văn bản hướng dẫn thi hành và có liên quan, tác giả nhận thấy rằng các nhà làm luật không
có quy định về phương tiện giao thông cơ giới đường thủy nội địa Trước đây, theo Nghị định số 40/1996/NĐ-CP ngày 05 tháng 7 năm 1996 về bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông đường thuỷ nội địa (đã hết hiệu lực) có định nghĩa: “Phươn tiện cơ iới là
phươn tiện có gắn độn cơ” Như vậy, phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường
thuỷ nội địa là những phương tiện nào? Nếu không có quy định cụ thể thì việc xác định những phương tiện nào là NNHCĐ sẽ không có cơ sở
Tuy nhiên, nếu hiểu như Luật Giao thông đường bộ 2008 tức là phương tiện giao thông vận tải cơ giới là các phương tiện vận hành bằng động cơ, di chuyển với tốc độ cao mà người điều khiển khó có thể làm chủ được tốc độ và để được phép sử dụng, đòi
14 Nguyễn Xuân Đang (2005), “Bổ sung khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (04),
tr 20- tr 23, tr 20
Trang 1611
hỏi phải có các điều kiện về người điều khiển, về an toàn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng thì các phương tiện giao thông vận tải đường thuỷ nội địa (trừ phương tiện thô sơ) là phương tiện giao thông vận tải cơ giới Mặt khác, nếu theo định nghĩa về NNHCĐ thì các phương tiện này được xem là NNHCĐ Bởi lẽ khi vận hành thì các phương tiện này đều tiềm tàng khả năng gây thiệt hại cho những vật xung quanh mà con người khó có thể kiểm soát được hoặc không còn kiểm soát được Hơn nữa, việc vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ các quy định của Luật Giao thông
đường thuỷ nội địa 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Do vậy, phươn tiện giao
thông vận tải cơ iới đường thủy nội địa là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác di chuyển bằn độn cơ chuyên hoạt độn trên đường thủy nội địa Những phương tiện
này là NNHCĐ
Đối với đường biển, Bộ luật Hàng hải 2005 điều chỉnh về phương tiện vận tải
đường biển là tàu biển (không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ và tàu cá)15 Theo
Điều 11 Bộ luật này thì “ àu iển là tàu hoặc cấu trúc nổi i động khác chuyên dùng
hoạt động trên biển” Bộ luật này và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái
niệm phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường biển Vậy thì tàu biển có phải là phương tiện giao thông vận tải cơ giới và có phải là NNHCĐ không? Xét định nghĩa trên thì tàu biển là phương tiện vận hành bằng động cơ và di chuyển với tốc độ cao Hơn nữa, khi vận hành thì khả năng gây thiệt hại của chúng sẽ là rất lớn và khả năng kiểm soát của con người cũng rất hạn chế Việc vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Hàng hải 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Vì vậy, tàu biển là phương tiện giao thông cơ giới đường biển và là NNHCĐ Đối với đường sắt, theo Khoản 20 Điều 3 Luật Đường sắt 2005 có quy định:
“Phươn tiện iao th n đường sắt là đầu máy, toa xe, toa xe động lực, phươn tiện chuyên dùng di chuyển trên đường sắt” Và theo Khoản 22 Điều 3 Luật này thì: “ àu
là phươn tiện iao th n đường sắt được lập bởi đầu máy và toa xe hoặc đầu máy chạy đơn, toa xe động lực, phươn tiện động lực chuyên dùng di chuyển trên đường sắt” Theo Tiêu chuẩn ngành số 22 TCN 348 – 06 về yêu cầu kỹ thuật và bảo vệ môi
trường phương tiện giao thông đường sắt ban hành kèm theo Quyết định số 22/2006/QĐ-BGTVT ngày 04/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có giải
15 Điều 11 Bộ luật Hàng hải 2005
Trang 1712
thích thêm về các phương tiện giao thông đường sắt như sau: “ oa xe động lực là toa
xe lắp độn cơ để tự di chuyển trên đường sắt Phươn tiện chuyên dùng là ôtô ray, goòng máy, cần trục, máy chèn đường, máy kiểm tra đườn và phươn tiện khác có thể
quy định của Luật Đường sắt 2005; các văn bản hướng dẫn Luật này; Tiêu chuẩn ngành
số 22 TCN 348 – 06 về yêu cầu kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường sắt ban hành kèm theo Quyết định số 22/2006/QĐ-BGTVT ngày 04/5/2006 của
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Khi nghiên cứu thì tác giả nhận thấy rằng trong Luật Đường sắt và trong các văn bản pháp luật có liên quan không đưa ra khái niệm phương tiện giao thông vận tải cơ giới mà chỉ liệt kê các phương tiện giao thông đường sắt mà thôi
Ta có thể thấy rằng các phương tiện giao thông đường sắt (trừ những phương tiện chuyên dùng thô sơ di chuyển trên đường sắt) là các phương tiện có gắn động cơ, vận hành bằng động cơ ấy trên đường sắt và để được phép sử dụng, đòi hỏi phải có các điều kiện về người điều khiển, về an toàn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng Do đó, chúng đều là phương tiện giao thông vận tải cơ giới Hơn nữa, khả năng kiểm soát của con người khi chúng di chuyển trên đường sắt cũng hạn chế, khả năng gây thiệt hại cho những thứ xung quanh là rất lớn Vì vậy, chúng là NNHCĐ
Đối với đường hàng không, theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 thì phương tiện giao thông vận tải đường hàng không là tàu bay Khoản 1 Điều 13 Luật
này có giải thích về tàu bay: “ àu ay là thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác
động tươn hỗ với không khí, bao gồm máy bay, trực thăn , tàu lượn, khí cầu và các thiết bị bay khác, trừ thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác độn tươn hỗ với không khí phản lại từ bề mặt trái đất” Tuy nhiên, các nhà làm luật không có quy định
nào nói về phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường hàng không Tuy vậy nhưng từ quy định trên, tác giả thấy rằng tàu bay là phương tiện vận hành bằng động cơ, di chuyển với tốc độ cao, kích thước lớn, khả năng kiểm soát của con người rất hạn chế Hơn nữa, để được phép sử dụng chúng thì pháp luật đòi người lái phải thoả mãn điều kiện nhất định, phương tiện phải đạt các tiêu chuẩn về an toàn kỹ thuật Cụ thể là việc
Trang 1813
vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ các quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành Do đó, tàu bay là phương tiện giao thông vận tải cơ giới và là NNHCĐ
Tuy nhiên, để được xem là NNHCĐ thì các phương tiện trên phải đang trong tình trạng hoạt động, có nghĩa là nó đang di chuyển (cơ học hoặc điều khiển) hoặc không di chuyển nhưng thiết bị đã được vận hành (ví dụ xe ô tô nổ máy nhưng chưa di chuyển) Nếu như nó đang đứng yên, không nổ máy hoặc không được vận hành hay hoạt động thì đó không phải là NNHCĐ Cụ thể như chiếc máy bay không hoạt động, đang đậu trong sân bay và bị cháy nổ thì thiệt hại đó không được xem là thiệt hại do NNHCĐ gây
ra Vì chiếc máy bay trong trường hợp này không phải là NNHCĐ
1.1.2.2 Hệ thống tải điện đan hoạt động
Trong các văn bản pháp luật hiện nay, các nhà làm luật không có bất kỳ quy định nào giải thích về hệ thống tải điện Như vậy, thế nào là hệ thống tải điện Theo Từ điển
tiếng Việt thì: “Hệ thống là tập hợp những yếu tố cùng loại hoặc cùng chức năn c
thống tải điện là tập hợp các trang thiết bị, thiết bị phụ trợ có chức năng tải điện có mối liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất
Khoản 3 Điều 3 Luật Điện lực 2004 có quy định: “Lưới điện là hệ thốn đường
dây tải điện, máy biến áp và trang thiết bị phụ trợ để truyền dẫn điện” Qua đó, ta có
thể thấy rằng lưới điện là một hệ thống có chức năng tải điện và truyền dẫn điện Do
đó, lưới điện là một phần của hệ thống tải điện Ngoài ra, Luật Điện lực còn quy định
về thiết bị đo đếm điện Trong đó:“ hiết bị đo đếm điện là thiết bị đo c n suất, điện
năn , òn điện, điện áp, tần số, hệ số công suất, bao gồm các loại c n tơ, các loại đồng hồ đo điện và các thiết bị, phụ kiện èm theo” Các thiết bị này cũng liên kết với
đường dây tải điện và các thiết bị khác của lưới điện Chúng hỗ trợ cho quá trình tải điện Do đó, các thiết bị đo đếm điện này cũng thuộc hệ thống tải điện Như vậy, lưới điện và các thiết bị đo đếm điện cấu thành nên hệ thống tải điện
Ngoài ra, vận hành, bảo quản, sử dụng hệ thống tải điện phải tuân thủLuật Điện lực 2004; Nghị định 106/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Điện lực về bảo vệ an toàn
17 Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Văn hóa Sài Gòn, TP.Hồ Chí
Minh, tr 737
Trang 1914
công trình lưới điện cao áp; Nghị định 81/2009/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 106/2005/NĐ-CP về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp;Thông tư 12/2010/TT-BCT ngày 15 tháng 04 năm 2010 quy định về hệ thống điện truyền tải
Tuy nhiên, để được xem là NNHCĐ thì hệ thống tải điện này phải đang hoạt động, tức là đang có dòng điện chạy qua Bởi lẽ, chỉ khi hệ thống tải điện đang hoạt động thì mới có dòng điện Khi điện tiếp xúc trực tiếp với môi trường xung quanh thì khả năng gây thiệt hại đến tính mạng và sức khoẻ của con người là rất lớn Hơn nữa, khi tiếp xúc với những vật khác có thể dẫn đến cháy nổ Như vậy, khi đang hoạt động,
tự thân hệ thống tải điện mới có khả năng gây thiệt hại cho người và vật ở xung quanh
nó Ví dụ như trường hợp lưới điện trung thế đang hoạt động bị chập, bùng cháy và rơi xuống đường làm chết người Thiệt hại trong tình huống này do NNHCĐ gây ra Còn nếu như lưới điện đang bị cúp điện mà gây ra thiệt hại thì đó không phải là thiệt hại do NNHCĐ gây ra
1.1.2.3 Nhà máy công nghiệp đan hoạt động
Trong các văn bản pháp luật hiện hành, không có văn bản nào giải thích về khái
niệm nhà máy công nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt thì: Nhà máy là “cơ sở sản xuất
của nền đại công nghiệp, thường sử dụng máy móc dùng một nguồn năn lượn tươn đối lớn”18
Còn công nghiệp là “n ành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân hiện đại bao
gồm xí nghiệp khai thác và chế biến nguyên vật liệu và nhiên liệu, chế tạo công cụ lao động, khai thác rừng, sông, biển, chế biến sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, n ư n hiệp ” 19 Như vậy, nhà máy công nghiệp là cơ sở sản xuất thường sử
dụng máy móc dùng một nguồn năng lượng tương đối lớn trong các ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân hiện đại Nhà máy công nghiệp bao gồm xí nghiệp khai thác và chế biến nguyên vật liệu và nhiên liệu, chế tạo công cụ lao động, khai thác rừng, sông, biển, chế biến sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
Tuy nhiên, để được xem là NNHCĐ thì nhà máy công nghiệp phải đang hoạt động Bởi lẽ, chỉ khi nhà máy đang hoạt động thì mới tiềm tàng khả năng gây thiệt hại
Trang 201.1.2.4 Vũ hí
Theo Điều 3 của Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 06 năm 2011 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sau đây xin gọi là Pháp lệnh
16/2011/UBTVQH12) thì: “Vũ hí ồm vũ hí quân ụn , sún săn, vũ hí th sơ, vũ
khí thể thao và các loại vũ hí hác c tính năn , tác ụn tươn tự” Trong đó:
- Vũ khí quân dụng gồm:
(i) Súng cầm tay hạng nhỏ là vũ khí được thiết kế cho cá nhân sử dụng gồm súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên và các loại súng khác có tính năng, tác dụng tương tự;
(ii) Vũ khí hạng nhẹ gồm súng đại liên, súng cối dưới 100 mi-li-mét, (mm), súng ĐKZ, súng máy phòng không dưới 23 mi-li-mét (mm), súng phóng lựu, tên lửa chống tăng cá nhân, tên lửa phòng không vác vai, các loại vũ khí hạng nhẹ khác có tính năng, tác dụng tương tự;
(iii) Các loại bom, mìn, lựu đạn, đạn, ngư lôi, thủy lôi, hỏa cụ;
(iv) Vũ khí không thuộc danh mục vũ khí do Chính phủ ban hành nhưng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng
- Súng săn là súng dùng để săn bắn gồm súng kíp, súng hơi, các loại súng khác có tính năng, tác dụng tương tự
- Vũ khí thô sơ gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ
- Vũ khí thể thao là súng và các loại vũ khí thô sơ dùng để luyện tập, thi đấu thể thao
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 623 BLDS, vũ khí là NNHCĐ Tuy nhiên,
“ hông phải tất cả các loại vũ hí trên hi sử dụn đều mang tính chất nguy hiểm cao
độ Bởi, với các loại vũ hí th sơ là c n cụ sản xuất, tư liệu sinh hoạt như ao ăm,
Trang 2116
Thật vậy, các loại vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các vũ khí khác có chức năng, công dụng tương tự là những vật được sử dụng làm công cụ sản xuất, tư liệu sinh hoạt và bản thân chúng không thể tự gây thiệt hại cho con người và những vật xung quanh nếu không có sự tác động của con người Hơn nữa, việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển chúng khá đơn giản; con người sử dụng chúng thường xuyên và có thể kiểm soát chúng khá dễ dàng Chẳng hạn như dao găm, kiếm, giáo, mác để làm bị thương người khác thì cần có sự tác động của con người như hành động cầm chúng để đâm, rạch, chém Như vậy, chúng không tiềm ẩn mối nguy hiểm
và không thể tự thân gây ra thiệt hại cho môi trường và con người xung quanh nên chúng không được xem là NNHCĐ
Chỉ có vũ khí quân dụng, súng săn và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự là NNHCĐ Bởi lẽ, các vũ khí trên là những vật mà hoạt động, vận hành, bảo quản, sử dụng chúng luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây ra thiệt hại bất ngờ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản cho những người xung quanh mà con người không thể kiểm soát được hoặc không còn kiểm soát được Chẳng hạn như bom, mìn khả năng gây sát thương, phá huỷ mọi thứ xung quanh của chúng rất lớn Chúng có thể tự phát nổ gây thương tích, làm chết người, huỷ hoại tài sản và những vật khác xung quanh nó mà không cần sự tác động của con người Vì thế, việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển chúng phải tuân theo Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12 và các văn bản liên quan
Tóm lại, các loại vũ khí được coi là NNHCĐ gồm vũ khí quân dụng, súng săn và
các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự
1.1.2.5 Chất cháy, chất nổ
Theo Khoản 2 Điều 3 Luật phòng cháy chữa cháy 2001 thì “chất nguy hiểm về
cháy nổ là chất lỏng, chất khí, chất rắn hoặc hàng hoá, vật tư dễ gây ra cháy nổ”
Chất cháy là chất có đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với ôxy trong không khí, nước hoặc khi có tác động của các yếu tố khác ở nhiệt độ cao hoặc không cao (diêm, phốt pho, xăng dầu )21 Từ đó có thể thấy những chất này tiềm tàng một mối quy hiểm rất lớn, có khả năng gây ra thiệt hại cho những thứ ở xung quanh nó và đòi hỏi con
Trang 2217
người phải quản lý chúng một cách cẩn trọng Việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển chúng phải tuân theo Luật Phòng cháy chữa cháy 2001, các văn bản hướng dẫn Luật này, TCVN 5507:2002 - Hoá chất nguy hiểm – qui phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển Những chất có đặc tính như trên là chất cháy
và là NNHCĐ Hiện nay có rất nhiều loại chất cháy được sử dụng trong công nghiệp và trong đời sống hàng ngày như dầu diesel, dầu bôi trơn máy, sơn, toluene, khí gas làm lạnh hoá lỏng 22
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 1 thì:
Chất nổ là hợp chất hóa học hay hỗn hợp những chất có khả năn phản ứng nhanh (do một ích thích như va đập, ma sát, tia lửa tác động từ bên ngoài vào một điểm nhỏ của cả khối), gây tiếng nổ èm theo lượng nhiệt lớn thoát ra và tạo thành sản phẩm có nhiều khí Ví dụ trinitrotoluene (thuốc nổ TNT), hỗn hợp (KNO 3 , lưu huỳnh, than gỗ) gọi là thuốc pháo đen h n thường chất nổ được gọi là thuốc nổ có các loại sau: thuốc nổ
Mặt khác, theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm
2009 về vật liệu nổ công nghiệp quy định:“ huốc nổ là hoá chất hoặc hỗn hợp hoá
chất được sản xuất, sử dụng nhằm tạo ra phản ứng nổ ưới tác động của các kích thích
cơ, nhiệt, hoá hoặc điện” 24
Việc vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12; Nghị định 39/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm
2009 về vật liệu nổ công nghiệp Như vậy, do tính chất nguy hiểm, có thể gây sát thương và phá hoại những vật xung quanh của nó rất lớn và con người khó mà kiểm soát được tuyệt đối nên thuốc nổ được xem là NNHCĐ
22 Xem danh mục một số chất cháy ở phần Phụ lục I- Danh mục hàng nguy hiểm (Ban hành kèm theo Nghị định
số 109/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường sắt)
Trang 2318
1.1.2.6 Chất độc
Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Chất độc là chất có thể phá hủy, ức chế hoặc làm
sâu, trừ cỏ, diệt chuột ); thuốc (thuốc tân dược, y học dân tộc); các hoá chất trong công nghiệp, môi trường; các hoá chất dùng trong gia đình; mỹ phẩm, vệ sinh; các chất ma tuý; vũ khí chiến tranh hoá học; thực phẩm (đồ ăn, uống); chất độc tự nhiên: động vật, cây cỏ, nấm 26
Ngoài ra, Khoản 5 Điều 4 Luật Hoá chất 2007 có quy định: hoá chất độc là hóa chất nguy hiểm có ít nhất một trong những đặc tính nguy hiểm như: độc cấp tính; độc mãn tính; gây kích ứng với con người; gây ung thư hoặc có nguy cơ gây ung thư; gây biến đổi gen; độc đối với sinh sản; tích luỹ sinh học; ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ; độc hại đến môi trường Việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển chúng phải tuân theo Luật Hoá chất 2007, các văn bản hướng dẫn Luật này, TCVN 5507:2002 - Hoá chất nguy hiểm – qui phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển Như vậy, các loại hoá chất độc là chất độc và là NNHCĐ27
1.1.2.7 Chất phóng xạ
Theo Luật Năng lượng nguyên tử 2008 thì: “Chất phóng xạ là chất phát ra bức xạ
do quá trình phân rã hạt nhân, chuyển mức năn lượng hạt nhân, có hoạt độ phóng xạ riêng hoặc tổng hoạt độ lớn hơn mức miễn trừ” 28 Hay theo Từ điển Bách khoa Việt
Nam 1 thì chất phóng xạ “là những chất chứa đồng vị phóng xạ của các nguyên tố - các
đồng vị này không bền, khi phân rã chúng phát ra các tia bức xạ (anpha, beta, gama, notron ) và biến đổi thành chất khác Có các phóng xạ tự nhiên (radi, urani, thori, kali-40 ) và các phóng xạ nhân tạo (plutoni 239, coban-60 )”29 Các chất phóng xạ rất nguy hiểm đối với sức khoẻ con người Theo Uỷ ban An toàn bức xạ Quốc tế thì nhiễm phóng xạ có thể gây ra ung thư vòm họng, phổi; niêm mạc ruột bị tổn thương,
25 Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp Hồ Chí
Minh, tr 272
26 Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai, “Chất độc là ì?”,
http://bachmai.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=344 (truy cập ngày 02/05/2013)
27
Xem các loại hoá chất độc tại Phụ lục IV- Danh mục hóa chất độc phải xây dựng phiếu kiểm soát mua, bán hóa chất độc (Ban hành kèm theo Nghị định số 26/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ)
28 Khoản 8 Điều 3 Luật Năng lượng nguyên tử 2008
29 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Khoa học Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam 1, Nxb Công ty in Tiến Bộ, Hà Nội, tr.420
Trang 2419
dẫn đến tiêu chảy, sút cân, nhiễm độc máu, giảm sức đề kháng của cơ thể, ung thư; gây
vô sinh; phụ nữ bị chiếu xạ trong thời gian mang thai (đặc biệt là trong giai đoạn đầu)
có thể bị sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh ra trẻ bị dị tật bẩm sinh 30 Con người rất khó kiểm soát được một cách tuyệt đối các chất này Việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển chúng phải tuân theo Luật Năng lượng nguyên tử 2008; Nghị định 07/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Năng lượng nguyên tử Chính vì tính chất nguy hiểm đó nên chất phóng xạ được xem là NNHCĐ
1.1.2.8 Thú dữ
Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa về thú dữ Theo Từ điển
tiếng Việt thì “ hú ữ là động vật bậc cao, có lông mao, có tuyến vú, nuôi con bằng
sữa, lớn, rất dữ và có thể làm hại n ười”31 Trong tự nhiên, có một số loài động vật là
thú dữ như vượn, khỉ, heo rừng, hổ, báo, gấu, cu li, chồn, mèo rừng 32 Đây là những loài động vật còn mang tính hoang dã, chưa được thuần hóa và có tính chất nguy hiểm lớn Chúng có thể gây thương tích, thậm chí là làm chết người, phá tài sản của người khác mà con người cũng khó kiểm soát được Vì vậy, chúng được xem là NNHCĐ
1.1.2.9 Các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định
Đây là quy định mà nhà làm luật dự trù trong trường hợp có pháp luật khác quy định bổ sung NNHCĐ trong các văn bản khác
1.1.3 Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ
Từ khái niệm và các quy định cụ thể của từng loại NNHCĐ đã phân tích thì các loại NNHCĐ này đều có những đặc điểm chung và khác biệt so với những những vật thể hay chất thể khác như sau:
Một là, NNHCĐ là những vật thể, chất thể có thật, tồn tại bên ngoài thế giới
khách quan Điều này có nghĩa là chúng phải hiện hữu trên thực tế mà con người có thể
30 Huyền Vi, “Phóng xạ hạt nhân có thể gây bệnh ì?”,
http://phapluattp.vn/20110318122342238p1060c1104/phong-xa-hat-nhan-co-the-gay-benh-gi.htm (truy cập ngày 21/5/2013).
31 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.960
32 Các động vật rừng hoang dã nguy hiểm tại Quy định về quản lý và điều kiện an toàn trong hoạt động nuôi, vận chuyển cá sấu sống và các loài động vật hoang dã nguy hiểm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Kèm theo Quyết định số 83/2007/QĐ-UBND ngày 08 tháng 6 năm 2007 của Ủy ban nhân dân thành phố).
Trang 2520
nhận biết bằng mắt thường hoặc bằng các dụng cụ khoa học hỗ trợ Như vậy, nếu
những chất thể hay vật thể không tồn tại trên thực tế thì không phải là NNHCĐ
Hai là, bản thân NNHCĐ chứa đựng nguồn nguy hiểm lớn, luôn tiềm ẩn nguy cơ
cao gây thiệt hại cho con người và những vật xung quanh mà con người không thể kiểm soát hoặc không còn kiểm soát được Đây là đặc điểm quan trọng nhất phản ánh bản chất của NNHCĐ và làm cho NNHCĐ khác so với những vật thể, chất thể khác Thật vậy, phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp, vũ khí, chất độc, chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ, thú dữ như đã phân tích cụ thể ở mục 1.1.2 luôn tiềm ẩn mối nguy hiểm và chứa đựng khả năng gây thiệt hại lớn cho những
người xung quanh mà con người khó kiểm soát được một cách tuyệt đối
Ba là, NNHCĐ phải được quy định trong các văn bản pháp luật Ngoài ra, trong
quá trình quản lý, bảo quản và sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng chúng phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định của văn bản pháp luật cụ thể liên quan đến NNHCĐ
đó
Theo tinh thần tại Khoản 1 Điều 623 BLDS thì dù trong thực tế có tồn tại những vật thể hay chất thể thỏa mãn các đặc điểm và dấu hiệu bản chất của NNHCĐ nhưng chưa được pháp luật quy định thì không được xem là NNHCĐ Như vậy, để xác định một vật có phải là NNHCĐ hay không thì cần xác định chúng có được quy định trong các văn bản pháp luật không
Ngoài ra, chính vì tính chất nguy hiểm và khó kiểm soát của các loại tài sản này
mà Khoản 1 Điều 623 BLDS có quy định: “Chủ sở hữu NNHCĐ phải tuân thủ các quy
định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụn NNHCĐ theo đún các quy định của pháp luật” Do vậy, trong quá trình tồn tại, vận hành của chúng đòi hỏi người chiếm
hữu sử dụng chúng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật có liên quan đến các NNHCĐ Nếu họ vi phạm các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng NNHCĐ mà gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác thì họ phải BTTH
1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra- một trường hợp đặc biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra là một dạng của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Do đó, để hiểu thế nào là trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra, trước hết
cần hiểu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là gì? “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Trang 2621
là một loại trách nhiệm pháp lý áp dụn đối với n ười có hành vi xâm phạm đến lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần hợp pháp của các chủ thể khác, buộc n ười này phải gánh chịu một hậu quả bất lợi do hành vi trái pháp luật của mình ây ra” 33 Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có những đặc điểm sau:
Một là, về nguyên tắc, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi có đầy đủ
các điều kiện sau34: phải có thiệt hại xảy ra; phải có hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại; phải có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại
và thiệt hại; phải có lỗi của người gây thiệt hại
Hai là, đối tượng bị thiệt hại có thể là tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác
Ba là, người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì có trách nhiệm BTTH Ngoài ra,
trách nhiệm này còn được áp dụng đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề
Bốn là, khi bên có trách nhiệm bồi thường đã thực hiện xong trách nhiệm bồi
thường thì quan hệ giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại chấm dứt Các bên không
có ràng buộc trách nhiệm gì với nhau nữa
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1.2.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra là một dạng của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên nó cũng mang những đặc điểm của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung Tuy nhiên, trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra, nguyên nhân gây ra thiệt hại không phải là do hành vi của con người mà là do hoạt động tự thân của NNHCĐ gây ra nên trách nhiệm này có những yếu tố đặc thù và những đặc thù đó là điểm khác
nhau so với BTTH do hành vi của con người gây ra “Việc các nhà làm luật tách riêng
Trang 2722
các quy định về B H o NNHCĐ ây ra thành một điều luật là nhằm khẳn định và ràng buộc n hĩa vụ, cũn như ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên
NNHCĐ gây ra là “loại trách nhiệm phát sinh cho n ười sở hữu, chiếm hữu NNHCĐ
khi hoạt động của NNHCĐ ây thiệt hại cho m i trường và nhữn n ười xung
Một là, trách nhiệm này phát sinh khi có “sự kiện” gây thiệt hại trái pháp luật của
NNHCĐ chứ không phải là “hành vi” gây thiệt hại trái pháp luật của con người
Hành vi trái pháp luật được hiểu là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật37
Có quan điểm cho rằng:“ huật ngữ này chỉ đún hi thiệt hại o con n ười – thực thể
của quan hệ xã hội và là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự ây ra”38 Một quan
điểm khác cũng có quan điểm tương tự, theo đó “thiệt hại không phải do hành vi trực
tiếp của con n ười gây ra, mà do hoạt động của NNHCĐ ây ra nên h n xét đến tính trái pháp luật của hành vi”39 Như vậy, đây là một sự khác biệt của trách nhiệm của trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra so với trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung Nếu như trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung, hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là một trong bốn điều kiện không thể thiếu để phát sinh trách nhiệm bồi thường thì trong trách nhiệm BTTH do NHHCĐ gây ra, yếu tố đó không có ý nghĩa
35 Xem Nguyễn Văn Dũng (2008), “Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (18), tr.24- tr.28, tr.24
36 Vũ Thị Hải Yến, “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/06/4727-4/ (truy cập ngày 02/05/2013)
37
Tiểu mục 1.2, mục 1 Phần I NQ 03/2006
38
Trần Thị Huệ, “Tổng quan về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại – vấn đề lý luận và thực tiễn”,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/05/4701-2/ (truy cập ngày 11/05/2013)
39 Đỗ Văn Đại (2010), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam- bản án và bình luận bản án, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.555
Trang 28không cần yếu tố lỗi này được quy định tại Khoản 3 Điều 623 BLDS, theo đó: “Chủ sở
hữu, n ười được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụn NNHCĐ phải BTTH cả khi không
có lỗi ” Quy định này xuất phát từ tính chất nguy hiểm của NNHCĐ Bởi lẽ, NNHCĐ
là những vật thể, chất thể mà trong quá trình tồn tại, hoạt động của nó luôn tiềm ẩn mối nguy hiểm và tiềm tàng nguy cơ tự gây thiệt hại bất cứ lúc nào cho những người xung
quanh Hơn nữa, “tính nguy hiểm của nó còn thể hiện ở chỗ con n ười không thể kiểm
soát được một cách tuyệt đối n uy cơ ây thiệt hại và đây chính là điểm khác biệt với các tài sản th n thườn ” 40 Như vậy, mặc dù con người luôn cố gắng áp dụng mọi biện pháp để bảo quản, sử dụng, vận hành nó một cách cận trọng, an toàn nhưng vẫn có những thiệt hại khách quan bất ngờ có thể xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát đó Do đó, để nhằm nhanh chóng khắc phục thiệt hại và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người
bị xâm hại thì pháp luật buộc chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ phải BTTH ngay cả khi không có lỗi Tuy nhiên, họ vẫn có thể được loại trừ trách nhiệm này trong trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết
Ba là, trách nhiệm này chỉ được đặt ra khi NNHCĐ gây thiệt hại cho những người
xung quanh mà không phải là chủ sở hữu, người được chuyển giao quyền chiếm hữu,
sử dụng NNHCĐ
Do đặc điểm của NNHCĐ là những loại tài sản luôn tiềm tàng khả năng gây ra thiệt hại trong quá trình vận hành, sử dụng cho bất kì ai Đó có thể là chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ, những người không liên quan trực tiếp đến NNHCĐ Đối với chủ sở hữu, họ phải tự chịu mọi rủi ro đối với thiệt hại do tài sản
40 Trần Thị Huệ, “Tổng quan về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại – vấn đề lý luận và thực tiễn”,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/05/4701-2/ (truy cập ngày 11/05/2013)
Trang 2924
của mình gây ra Đối với người sử dụng NNHCĐ theo nghĩa vụ lao động, khi NNHCĐ gây ra thiệt hại cho họ thì họ có thể được hưởng bồi thường theo chế độ bảo hiểm tai
nạn lao động “Nếu thiệt hại ây ra cho n ười đan chiếm hữu, sử dụng theo hợp đồng,
việc có làm phát sinh trách nhiệm bồi thường hay không còn phụ thuộc vào thoả thuận
do NNHCĐ gây ra là một loại trách nhiệm được áp dụng riêng cho những người xung quanh bị thiệt hại mà thôi
Bốn là, trong trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra, thiệt hại xảy ra là hậu quả
của tự thân của NNHCĐ gây ra và độc lập với ý chí của con người Đây là điểm đặc biệt của trách nhiệm này Nếu như các trách nhiệm khác luôn cần có sự tác động của con người trong việc gây ra thiệt hại thì trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra lại không hề có tác động của con người Hoạt động gây thiệt hại của NNHCĐ là nguyên nhân trực tiếp, là yếu tố quyết định dẫn đến thiệt hại Hoạt động gây thiệt hại đó nằm ngoài khả năng kiểm soát, điều khiển của người quản lý, vận hành Chẳng hạn như tai nạn ô tô xảy ra do cấu tạo của máy móc (đứt phanh đột ngột, nổ bánh xe ), tai nạn do dây dẫn điện bị cháy, hổ nhảy ra khỏi chuồng cắn người (chuồng nuôi đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật) Rõ ràng, trong những trường hợp này, con người không thể kiểm soát được hoặc đã mất kiểm soát hoạt động gây thiệt hại của NNHCĐ
Năm là, đối tượng xâm phạm chỉ là tính mạng, sức khỏe, tài sản mà không thể là
danh dự, nhân phẩm, uy tín
Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị nhân thân gắn liền với từng cá nhân
và danh dự, uy tín gắn liền với từng tổ chức nhất định Có quan điểm cho rằng: “ ron
trường hợp bị xâm phạm đến các giá trị kể trên thườn được thông qua hành vi của con
n ười ưới dạn hành độn (như th n qua lời nói, chữ viết, hành vi cụ thể) trong sự tác động của quá trình nhận thức cũn như ý thức tôn trọng các quyền tuyệt đối này và
NNHCĐ gây ra, thiệt hại là do tự thân NNHCĐ gây ra nên đối tượng bị xâm phạm không thể là danh dự, nhân phẩm, uy tín Do đó, khi nhắc đến thiệt hại do NNHCĐ gây
41 Phạm Vũ Ngọc Quang (2012), “Cần có thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, Tạp chí Kiểm sát, (07), tr.45- tr.53, tr.46
42 Trần Thị Huệ, Tổng quan về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại – vấn đề lý luận và thực tiễn,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/05/4701-2/ (truy cập ngày 11/05/2013)
Trang 3025
ra, người ta chỉ xét đến các đối tượng bị xâm phạm là tính mạng, sức khỏe, tài sản
Ngoài ra, “việc xâm phạm các lợi ích này có thể dẫn đến tổn thất về tinh thần cho
n ười bị thiệt hại hay thân nhân của họ, nhưn điều này h n đồn n hĩa với việc xác định đối tượng bị xâm hại tron trường hợp tài sản gây thiệt hại lại là danh dự, nhân phẩm, uy tín”43
1.2.2 Điều kiện phát sinh của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1.2.2.1 Có thiệt hại xảy ra
Cũng giống như trách nhiệm BTTH nói chung, trách nhiệm BTTH trong trường hợp đặc biệt nói riêng, thiệt hại được xem là điều kiện tiền đề, điều kiện cơ sở để phát sinh trách nhiệm BTTH Nếu không có thiệt hại thì không bao giờ phát sinh trách nhiệm bồi thường Nếu một chiếc xe ô tô đang chạy trên đường đột nhiên bị đứt phanh (thắng) nhưng không gây ra thiệt hại gì thì sẽ không phát sinh trách nhiệm BTTH
“ hiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến
ở phần đặc điểm của trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra (mục 1.2.2) thì thiệt hại trong trách nhiệm này không bao gồm thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín của các chủ thể khác Do vậy, thiệt hại do NNHCĐ gây ra có thể là thiệt hại về vật chất45 do tài sản, sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm và có thể là thiệt hại về tinh thần46 trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm hại Ngoài ra, thiệt hại có thể được chia thành thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp Trong đó, thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan trong thực tế và thiệt hại có thể xác định một cách dễ dàng Chẳng hạn như tài sản bị mất hay chi phí dùng để chữa trị do sức khoẻ bị xâm phạm Khác với thiệt hại trực tiếp, thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại phải dựa trên sự suy đoán khoa học mới có thể xác định được Chẳng hạn như việc xác định thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút Cách xác định thiệt hại vẫn căn cứ vào quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường (từ Điều 608 đến Điều 610 BLDS) và hướng dẫn tại phần II NQ
43 Trần Thị Huệ, Tổng quan về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại – vấn đề lý luận và thực tiễn,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/05/4701-2/ (truy cập ngày 11/05/2013)
44 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình luật Dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
Trang 3126
03/2006 (vấn đề này sẽ được tác giả phân tích kỹ tại mục 1.2.3 nên xin không phân tích tại đây)
1.2.2.2 Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ
Nếu như “hành vi” gây thiệt hại trái pháp luật của con người là nguyên nhân làm phát sinh trách nhiệm BTTH nói chung thì trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra được
áp dụng khi có “sự kiện” gây thiệt hại trái pháp luật của NNHCĐ gây ra Sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của NNHCĐ được hiểu là việc NNHCĐ “tự thân” hoạt động gây
ra những thiệt hại cho cá nhân, tổ chức mà hoàn toàn không có sự tác động của con người
Trong thực tiễn, không phải mọi thiệt hại do NNHCĐ gây ra đều có sự tác động của con người Nhiều trường hợp, con người không thể kiểm soát được hoặc không còn kiểm soát được sự kiện gây thiệt hại của chúng và tự thân chúng có thể gây thiệt hại
“Để áp dụng chính xác chế định về B H o NNHCĐ ây ra thì chún ta phải đứng
tại, tự thân NNHCĐ gây ra và độc lập với ý chí của con người, tức là con người không thể kiểm soát hoặc đã không còn kiểm soát được (như xe ô tô bị nổ lốp, dây điện chập cháy, hổ trong rạp xiếc nhảy ra cắn người ) thì đây chính là “sự kiện” gây thiệt hại trái pháp luật của NNHCĐ và các quy định của pháp luật về BTTH do NNHCĐ gây ra sẽ được áp dụng Nếu thiệt hại xảy ra do tác động của con người có sự tham gia của NNHCĐ mà NNHCĐ đóng vai trò như một công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi trái pháp luật của họ thì đó không phải là hoạt động tự thân của NNHCĐ mà là “hành vi” gây thiệt hại trái pháp luật của con người Cụ thể như hành vi lái xe ô tô phóng nhanh, lạng lách gây ra tai nạn; dùng điện giăng quanh nhà để chống trộm dẫn đến chết người; dùng súng bắn chết người; dùng chất độc để đầu độc người khác; thả hổ dữ ra cắn người Những trường hợp như vậy trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo quy định chung sẽ áp dụng Hay nói theo cách khác, trong trách nhiệm BTTH do NNHCĐ
gây ra thì “việc gây ra thiệt hại không phải do hành vi có lỗi của con n ười mà hoàn
và cần cẩn trọng trong quá trình giải quyết Bởi lẽ, trên thực tế, việc nhầm lẫn giữa thiệt
47 Đỗ Văn Đại (2010), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam- bản án và bình luận bản án, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 575
48
Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật Dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.484
Trang 3227
hại do tự thân NNHCĐ gây ra và thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người có
liên quan đến NNHCĐ gây ra rất phổ biến Tóm lại, “việc xác định thiệt hại là o“tác
động của n ười” hay “tác động của vật”c ý n hĩa v cùn quan trọn hi xác định trách nhiệm B H, là điểm mấu chốt để phân định ranh giới giữa hai loại trách nhiệm
Một điểm cần lưu ý là sự kiện gây thiệt hại phải có tính trái pháp luật Hiện nay, pháp luật mới chỉ có quy định về “hành vi trái pháp luật” của con người mà chưa có quy định về tính trái pháp luật khi tài sản nói chung và NNHCĐ nói riêng gây thiệt hại Theo tinh thần của BLDS, mọi công dân đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe; quyền sở hữu của công dân được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Vì vậy, về nguyên tắc, việc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (không thuộc các trường hợp pháp luật cho phép) bị coi là trái
pháp luật Bởi vậy, “Điều 623 BLD quy định về B H o NNHCĐ ây ra và các điều
hác quy định về BTTH do tài sản gây ra cần phải hiểu đ chính là sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật, vì vậy, trách nhiệm BTTH phải được đặt ra” 50 Tuy vậy nhưng trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra cũng được loại trừ trong trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết (Khoản 3 Điều 623 BLDS)
1.2.2.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra
Quy định tại Khoản 1 Điều 604 BLDS và hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 Phần
I NQ 03/2006 cho thấy rằng: Trong trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra, sự kiện gây thiệt hại của NNHCĐ là nguyên nhân tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại xảy ra là kết quả của sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của NNHCĐ Nếu như hoạt động của NNHCĐ không là nguyên nhân tất yếu, nguyên nhân
có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại xảy ra không phải là kết quả của hoạt động của NNHCĐ thì trách nhiệm này sẽ không phát sinh hoặc trách nhiệm khác
sẽ được áp dụng để giải quyết
49 Xem Trần Thị Huệ, Tổng quan về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại – vấn đề lý luận và thực tiễn,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/05/4701-2/ (truy cập ngày 11/05/2013)
50
Phạm Vũ Ngọc Quang (2012), “Cần có thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, Tạp chí Kiểm sát, (07), tr.45- tr.53, tr 49
Trang 331.2.2.4 Vấn đề lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Về nguyên tắc, trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra chỉ cần thoả mãn các điều
kiện trên “Yếu tố lỗi không phải là một điều kiện tiên quyết làm phát sinh trách nhiệm
B H o NNHCĐ ây ra Dấu hiệu quan trọng nhất để xác định trách nhiệm này là hoạt động của NNHCĐ chính là n uyên nhân trực tiếp, là yếu tố quyết định dẫn đến thiệt hại” 51
Cần lưu ý rằng, lỗi mà Điều 623 BLDS đề cập là lỗi trong quản lý NNHCĐ chứ
không phải là lỗi với tư cách một điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH “Lỗi của chủ
sở hữu, n ười chiếm hữu trong trách nhiệm BTTH do tài sản (tron đ c NNHCĐ) ây
thể gây ra thiệt hại- điều mà một người chu đáo, cận trọng sẽ nhìn thấy được trong hoàn cảnh tương tự Thiệt hại phát sinh khi những chủ thể này đã không thực hiện sự quan tâm, chu đáo khi cần thiết khi thực hiện nghĩa vụ quản lý NNHCĐ
Nếu như trách nhiệm BTTH thông thường dựa trên sự suy đoán lỗi thì trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra dựa trên sự suy đoán trách nhiệm đối với người có nghĩa vụ
quản lý NNHCĐ “ rách nhiệm B H o NNHCĐ ây ra chỉ được áp dụng khi hoạt
động gây thiệt hại của NNHCĐ nằm ngoài khả năn iểm soát, điều khiển của n ười chiếm hữu, vận hành và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại” 53 Vậy, thiệt hại xảy ra có thể hoàn toàn không có lỗi của con người trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành NNHCĐ Chẳng hạn như đối với hệ thống tải điện, mặc dù đã kiểm tra, bảo trì cẩn thận nhưng nó bỗng dưng phóng điện gây thiệt hại Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do
51 Vũ Thị Hải Yến, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/06/4727-4/ (truy cập ngày 02/05/2013)
52
Phạm Vũ Ngọc Quang (2012), “Cần có thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, Tạp chí Kiểm sát, (07), tr.45- tr.53, tr 49
53 Xem thêm Vũ Thị Hải Yến, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/06/4727-4/ (truy cập ngày 02/05/2013).
Trang 3429
lỗi của con người thì trách nhiệm này sẽ không được áp dụng mà sẽ áp dụng trách nhiệm BTTH theo quy định chung Trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra không loại trừ khả năng thiệt hại cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, trông giữ, bảo quản, vận hành NNHCĐ nhưng hành vi của người này không phải nguyên nhân có tính quyết định dẫn đến thiệt hại Chẳng hạn như: trước khi vận hành xe thì chủ sở hữu cần kiểm tra hệ thống phanh (thắng) có an toàn không nhưng vì chủ quan nên cho rằng nó vẫn đảm bảo an toàn, khi sử dụng xe bị mất phanh và gây ra thiệt hại do người đi đường
Như vậy, yếu tố lỗi không phải là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra Tuy nhiên, khi thiệt hại xảy ra, những người áp dụng pháp luật vẫn cần xem xét có lỗi hay không có lỗi của con người để từ đó có thể xác định những chủ thể phải chịu trách nhiệm BTTH
1.2.3 Xác định thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Xác định thiệt hại là một việc làm không thể thiếu trong quá trình giải quyết tranh chấp BTTH ngoài hợp đồng Thiệt hại vừa là điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường vừa là căn cứ cần thiết để ấn định mức bồi thường cho bên bị thiệt hại Xác định đúng mức độ thiệt hại xảy ra là một điều kiện quan trọng để xác định đúng trách nhiệm BTTH
1.2.3.1 Xác định thiệt hại về tài sản
Theo Điều 169 BLDS: “Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác
được pháp luật công nhận và bảo vệ” Vì vậy, nếu có hành vi gây thiệt hại của người
khác đối với tài sản của mình thì chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ có quyền yêu cầu BTTH theo quy định của pháp luật Theo quy
định tại Điều 608 BLDS: “ ron trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi
thường bao gồm: Tài sản bị mất; tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; chi phí hợp lý để n ăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại” Như vậy, thiệt hại do tài sản bị xâm phạm không chỉ là thiệt hại trực tiếp ảnh
hưởng đến tài sản mà còn có các thiệt hại có liên quan đến tài sản đó (lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản) Vậy, thiệt hại về tài sản có thể chia thành hai loại là thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp Và các thiệt hại này phải được xác định bằng một khoản tiền cụ thể
Trang 3530
Một là, thiệt hại trực tiếp bao gồm:
- Thiệt hại do tài sản bị mất: Hiện nay pháp luật không có một quy định nào giải
thích về tài sản bị mất Nhưng có thể hiểu rằng: “Tài sản bị mất là tài sản không còn
nằm trong phạm vi chiếm hữu, sử dụng của chủ sở hữu và việc này nằm ngoài ý chí của
mất là có thật và nay họ không thể chiếm hữu sử dụng Một điểm cần phải lưu ý đó là khi xác định thiệt hại do tài sản bị mất thì cần phải xem xét tình trạng của tài sản và giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm tài sản bị mất để có mức bồi thường cho hợp lý
- Thiệt hại do tài sản bị hư hỏng, bị huỷ hoại: Tài sản bị hư hỏng là “trường hợp
tài sản bị xâm phạm vẫn còn nhưn ị mất hoặc giảm sút giá trị sử dụng trong tình trạng vẫn có thể khôi phục lại tính năn vốn có của nó thông qua việc sữa chữa” 55
Còn tài sản bị huỷ hoại là trường hợp “tài sản không còn bản chất và chức năn sử
huỷ hoại vẫn nằm trong phạm vi quản lý, sử dụng của chủ sở hữu nhưng một phần hoặc tất cả giá trị sử dụng của chúng đã bị thay đổi
Mức BTTH đối với hai loại tài sản này cũng khác nhau Bởi lẽ, tài sản bị hư hỏng thì một phần nào đó vẫn còn có thể sử dụng được hoặc khắc phục được nhưng tài sản bị
huỷ hoại thì chúng không thể sửa chữa cũng như khắc phục được Vì vậy, “nếu tài sản
bị mất, bị huỷ hoại thì có thể bồi thường bằng vật tươn đươn hoặc bằng tiền tươn ứng với với giá trị tài sản bị mất, bị huỷ hoại Nếu vật bị hư hỏng thì bồi thường bằng cách trả chi phí sửa chữa cho n ười có tài sản, thuê n ười sửa chữa hoặc tự sửa chữa vật”57 Ngoài ra, chủ thể có trách nhiệm BTTH còn phải bồi thường những chi phí mà người bị thiệt hại bỏ ra để khắc phục thiệt hại Tuy nhiên, chỉ có những chi phí hợp lý mới được bồi thường Nhưng thế nào là chi phí hợp lý thì pháp luật lại không quy định
Tuy nhiên, có thể hiểu rằng: Chi phí hợp lý là những chi phí thực tế và cần thiết để
n ười bị thiệt hại có thể n ăn chặn, khắc phục thiệt hại
54 Đỗ Văn Đại (2010), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam- bản án và bình luận bản án, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 161
55
Học viện Tư Pháp (2007), Giáo trình Luật Dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.457
56
Đỗ Văn Đại (2010), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam- bản án và bình luận bản án, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 164
57 Hoàng Thế Liên- chủ biên (2009), Bình luận khoa học BLDS 2005 – tập II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr
713
Trang 3631
Hai là, thiệt hại gián tiếp: Đó là lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài
sản Những thiệt hại gắn liền với việc khai thác tài sản, hưởng hoa lợi, lợi tức và đó là khoản tiền mà chắc chắn người bị thiệt hại sẽ thu được nếu không có thiệt hại xảy ra Đây là những thiệt hại gián tiếp từ những thiệt hại nói trên Chẳng hạn như: Vụ cháy nổ cây xăng của doanh nghiệp A đã lan sang, làm cháy xưởng thủ công mỹ nghệ của anh B
ở bên cạnh và làm cho xưởng này phải ngừng hoạt động hoàn toàn Do đó, thu nhập thực tế của anh B từ việc sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ bị mất đi Ngoài việc phải bồi thường giá trị nhà xưởng và tài sản trong xưởng thì doanh nghiệp A còn phải bồi thường khoản thu nhập mà anh B bị mất do không khai thác được xưởng sản xuất Đối với thiệt hại do tài sản bị xâm phạm thì người có trách nhiệm BTTH không phải bồi thường tổn thất về tinh thần Việc quy định như vậy bởi lẽ theo các nhà làm luật thì khi tài sản bị xâm phạm, thì quyền sở hữu bị xâm phạm chứ không ảnh hưởng
gì đến quyền nhân thân Vì vậy, họ không bị ảnh hưởng về tinh thần nên không có bù đắp về tinh thần
1.2.3.2 Xác định thiệt hại về sức khoẻ
Việc xác định thiệt hại về sức khoẻ được quy định tại Điều 609 BLDS và được hướng dẫn cụ thể tại mục 1 phần I NQ 03/2006 Theo đó, các thiệt hại được bồi thường bao gồm:
Một là, chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức
năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại Theo đó, chi phí này bao gồm: “tiền
thuê phươn tiện đưa n ười bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu theo chỉ định của ác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi ưỡng phục hồi sức khỏe cho n ười bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết hác cho n ười bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năn của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của n ười bị thiệt hại (nếu c )” 58 Các chi phí này phải là các chi phí hợp lý (thực tế và cần thiết) và phục vụ cho việc chữa bệnh của người bị thiệt hại
58
Tiểu mục 1.1 mục 1 phần I NQ 03/2006
Trang 3732
Hai là, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại Chính vì
người bị thiệt hại bị xâm phạm về sức khoẻ; họ không thể tiếp tục làm việc nên thu nhập của họ bị mất đi hoặc bị giảm sút; do đó, những thiệt hại này cần được bồi thường Thu nhập này phải là những thu nhập mà trước khi sức khoẻ bị xâm phạm họ đã được hưởng và đó là khoản thu nhập thực tế từ tiền lương, tiền công hay tiền thu được từ việc làm cụ thể nào đó mà không phải là thu nhập suy đoán Tuy nhiên, thu nhập thực tế của người bị thiệt hại có thể là thu nhập ổn định hoặc là không ổn định Cách xác định xin xem tại tiểu mục 1.2 mục 1 phần II NQ 03/2006 có hướng dẫn cụ thể cách xác định Ngoài ra, cũng cần lưu ý là việc xác định thời điểm thu nhập bị mất hoặc giảm sút
ở thời điểm nào cho hợp lý? Là thời điểm xảy ra thiệt hại hay thời điểm Toà án giải
quyết hay thời điểm bồi thường? “Giải pháp hợp lý là chún ta xác định thu nhập vào
thời ian “điều trị” và thời điểm này thường là thời điểm “thiệt hại xảy ra””59 Bởi lẽ, tại thời điểm “điều trị” là thời điểm mà thu nhập của người bị thiệt hại bị mất hoặc giảm sút Quy định này sẽ đảm bảo quyền, lợi ích cho người bị thiệt hại và người có trách nhiệm bồi thường khi mà theo thời gian thì mức thu nhập, giá cả ngày càng biến động; hơn nữa, người có trách nhiệm bồi thường cũng không có lỗi gây ra thiệt hại nói trên
Ba là, chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị
thiệt hại trong thời gian điều trị Theo tiểu mục 1.3 mục 1 phần II NQ 03/2006 thì các
thiệt hại này bao gồm: “tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa
phươn nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong nhữn n ười chăm s c cho
n ười bị thiệt hại trong thời ian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế” Các thiệt hại này chỉ dành cho người chăm sóc người bị thiệt hại Về chi phí hợp lý
cho việc chăm sóc người bị thiệt hại sau khi điều trị thì được xác định như đối với cách xác định thu nhập bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại Tuy nhiên, chi phí này chỉ
là chi phí do thu nhập bị mất chứ không bao gồm thu nhập bị giảm sút
Ngoài ra, tại tiểu mục 1.4 mục 1 phần II NQ 03/2006 quy định: “ ron trường
hợp sau hi điều trị, n ười bị thiệt hại mất khả năn lao động và cần c n ười thường xuyên chăm s c (n ười bị thiệt hại không còn khả năn lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặn và các trường hợp hác o cơ quan nhà nước có
59
Đỗ Văn Đại (2010), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam- bản án và bình luận bản án, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 194
Trang 38Bốn là, khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm Khoản
tiền này được quy định cụ thể tại tiểu mục 1.5 mục 1 phần II NQ 03/2006 Theo đó: Mức bồi thường trước hết do các bên thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được, thì tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy đinh tại thời điểm giải quyết bồi thường Việc bồi thường cũng cần phải căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm
mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân
1.2.3.3 Xác định thiệt hại về tính mạng
Các khoản bồi thường này được quy định tại Điều 610 BLDS và được hướng dẫn
cụ thể tại mục 2 phần II NQ 03/2006 Cụ thể bao gồm:
Một là, chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại
trước khi chết bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại nếu sau khi điều trị người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị Đây là những chi phí trước khi người bị xâm phạm tính mạng chết
Hai là, chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: “các hoản tiền mua quan tài,
các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, hăn tan , hươn , nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ ái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ ” Những chi phí này phải là những chi phí hợp lý thì mới được bồi thường
Tuy nhiên, mai táng là một lĩnh vực động chạm tới “tâm linh” nên rất khó khăn cho
thực tiễn khi quyết định mức bồi thường hợp lý “Đây là vấn đề trừu tượng có liên quan
Trang 3934
đến phong tục tập quán, đến truyền thốn đạo đức của nhân dân ta, nên không thể ấn
Ba là, khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ
cấp dưỡng trước khi chết Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng mà trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Bao gồm các đối tượng có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng Tuy nhiên, không phải cứ thuộc các đối tượng trên thì đều được cấp dưỡng mà những người đó phải thoả mãn những điều kiện tại điểm b tiểu mục 2.3 mục 2 phần II NQ 03/2006
Bốn là, khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm Người
được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha
đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại Nếu không có những người này thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người
mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại Ngoài ra, việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại
Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được thì tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường
1.2.4 Xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Căn cứ vào khoản 2 Điều 623 BLDS và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra có thể được áp dụng với các chủ thể sau: Chủ sở hữu; người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ; người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật NNHCĐ Việc xác định ai trong số các chủ thể trên phải chịu trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể
1.2.4.1 Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ
Một là, chủ sở hữu đan chiếm hữu, sử dụn NNHCĐ
60
Đỗ Văn Đại (2010), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam- bản án và bình luận bản án, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 218
Trang 4035
Chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ là trường hợp chủ sở hữu đang thực hiện hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý NNHCĐ; khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ NNHCĐ nhưng không được trái pháp luật và trái đạo đức Việc thực hiện quyền sở hữu của chủ sở hữu không được gây tổn hại tới lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hơn nữa, theo BLDS thì chủ sở hữu phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi, trừ trường hợp họ chứng minh được thiệt hại xảy ra hoàn toàn
do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết
Vì vậy, nếu NNHCĐ gây thiệt hại cho người khác trong trường hợp chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ thì trách nhiệm BTTH thuộc về chủ sở hữu NNHCĐ
Hai là, chủ sở hữu iao NNHCĐ cho n ười khác chiếm hữu, sử dụng
Giao NNHCĐ nếu hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm giao NNHCĐ thông qua giao dịch dân sự, giao theo quan hệ lao động, quan hệ hành chính Tại Khoản 2 Điều 623
BLDS quy định: “Chủ sở hữu NNHCĐ phải B H o NNHCĐ ây ra; nếu chủ sở hữu
đã iao cho n ười khác chiếm hữu, sử dụng thì nhữn n ười này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận hác” Ở đây, có hai chủ thể là chủ sở hữu và người được
giao NNHCĐ Theo tinh thần của Điều này thì người được giao tài sản chỉ phải bồi thường khi được chủ sở hữu “giao chiếm hữu, sử dụng” Tuy nhiên, BLDS lại không
cho biết thế nào là “chiếm hữu, sử dụng” Theo BLDS thì “quyền chiếm hữu là quyền
lợi, lợi tức”62 Đây là hai quyền khác nhau Một chủ thể có thể có quyền chiếm hữu nhưng bị hạn chế quyền sử dụng (theo phạm vi uỷ quyền hoặc giao dịch) hay chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền chiếm hữu (trong quan hệ hành chính, lao động)
“Do vậy, trên thực tiễn đã có sự nhận thức không thống nhất C quan điểm cho rằng iao cho n ười khác chiếm hữu, sử dụn c n hĩa là một trong hai quyền, hoặc là giao chiếm hữu, hoặc là giao sử dụn Quan điểm khác cho rằn đây là một sự sai sót của nhà làm luật, lẽ ra dấu phẩy giữa từ chiếm hữu và từ sử dụng phải được thay bằng từ