Trên tinh thần đó, các nhà nghiên cứu, luật gia đã có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến Luật Hôn nhân và gia đình, cũng như nghiên cứu về các quy định về chế đ
Trang 1TRIỀU HÌNH LUẬT THỜI HẬU LÊ VÀ HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ THỜI NGUYỄN: NHẬN DIỆN TỪ KHÍA CẠNH LỊCH SỬ 9 1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam thòi Hậu Lê và thòi Nguyễn ảnh
hưởng đến sự ra đòi của QTHL và HVLL 9 1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chế định hôn nhân gia đình
trong QTHL và HVLL 20
1.2.1 Khái niệm chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL 201.2.2 Đặc điểm của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL 221.2.3 Vai trò của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL 26KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG cơ BẢN CỦA CHÉ ĐỊNH HÔN NHÂN• •
GIA ĐÌNH TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT TRIÈU HẬU LÊ VÀ HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ TRIỀU NGUYỄN:
so SÁNH VÀ ĐÁNH GIÁ 29 2.1 Những nội dung CO’ bản của chế định hôn nhân gia đình
trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn 292.1.1 Quy định về kết hôn 292.1.2 Quy định về quan hệ giữa vợ chồng 37
Trang 22.1.3 Quy định vê quan hệ giũa cha mẹ và con và quan hệ giữa các
thành viên khác trong gia đình 452.1.4 Quy định về chấm dứt hôn nhân 57
2.2 Đánh giá chung về chế định hôn nhân gia đình của QTHL
và HVLL 652.2.1 Những mặt tích cực 652.2.2 Một số hạn chế mang tính lịch sử trong các quy định pháp luật
hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL 71KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
CHUÔNG 3: GIÁ TRỊ ĐƯƠNG ĐẠI CỦA CHÉ ĐỊNH HÔN NHÂN
GIA ĐÌNH TRONG QUÔC TRIẼU HÌNH LUẬT VÀ HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ VÀ ĐỊNH HƯỚNG KÉ THƯA CÁC GIÁ TRỊ ĐÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 75
3.1 Nhận diện các giá trị đương đại của chế định hôn nhân gia
đình trong QTHL và HVLL 75 3.2 Nhu cầu và định hướng kế thừa các giá trị của chế định hôn
nhân gia đình 863.2.1 Yêu cầu hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người 863.2.2 Thực trạng giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình ở Việt
Nam hiện nay 88
3.2.3 Quan diêm, nguyên tăc kê thừa các giá trị của chê định hôn nhân
gia đình trong QTHL và HVLL 94
3.3 Một số giải pháp kế thừa các giá trị đương đại ciía chế định
hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL 953.3.1 Thúc đẩy việc nghiên cứu để có những nhận thức đẩy đủ, toàn
diện các giá trị của chế định này trong lịch sử 95
Trang 33.3.2 Hoàn thiện pháp luật vê hôn nhân và gia đình theo những tiêp
nhận các giá trị tích cực của hai Bộ luật 96
3.3.3 Đấy mạnh công tác giáo dục pháp luật, giáo dục nghĩa vụ, trách nhiệm của vợ - chồng, của cha mẹ với con cái và các thành viên trong gia đình với nhau 101
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 104
KÉT LUẬN CHUNG 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 4QTHL: Quốc triều Hình luật
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTLT: Thông tư liên tịch
VKSNDTC: Viên kiểm sát nhân dân tối cao•
Trang 5MỞ ĐÀU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Quan điểm đường lối xây dựng đất nước của Đảng ta là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Một trong những nội dung này là xây dựng nền văn hóa pháp lý Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển lập pháp của các triều đại phong kiến Việt Nam, hầu hết các nhà cầm quyền đều chú trọng tới việc xây dựng, quản lý xã hội bằng pháp luật Nối bật trong hệ thống pháp luật đó, không thể không kể đến 2 bộ luật thành văn: QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn Hai bộ luật trên chứa đựng những tư tường tiến bộ và được xây dựng ở một trình độ lập pháp cao so với các văn bản pháp luật phong kiến trước đó
Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó xác định mục tiêu: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trong đó trọng tâm là thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân”
Trên tinh thần đó, các nhà nghiên cứu, luật gia đã có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến Luật Hôn nhân và gia đình, cũng như nghiên cứu về các quy định về chế định hôn nhân gia đình trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, các công trinh nghiên cứu chỉ mang tính khái quát mà chưa đi sâu nghiên cứu đế chỉ ra những giá trị tiến bộ của QTHL và HVLL có thể nghiên cứu để kể thừa, hoàn thiện pháp luật như đã được đề cập trong nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình, đó là: “Ke thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo
đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình ” (khoản 5 Điều 2)
Đây chính là nguyên tắc mang tính xuyên suốt không chi trong thi hành, áp
Trang 6dụng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, mà còn cả trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hôn nhân, gia đình.
Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19/6/2014 Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập Đó là những vấn đề liên quan đến
kỳ thuật lập pháp, tính pháp chế Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu những giá trị pháp lý của QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn, trong đó có các chế định về hôn nhân và gia đình nhằm sừa đổi, bổ sung để hoàn thiện các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình là vấn đề cần thiết
Từ những lý do nêu trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu những vấn
đề liên quan đến Luật Hôn nhân và gia đình được quy định trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn là cần thiết Việc nghiên cứu với mong muốn chỉ ra được những nội dung cơ bản, cốt lõi, chứa đựng tư tưởng tiến bộ và có thể
kế thừa vào việc hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình trong giai đoạn hiên nay Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Chế định hôn nhân gia đình trong Quốc triều Hình luật triều Hậu Lê và Hoàng Việt luật lệ triều Nguyễn: Nội dung cơ bản và giá trị kế thừa” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về QTHL và HVLL đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
ở nhiều khía cạnh khác nhau như tác phẩm Dân luật khái luận xuất bản năm 1960; Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng xuất bản năm 1973 của tác giả Vũ Văn Mầu; Tác phẩm Pháp chế sử xuất bàn năm 1974 của tác giả Vũ Quốc Thông; Tác phẩm Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam của tác giả Đinh Gia Trinh, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1968; Luật
xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII (xuất băn năm 1994) của nhà sứ học người Hàn Quốc Insun Yu; Pháp luật các triều đại Việt Nam và các nước (xuất băn năm 2004) của tiến sĩ Cao Văn Liên, Và còn rất nhiều các bài
2
Trang 7viêt trên các tạp chí đê cập đên một sô khía cạnh khác nhau của QTHL và HVLL Song, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và có sự so sánh, đánh giá về chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL thì chưa có một công trình chuyên khảo nào Hiện nay, chỉ rái rác đây đó có những công trình nghiên cứu đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề như:
Tác phẩm “Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV
đến thời Pháp thuộc” của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý 1998 Nội dung
tác phẩm đề cập nhiều vấn đề, xong chủ yếu là lịch sử xuyên suốt từ thời Lê cho đến thời Pháp thuộc Tác phẩm này cung cấp nhiều thông tin và trích dẫn nhiều nhiều văn bản cổ luật về hôn nhân gia đình có giá trị tham khảo cao Thông qua những chế định pháp luật về dân sự từ thời Lê như QTHL đến thời Nguyễn với HVLL, các tác giả đã có những phân tích mặt tích cực cũng như hạn chế của các quy định pháp luật dân sự về hôn nhân gia đình Tuy nhiên, những phân tích này mới chỉ mang tính khái quát chứ chưa chi tiết, cụ thể
Lê Thị Sơn (chủ biên) — Quốc triều Hình luật - lịch sử hình thành, nội
dung vù giá trị, nhà xuất bản Khoa học xã hội 2004 Đây là công trình được
coi là tiêu biểu nhất và nghiên cứu về Quốc triều Hình luật ở phạm vi rộng nhất Tác phẩm này do tập thể tác giả gồm các nhà sử học, luật học thực hiện Tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề như: Qúa trình hình thành QTHL, tư tưởng đức trị và pháp trị trong QTHL, vấn đề quan chế, vấn đề tội phạm, hình phạt,
tố tụng hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình trong QTHL
Năm 2014, Công trĩnh chuyên khảo Nhà nước và pháp luật triều Hậu
Lê với việc hảo vệ quyền con người, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia, Hà Nội
2014 do Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn và Tiến sĩ Mai Văn Thắng đồng chủ biên,
đã phân tích, làm rõ nhiều đặc trưng, giá trị lịch sử và pháp lý về nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người qua đó làm rõ nhiều giá trị đương đại cần kế thừa trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3
Trang 8Ngoài những công trình nghiên cứu lớn của tập thê các tác giả còn có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của cá nhân các tác giả có liên quan đến đề tài này như:
Trần Ngọc Đường - QTHL - mẫu mực về pháp điên hỏa trong thời kỳ
phong kiến Việt Nam và bài học công tác pháp điển hóa, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp ở nước ta, Tạp chí lịch sử nhà nước và pháp luật Bài viết đã tập
trung phân tích QTHL (Bộ luật Hồng Đức) trên phương diện nội dung và kỳ thuật lập pháp Từ sự phân tích các giá trị về kỳ thuật pháp điển hóa của bộ luật này, bài viết đưa ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện kỹ thuật lập pháp ở Việt Nam
Đỗ Đức Hồng Hà - Các tội xâm phạm sức khỏe của con người theo
quy định của Bộ luật Gia Long, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2007
Bài viết đã trình bày nội dung, cơ sờ, những thành tựu cũng như các hạn chế của việc quy định các tội xâm phạm sức khỏe của con người theo quy định của Bộ luật Gia Long
Phạm Ngọc Hường - Tìm hiểu giá trị tích cực của nho giáo trong Luật Gia Long, Tạp chí Hán Nôm sổ 4 (95) - 2009 Bài viết đã trình bày những giá
trị tích cực của Nho giáo trong Luật Gia Long, trong đó có cả phần đề cập đến giá trị đạo đức Nho giáo trong trong quan hệ giữa mọi người trong gia đình
Nguyễn Thị Bằng - Một vài so sánh về bộ QTHL (thời Lê) và bộ HVLL
thời Nguyễn, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7/2016 Bài viết đã đưa ra
một số điểm giống nhau giữa QTHL và HVLL trên 3 khía cạnh: Hình thức, tính chất và nguồn hình thành luật Đồng thời, cũng đã đưa ra được một số nét khác biệt giữa QTHL và HVLL trong đó có bao gồm cả điểm khác biệt trong lĩnh vực hôn nhân gia đình Tuy nhiên, mới chỉ mang tính khác quát chứ không chi tiết, cụ thể
Bên cạnh đó còn có nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu
4
Trang 9về QTHL và HVLL như: ộwổc triều Hình luật — các giả trị nhân văn, tiến bộ
và sự kế thừa trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, Luận
án tiến sĩ luật học, Hà Nội, 2013 của tác giả Lương Văn Tuấn; Bộ luật Hồng
Đức - Nội dung cơ bản và giá trị đương đại, Luận vãn Thạc sĩ luật học, Hà
Nội, 2014 của tác giả Đặng Thị Hải Hằng
Qua tồng quan tình hình nghiên cứu nêu trên cho thấy chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL đã được các nhà nghiên cứu, các tác giả
đề cập tương đối đầy đủ Song các công trình đã nghiên cứu chỉ nghiên cứu
về chế định hôn nhân gia đình trong QTHL hoặc chế định hôn nhân gia đình trong HVLL chứ không có công trình nào nghiên cứu về chế định hôn nhân gia đình trong 2 cổ luật và đưa ra so sánh, đánh giá Đáng lưu ý là, nghiên cứu
cố luật dưới phương diện vận dụng các giá trị cố luật trong việc hoàn thiện pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành vẫn là nội dung chưa được quan tâm đúng mức Vậy, Luận văn này sẽ góp phần nghiên cứu một cách toàn diện và
có hệ thống đánh giá về chế định hôn nhân gia đình trong QTHL triều Hậu Lê
và HVLL triều Nguyễn: Nội dung cơ bản và giá trị kế thừa
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nội dung cơ bản của chế định hôn nhân gia đình trong Bộ luật QTHL triều Lê sơ và HVLL triều Nguyễn và
sự tác động cúa những giá trị đó đến pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay cũng như rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong quá trình hoàn thiện pháp luật hôn nhân gia đình
Phạm vi nghiên cứu: do hạn chế về thời gian và khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật cụ thể của Bộ luật QTHL triều Lê sơ và HVLL triều Nguyễn về chế định hôn nhân gia đình mà không phân tích sâu khía cạnh thực tiễn áp dụng những quy định này thời Hậu Lê và thời Nguyễn
5
Trang 10Vê mặt phạm vi thời gian, tác giả tập trung giới hạn nghiên cứu quá trình xây dựng, hoàn thiện QTHL của thời Hậu Lê (từ 1428 - 1788), trong đó tập trung vào thời Lê sơ (1428 - 1527) và quá trình xây dựng, hoàn thiện HVLL thời Nguyễn được vua Gia Long chính thứ ban hành năm 1815.
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• • •
Mục đích nghiên cứu: mục đích được đặt ra cho đề tài là phân tích, so sánh và đánh giá chế định hôn nhân gia đình được quy định trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn để chỉ ra được những nội dung cơ bản, cốt lõi, chứa đựng tư tưởng tiến bộ và có thể nghiên cứu kế thừa vào việc hoàn thiện pháp luật hôn nhân gia đình trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
1 Phân tích tổng quan chung (bối cành, cơ sở tư tưởng) về sự hình thành hai bộ luật: QTHL và HVLL
2 Phân tích nội dung cơ bản trong chế định hôn nhân gia đình của hai
bộ luật, từ đó để thấy được một số điểm điểm nhân văn, tiến bộ và tầm nhìn tương lai về hôn nhân và gia đình so với pháp luật Trung hoa cùng thời kì, đồng thời cũng thấy được những điểm còn hạn chế của hai bộ luật
3 Phát hiện những giá trị, những bài học kinh nghiệm của hai bộ luật trên đến việc hoàn thiện chế định hôn nhân gia đình trong pháp luật Việt Nam hiện nay Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp kế thừa và học hởi từ các giá trị nhân văn, tiến bộ của Bộ luật QTHL và HVLL đến pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chú nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thề sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là hai phương pháp được sử dụng
6
Trang 11chủ yêu trong hâu hêt các nội dung của luận văn Cụ thê tại chuơng 1, phương pháp phân tích được sử dụng để nghiên cứu bối cảnh xã hội hình thành 2 bộ luật, các tiền đề của pháp luật hôn nhân gia đình thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn Trên cơ sở phân tích các Vấn đề liên quan, luận văn tiếp tục sừ dụng phương pháp tống hợp đế đưa ra khái niệm của chế định hôn nhân gia đình.
Tại chương 2, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp lại tiếp tục được sử dụng đế phân tích các nội dung cơ bản của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn (bao gồm: quy định về kết hôn, quy định về quan hệ giữa vợ chồng, quy định về quan hệ giữa cha mẹ
và con và quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình, quy định về chấm dứt hôn nhân) Từ đỏ, tác giả tiếp tục sử dụng phương pháp tổng hợp để tổng hợp lại những mặt tích cực mà pháp luật hôn nhân gia đình của nước ta hiện nay cần học hỏi và những điểm hạn chế của chế định hôn nhân gia đình triều Hậu Lê và triều Nguyễn
Tại chương 3, phương pháp phân tích và tổng hợp được sừ dụng để nghiên cứu những yêu cầu và giải pháp tiếp tục vận dụng pháp luật hôn nhân gia đình trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật hôn nhân gia đình ở Việt Nam
Phương pháp lịch sử cụ thể: Nghiên cứu pháp luật hôn nhân và gia đình trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn là nghiên cứu hệ thống hóa pháp luật đã qua trong lịch sử Muốn đảm bảo tính khách quan khi nghiên cứu, đánh giá những giá trị của pháp luật hôn nhân gia đình thời kỳ này làm
cơ sở để vận dụng pháp luật thì phải đặt nó trong điều kiện kinh tế xã hội của thời kỳ đấy, tương ứng với phương thức sản xuất và những hình thức cơ bản của sự phát triển cùng những mâu thuẫn xã hội của thời đại đó Không đưa ra những yêu cầu quá xa, vượt lên những điều kiện lịch sử và thời đại mà nó ra đời Đồng thời, trên cơ sở quan điểm phát triển, cần phải hiểu đúng quy luật
7
Trang 12của sự tiêp biên văn hóa Có vậy, mới có thê đánh giá khách quan cả mặt tích cực và những hạn chế của nền pháp luật hôn nhân gia đình trong hai thời kỳ lịch sử này Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong quá trinh thực hiện luận văn nhưng tập trung chú yếu ở chương 2 khi nghiên cứu nội dung
và đánh giá các giá trị trong nội dung chế định hôn nhân gia đình trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn, sử dụng trong chương 3 để nghiên cứu những giá trị kế thừa trong pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa và giá trị thực tiễn cúa luận văn
Trên cơ sở phân tích, so sánh và đánh giá những quy định về hôn nhân
và gia đình trong QTHL triều Lê sơ và HVLL triều Nguyễn với pháp luật cùng thời kì và Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để thấy được điểm nhân văn, tiến bộ của pháp luật quy định về hôn nhân và gia đình trong hai Bộ luật
Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ góp phần vào tổng kết, đánh giá những đóng góp và thành tựu của triều Lê sơ và triều Nguyễn về phương diện pháp luật Trên cơ sở đó tìm hiếu thêm về những giá trị truyền thống dân tộc, tìm ra bài học bố ích trong công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay nói chung và pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương ỉ: Chế định hôn nhân gia đình trong QTHL thời Hậu Lê và
HVLL thời Nguyễn: nhận diện từ khía cạnh lịch sử;
Chương 2\ Nội dung cơ bản của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL
triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn: so sánh và đánh giá;
Chương 3: Giá trị đương đại của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL
và HVLL và định hướng kế thừa các giá trị đó ở Việt Nam hiện nay
8
Trang 13Chương 1 CHẾ ĐỊNH HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRONG QUÓC TRIÈU HÌNH
LUẬT THỜI HẬU LÊ VÀ HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ THỜI NGUYỀN:
XV, với sự tồn tại của triều đại Lê sơ, được coi là một giai đoạn phát triển cao của chế độ phong kiến Việt Nam về nhiều mặt Đó là thời kỳ đất nước ổn định, phát triển, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ và mở rộng biên giới, hạn chế các xu hướng cát cứ, xây dựng Nhà nước tập quyền mạnh, có vị trí và uy tín lớn trong khu vực
Triều Lê sơ trải qua 10 đời vua, khởi đầu là đời vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433) và kết thúc là đời vua Lê Cung Hoàng (1522-1527) Đây là thời kỳ các hoàng đế nhà Lê nắm trọn được quyền hành, cũng là thời kỳ vỹ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam Giai đoạn phát triển cường thịnh nhất của thời Lê sơ đồng thời cũng là đỉnh cao của thế chế chính trị pháp lý và đời sống kinh tế - văn hóa của chế độ phong kiến Việt Nam là triều vua Lê Thánh Tông (1460- 1497)
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua đánh dấu việc chấm dứt giai đoạn chiến
9
Trang 14tranh và chuyên sang thời kỳ hòa bình lâu dài của dân tộc Kinh nghiệm, tri thức thời kì chiến tranh rất lớn nhưng cũng chưa thực sự đủ để đưa đất nước vào con đường thái bình, thịnh trị Vào những năm cuối đời, Lê Lợi mắc tính
đa nghi, hiếu sát nên đã giết hại một số công thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo và đấy nhà vua đến chồ phải đối diện với sự bất hợp tác của quần thần cũng như quần chúng
Lê Lợi chết, Lê Thái Tông (1434 - 1442), con thứ của Lê Lợi lên nối ngôi lúc 11 tuổi Vị vua với tuổi đời còn quá nhỏ như vậy đã không nhìn thấy được nguy cơ với xã tắc ở thời vua cha Vào tuổi lớn hơn, Lê Thái Tông mải chìm trong tửu sắc, Ông phế bở chính cung là Dương Thị Bí, lập thứ phi Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu, phế bỏ con trưởng Nghi Dân, lập con thứ Bang Cơ là hoàng tử nối ngôi Chính ông đã gây nên họa tranh giành ngôi báu dẫn đến việc anh giết em để chiếm ngai vàng xảy ra 16 năm sau khi ông chết
Ở chốn quan trường, trăm quan chia bè kết cánh bức hại lẫn nhau
Lê Thái Tông chết, con thứ là Bang Cơ, tức Vua Lê Nhân Tông (1433 - 1459) lên ngôi khi mới hai tuổi Mọi công việc triều chính đều do bà Nguyễn Thị Anh - mẹ Bang Cơ và phe lũ nắm giữ Nội tình đất nước đã nát nay lại càng nát hơn Bài Trung hưng Ký năm Quang Thuận viết:
Nhân Tông lên hai tuổi đã sớm nối ngôi vua Thái hậu Nguyễn Thị Anh thì gà mái gáy sớm Đô đốc Lê Khuyển như thỏ khôn giữ mệnh Vua đàn bà mắt quáng buông rèm ngồi chốn thâm khuê Bọn
họ ngoài lòng tham, khoác lác, hoành hành khắp cõi Kẻ thân yếu nắm quyền vị Nạn hối lộ được công khai Việc văn giáo lặng lẽ như băng hàn, người hiền từ phải bó cánh Bậc túc nho như Lý Tử Tấn, Trịnh Thuấn Du thì đẩy vào chồ nhàn, phường dốt đặc như đàn ong nổi dậy, như chó chuột nhe răng Tể thần như Lê Sủng, Lê Sát thì ngu si không phân biệt được sáu con súc vật Chường binh
10
Trang 15Lê Diên, Lê Luyện thì mù tịt, chăng hiêu được bôn mùa một năm Bậc lương thần như Trịnh Khả, Khắc Phục thì kèn cựa mà giết nhau Người tài sĩ như Nguyễn Mộng Tuân thì bị đẩy vào vòng tai họa Oan uổng không chỉ kêu xin, mọi việc thảy đều đổ nát Văn giai như công Soạn tuổi gần 80, tể thần như Lê Ê không biết một chữ Bọn trẻ không biết nghĩ, làm bậy, ngông cuồng, người già chẳng chết đi, trở thành mối họa Bán quan, mua kiện, ưu giàu, ghét nghèo Hiền tài là rường cột của triều đình mà sạch không như quét đất Văn chương là khí vận của nước nhà mà im ắng tựa cỏ khô Bọn xiểm nịnh được tin dùng, kẻ đao búa được tiến cử [14, tr.384].
Tháng 6 năm 1460, xảy ra đảo chính cung đình một lần nữa Một số đại thần cựu trào như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm cùng nhiều văn thần, võ tướng khác huy động lực lượng bắt Nghi Dân cùng đồng bọn, bắt Nghi Dân xong, các quan đem xa giá đón Cung vương Khắc Xương, con thứ
ba của Lê Thánh Tông lên làm vua Cung vương Khắc Xương lo sợ, một mực
từ chối ngồi vào ngai vàng Các quan xa giá đi đón Gia vương Tư Thành, con thứ tư của Lê Thái Tông lên làm vua tức vua Lê Thánh Tông sau này
Khác với vua cha - Lê Thái Tông lên ngôi lúc 11 tuổi, vua anh - Lê Nhân Tông lên ngôi khi mới 2 tuổi, Lê Thánh Tông được tôn lên ngôi vua khi ông tròn 18 tuổi Lê Thánh Tông nổi tiếng ham học từ nhỏ, ông lại có điều kiện quan sát thời cuộc, hiểu rõ nồi thống khổ của dân khi cùng mẹ lẩn tránh nơi thôn giã để tránh sự truy lùng, sát hại của nạn tranh giành ngôi báu xảy ra nơi cung đình Khi được đặt vào ngai vàng, ông đã có đủ bản lĩnh để nhận định, đánh giá tình hình đất nước đang rơi vào tình trạng nước sôi, lửa bông
Ngày 08 tháng 6 năm 1460, vừa làm lễ lên ngôi xong, Lê Thánh Tông làm lê phát tang cho vua Lê Nhân Tông và Thái hậu bị Nghi Dân giết vào tháng 12 năm trước Một tháng sau khi lên ngôi, tức vào tháng 7 năm 1460,
11
Trang 16Vua lập tức ra Săc chỉ cho các vệ quân thuộc năm đạo, các phủ, trân, các Tổng quăn, Tổng chi rằng: “Có quốc gia là cỏ võ bị Nay phải theo trận đồ
trong nước đã ban trong địa phận của vệ mình, phải chỉnh đốn đội ngũ, dạy cho quân lính phép đi, đứng, đâm, đảnh, hiểu được hiệu lệnh tiếng chuông, tiếng trống khiến cho binh lính tập quen cung tên, không quên võ bị ”
Với Lê Thánh Tông trước mắt ông có ba mối họa đang đe dọa sự tồn vong của nước nhà do các vua tiền nhiệm để lại:
- Ngoại xâm đã đến tận cửa;
- Bộ máy trị vì của đất nước bất lực, tê liệt Quan lại tham nhũng Dân chúng lầm than, đời sống của nhân dân rơi xuống tận đáy khổ cực;
- Kỷ cương phép nước rối bời
Đứng trước những mối họa đó, trong suốt 38 năm trị vì, Vua Lê Thánh Tông luôn canh cánh trong lòng, ông ngày đêm suy nghĩ, thúc dục trăm quan luôn tận tâm, tận lực tìm ra trăm kế, nghìn sách hay để giải trừ ba mối họa đó Ông đã tạo ra một khí thế hừng hực, trên hết là vua, dưới là trăm quan, bá tính, mọi người luôn chăm lo suy nghĩ tìm ra các chủ trương, đường lối trị nước, an dân một cách có kết quả nhất
Bởi vậy, trong QTHL bên cạnh những điều luật bảo vệ quyền lợi của hệ thống quan lại, quý tộc còn có nhiều điều khoản nhằm hạn chế thế lực ảnh hưởng, hạn chế sự lạm quyền của các quan đại thần nhằm buộc họ phải tuyệt đối trung thành, tận tụy với nhà vua Bên cạnh đó, để đề phòng nguy cơ tái xâm lược của nhà Minh, nhằm bảo vệ vẹn toàn lãnh thố, an ninh quốc gia trong hoàn cảnh vừa giành được độc lập nên các điều luật nói về các tội xâm phạm an ninh quốc gia cũng được đề cao
Liể xã hộiThời Lê sơ, xã hội được chia thành hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân, ngoài ra còn có các tầng lớp thợ thủ công, thương nhân và nô tì
12
Trang 17Giai câp địa chủ phong kiên bao gôm những địa chủ - quan lại giữ những trọng trách trong bộ máy thống trị, đứng đầu là vua và các địa chủ bình dân vừa và nhỏ Giai cấp địa chủ phong kiến thời Lê làm giàu nhờ một phần dựa vào việc bóc lột địa tô nhưng phần lớn dựa vào bóc lột thuế thông qua nhà nước Chính vì vậy, quyền lợi của giai cấp địa chủ gắn liền với quyền lợi của nhà nước phong kiến.
Giai cấp nông dân có số lượng đông đảo nhất trong xã hội Lê sơ Họ là lực lượng sản xuất chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển và phồn vinh của đất nước Chính vì vậy họ được nhà nước phong kiến hết sức quan tâm băo vệ
Tầng lóp thủ công, thương nhân là tầng lớp thị dân ít ỏi sống ở Thăng Long, do tính chất của nền kinh tế, những người này không trở thành lực lượng xã hội riêng, có khả năng xây dựng một nền kinh tế riêng biệt
Tầng lớp nô tì - Đây là tầng lóp thấp kém nhất trong xã hội, họ không được hưởng quyền lợi của một người dân, không được pháp luật bảo vệ Phần lớn nô tì được dùng vào việc phục dịch trong nhà, trong dinh thự, cung điện,
ít dùng trong sản xuất Nhà nước Lê sơ hạn chế việc nuôi nô tì, mua bán nô tì nên đã giảm nhiều số lượng nô tì Nhưng phải đến đầu thế kì XV, chế độ nô tì mới được xóa bở
Do chính sách độc tôn Nho giáo của triều Lê sơ đã dần đến một thực trạng là tầng lớp Nho sĩ ngày càng phát triển đông đảo và chiếm vị trí quan trọng góp phần tạo ra một diện mạo mới cho xã hội Lê sơ Nho học và thi cử
để tuyển chọn nhân tài bổ sung cho bộ máy nhà nước ngay từ thời Lê Thái Tổ
đã được coi trọng Tuy nhiên, giai đoạn này vị trí của nho quan nói chung còn thấp kém hơn so với đội ngũ công thần rất nhiều Theo thời gian, tầng lớp Nho quan trong bộ máy nhà nước ngày càng đông đảo Đặc biệt, đến Lê Thánh Tông đã lấy trình độ học vấn hơn hẳn các quan chức, song nếu không
13
Trang 18đỗ đạt thì không được làm quan Đội ngu Nho sĩ nếu đỗ đạt trở thành quan lại trong bộ máy nhà nước sẽ góp phần luật hóa các quan hệ xã hội cơ bản thời
Lê sơ theo tư tưởng nho giáo
về kin h tế
Trước vương triều Lê sơ chế độ phong kiến quân chù tập quyền đã được xác lập và phát triển dựa trên nền tảng của loại hình kinh tế đại điền trang thái ấp mang nặng đặc trưng của “phương thức sản xuất Châu Á” và một quá trình phong kiến hóa xã hội còn thấp Nen kinh tế điền trang thái ấp
cơ bản đã bị thù tiêu từ triều đại nhà Hồ sau một loạt chính sách cải cách của
Hồ Qúy Ly Hòa bình lập lại, nhà nước Lê sơ có điều kiện nắm trong tay số ruộng đất khá lớn của các quan chức, các nhà quyền thế tiền triều, của ngụy quan, của những người tuyệt tự, hay cùa dân li tán và yêu cầu lúc này được đặt ra là nhà nước phải có các biện pháp nhằm khôi phục hệ thống nông nghiệp bị tàn phá trong chiến tranh Đây là điều kiện thuận lợi đế nhà nước tiến hành một cuộc cải cách ruộng đất theo tinh thần gắn quyền lợi về ruộng đất với nghĩa vụ của người dân đối với dân tộc và triều đại Tinh thần này đã được quán triệt trong quá trình chia lại ruộng đất cho nông dân và trả công cho các công thần thời kháng chiến qua chính sách lộc điền và quân điền
Tình hình kinh tế xã hội nói trên là bối cảnh cơ sở cho sự gia tăng vai trò của pháp luật Đòi hởi nhà vua cần phải xây dựng hệ thống pháp luật nhằm duy trì trật tự, kỷ cương và củng cố chế độ phong kiến tập quyền quan liêu, bảo đảm quyền lợi của giai cấp thống trị
Tình hình pháp luật thời Lê sơ
Sự phát triển cao độ cùa chế độ phong kiến tập quyền thời Lê sơ đã đề
ra yêu cầu một bộ pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự xã hội có lợi ích cho giai cấp thống trị, để bảo vệ nền chuyên chế chính của giai cấp phong kiến Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, QTHL đã ra đời QTHL là Bộ luật quan
14
Trang 19trọng nhât và chính thông của triêu đại này đã đưa Việt Nam trở thành một quốc gia tiêu biểu có nền pháp quyền sơ khởi vào loại sớm trên thế giới Hơn thế, với tầm vóc lớn lao và ý nghĩa đặc biệt của mình QTHL còn được coi là
bộ luật tiêu biểu nhất của hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa pháp lý và tính nhân văn của dân tộc Việt Nam
Có nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử ra đời của Luật Hồng Đức Có quan điếm cho rang bộ luật này được ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông, bởi tên của luật gan liền với niên hiệu thứ hai của vị vua này Tuy nhiên, quan điểm chung của giới khoa học Việt Nam hiện nay cho rằng “QTHL (luật
Hồng Đức) là kết quả của quá trình lập pháp liên tục của các triều vua Hậu
Lê, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Thải Tô và đóng góp lớn lao của Thánh Tông - những vị vua anh minh vào bậc nhất của chế độ phong kiến Việt Nam” [28, tr.55].
Theo các tài liệu chính sử, sau cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418 - 1428), Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ), lấy niên hiệu Thuận Thiên, đặt quan chế, xây dựng bộ máy quan lại, ban hành pháp luật cai trị đất nước Lê Thái Tổ cho rằng: ‘‘Từ xưa đến nay, trị nước phải cỏ pháp luật,
người mà không có pháp đê trị thì loạn Cho nên, bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật để dạy các quan, dưới đến nhân dân cho biết thể nào là thiện, ác, điều thiện thì làm, điều ác thì tránh, chớ có phạm pháp” [15, tr.88J.
Ngay sau khi lên ngôi vua, trong năm 1428, Lê Lợi đã cùng các đại thần biên soạn một số luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất của thôn xã Những loại hình phạt, những lễ ân giảm trong QTHL (49 điều thuộc chương Danh lệ) phần lớn đều được quy định trong thời vua Lê Thái Tồ Ba mươi hai điều luật trong chương Điền sản để pháp chế hóa các thể lệ quân điền cũng được quy định chặt chẽ trong những năm Thuận Thiên (1428 -1433) và được thực hiện suốt trong thời Lê sơ Tuy vậy, do đây mới chỉ là bước đầu xây
15
Trang 20dựng nên pháp luật thời vua Lê Thái Tô còn nhiêu thiêu sót, nhât là vê phương diện tư hữu tài sản.
TH X -í \ • 7' /\ f • T'' -4- T f • r T'' T X T1 T 'T'1 r 1 'T' 1
Từ thời Lê Thái Tô đen Lê Thải Tông, Lê Nhân Tỏng, Lê Thảnh Tông, các triều vua đã dày công xây dựng hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam ngày càng phong phú và hoàn thiện, thể hiện trong hàng loạt các luật (bộ luật) được ban hành và thi hành
Trong thời vua Lê Thái Tông (1434 - 1442), một số nguyên tắc xét xừ các vụ kiện cáo về một số điều luật nghiêm cấm nạn hối lộ, hành động giao thiệp với người nước ngoài được xây dựng thêm
Thời vua Nhân Tông (1422 - 1497), do việc thi hành những chính sách ruộng đất tích cực nên nền kinh tế nông nghiệp đã phát triến nhanh chóng với
sự mở rộng của các hình thức sở hữu vừa và nhỏ nên việc mua bán, chuyển nhượng ruộng đất diễn ra rất phổ biến Để hạn chế những tranh chấp phát sinh, đảm bảo ổn định sản xuất nông nghiệp, Nhân tông đã bổ sung vào bộ luật chương Điền sản gồm 14 điều khẳng định về bảo vệ quyền tư hữu ruộng đất, quy định nguyên tắc xét xử những hành động xâm phạm đến quyền tư
hữu ruộng đất Theo nhà sử học Phan Huy Chú thì “từ đó về sau các vụ tranh kiện về phân chia tài sản trong dân gian mới có tiêu chuẩn ” (Hình luật chí
trong Lịch triều hiến chương loại chí)
Sang thời Thánh Tông (1460 - 1497), triều đình liên tiếp ban bố nhiều điều lệ về kế thừa hương hỏa, về việc bảo vệ tôn ty trật tự về đạo đức phong kiến, về việc trấn áp mọi hành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống trị của giai cấp phong kiến Sách Hồng Đức thiện chính thư và Thiên Nam dư
hạ tập còn ghi chép lại nhiều điều luật ban bố về thi hành trong thời vua Lê Thánh Tông theo thứ tự từng năm Riêng trong bộ luật Thiên Nam dư hạ tập còn ghi lại 40 điều luật thi hành trong năm Quang Thuận (1460 - 1469) và 61 điều trong năm Hồng Đức (1470 - 1497)
16
Trang 21Năm 1483, vua Lê Thánh Tông sai các triêu thân sưu tập tât cả các điêu luật, các pháp lệnh đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê sơ, tập hợp lại, xây dựng thành một bộ pháp điển hòa chỉnh Đó là QTHL, mà người
ta thường gọi là Bộ Luật Hồng Đức, để đề cao vai trò xây dựng của vua Lê Thánh Tông
Bộ luật này được thi hành trong suốt thời nhà Lê từ Lê sơ đến Lê Trung Hưng (1533 - 1789), nghĩa là từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, dĩ nhiên là các triều vua sau đó có sửa đổi, bổ sung ít nhiều Toàn văn bộ luật này còn được bảo tồn đến nay dưới tên QTHL hay Lê triều hình luật và còn được ghi chép lại trong Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí do Phan Huy Chú biên soạn
QTHL là một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch sừ nhà nước phong kiến Việt Nam Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, có nhưng điểm tiếp cận gần với kỹ thuật pháp lý hiện đại
*ĩ* Điều kiện chính trị - xã hội và pháp luật thòi nhà Nguyễn
về điều kiện chính trị- xã hội• • •
Triều Nguyễn tồn tại trong giai đoạn từ (1802 - 1945) Bắt đầu từ khi Nguyễn Ánh đánh đổ nhà Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Gia Long (1802) đến khi vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại thoái vị (1945) - triều đại phong kiến cuối cùng ờ Việt Nam, với hơn một thế kỷ tồn tại (143 năm), trải qua 13 đời vua
Nhà Nguyễn được thành lập đứng trước những thời cơ và thách thức mang tính lịch sử và thời đại (tiếp quản một lãnh thổ đất nước thống nhất dài rộng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, xây dựng bộ máy chính quyền mới sau một thời gian dài các thế lực tranh chấp quyền lực, phong trào nông dân cuộc đấu tranh giai cấp liên tiếp xảy ra từ thể ki XVIII) Nó đặt ra vấn đề đòi
17
Trang 22hỏi người cai trị đât nước lúc đó phải có những việc làm phù hợp trong việc xây dựng, sử dụng pháp luật một cách hiệu quả đe quản lý đời sống xã hội, để phát huy những lợi thế và khắc phục những khó khăn Nếu không sẽ đưa đất nước ngày càng rơi vào tình trạng hồn loạn.
về mặt kinh tế, Nhà nước vẫn duy trì phương thức sản xuất phong kiến
trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân như dưới triều Lê sơ và ngày càng mở rộng,
có chính sách tích cực trong việc phát triến kinh tế, đặc biệt là việc quản lý và
mở rộng đất đai (nhiều nhất là quai đê, lấn biển lập làng) Nông nghiệp vần chú trọng, nhưng công thương nghiệp vẫn bị hạn chế nhiều Dưới triều Nguyễn, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ cùa chế độ sở hữu và chiếm hữu tư nhân về ruộng đất
Mặc dù đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm phát triển nền kinh tế nông nghiệp, nhưng do không hài hòa, không phù hợp với quy luật khách quan của xã hội nên các chính sách kinh tế chung của triều Nguyễn đã kìm hãm nên kinh tể phát triển theo xu hưởng kinh tế - hàng hóa Đồng thời do thiên tai liên tục ở phía Bắc, chính sách thuế nông bất hợp lý nên kinh tế nông nghiệp thời Nguyễn vẫn đình trệ và rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc
Nền kinh tế hàng hóa đã có sự phát triển mạnh mẽ, một số mầm mống kinh tế tư bàn chú nghĩa đã xuất hiện, đòi hỏi chính quyền thống trị phải có sự quan tâm để thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển, nhất là trong bối cảnh đứng trước nguy cơ bị chủ nghĩa Tư bản phương Tây đe dọa xâm lược
về mặt xã hội, Nhà nước vẫn chú trọng và duy trì chế độ học hành, thi
cử để tuyển dụng quan lại, tiếp tục đề cao Nho giáo, quan tâm và khuyến khích sự phát triển của các loại hình văn hóa dân tộc khác như văn học, sử học, nghệ thuật triều Nguyễn cũng lập Quốc Tủ’ Giám, mở khoa thi Hương
và thi Hội để đào tạo nhân tài Từ khoa thi Hội đầu tiên năm 1822 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, triều Nguyễn tổ chức được 39 khoa thi Hội, lấy đồ
18
Trang 23292 Tiên sĩ và 266 Phó bảng, cộng 558 người Khu Văn Miêu tại kinh đô Huê còn lưu giữ 32 tấm bia Tiến sĩ thời Nguyễn Công việc biên soạn Quốc sử, các
bộ chính sử của vương triều, các bộ tùng thư và địa chí được đặc biệt quan tâm và để lại một di sản rất đồ sộ “Có thê nói, trong thời quân chủ, chưa có
Quốc Sử Quán của vương triều nào hoạt động cỏ hiệu quả và đê lại nhiều công trình biên soạn đến như thể” [4, tr.376].
Bên cạnh những cống hiến tích cực thì vẫn còn hạn chế về kinh tế xã hội thời kỳ này Những năm đầu nắm chính quyền, vua Gia Long đã cho thi hành chính sách hà khắc, mở rộng phạm vi trừng trị hình sự, củng cố sự bất bình đẳng xã hội và không quan tâm nhiều đến chính sách xã hội, bảo đàm đời sổng cho người dân Đây cũng là nguyên nhân pháp luật dân sự ít được đề cập đến ở triều vua Gia Long, là sự thiếu sót ban đầu trong chính sách dân luật nhất là pháp luật hôn nhân gia đình của thời nhà Nguyễn Vương triều Nguyễn dù ban hành nhiều chính sách khẩn hoang tích cực, kể cả một sổ chính sách giảm nhẹ tô thuế, nhưng xã hội thời Nguyễn không ổn định Gần như trong suốt thời Nguyễn, khởi nghĩa nông dân nổ ra triền miên và triều Nguyễn không thể nào giải quyết nổi Từ triều Tự Đức (1848- 1883), vương triều Nguyễn càng ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập làm cho thế nước ngày càng suy yểu và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lược cúa thực dân Pháp Những vấn đề chính trị - xã hội xét cả trên phương diện thành tựu và hạn chế đều là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá khách quan về nền pháp luật (nhất là pháp luật hôn nhân gia đình) thời kỳ nhà Nguyễn
về bộ HVLL dưới triều vua Gia Long
HVLL là một trong hai bộ luật lớn nhất của Việt Nam, cũng là bộ luật hoàn chỉnh nhất xét trên phương diện lập pháp Nhà Nguyễn, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long liền lệnh cho biên soạn một bộ luật nhằm làm công cụ cho công cuộc trị nước lâu dài
19
Trang 24Sau khi lên ngôi năm 1802, vua Gia Long đã ra Chỉ Dụ cho các quan đại thần tham chước lại luật Hồng Đức và luật Đại Thanh để soạn một bột luật• • • • • • • • • thích hợp Năm 1812, bộ HVLL (còn gọi là Bộ luật Gia Long) được ban hành
và năm 1815 được in thành sách để phân phát cho các quan cai trị
HVLL là sản phẩm lập pháp dưới triều Gia Long - triều đại đầu tiên của vương triều Nguyễn - ra đời trong bối cảnh chính trị hết sức phức tạp Trong những năm đầu nắm quyền thống trị, đất nước không ổn định sau thời gian nội chiến kéo dài, mối quan hệ nặng về thù hận với những người lãnh đạo của phong trào Tây Sơn nhất là nghĩa quân Tây Sơn vân còn rải rác trong nhân dân, phạm vi biên giới mở rộng không tránh khỏi sự dòm ngó của phong kiến phương Bắc, sự tác động mạnh mẽ của Chủ Nghĩa Tư Bản phương Tây Chính trong hoàn cảnh chính trị đặc biệt này nên HVLL tất nhiên ra đời nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt của xã hội đương thời nên nặng về hình luật Tình hình đất nước chưa ổn định nên vua Gia Long chưa thế tập trung đến các quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình mà chỉ đặc biệt chủ
ý đến vấn đề thuế ruộng, thuế thân Như vậy, sẽ là khập khiễng khi các nhà nghiên cứu đặt HVLL (ra đời trong bối cảnh chính trị - xã hội đang nhiều biến động) của triều Nguyễn để so sánh với QTHL (ra đời trong giai đoạn thịnh vượng của nhà nước phong kiến) dưới triều Lê sơ Đây cũng là nguyên nhân khiến cho ban đầu dưới triều Nguyễn, trong HVLL còn nhiều thiếu sót về mặt pháp luật nhất là thiếu sót về các chế định dân luật và hôn nhân gia đình
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL
1.2.1 Khái niệm chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL
Hôn nhân và gia đình - đó là những hiện tượng xã hội mà luôn luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học nghiên cứu Hôn nhân
là cơ sở của gia đình, còn gia đinh là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mồi công dân, Nhà nước và xã hội
20
Trang 25C.Mác và Ph.Angghen đã chứng minh một cách khoa học răng hôn nhân
và gia đình là những phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế -
xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” (1884) Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó và bước chuyển từ hình thái gia đình này lên một hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được quyết định bởi những thay đổi trong điều kiện vật chất của đời sống xã hội
Trước hết, hôn nhân là hiện tượng xã hội - là sự liên kết giữa đàn ông
và đàn bà Trong xã hội có giai cấp hôn nhân mang tính giai cấp Mồi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, phục vụ cho lợi ích giai cấp của mình Ở xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó, và tương ứng với nó là chế độ hôn nhân nhất định Ớ xã hội phong kiến có hôn nhân phong kiến, ở xã hội tư bản có hôn nhân tư sản, ở xã hội chù nghĩa có hôn nhân xã hội chữ nghĩa
Khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân Hôn nhân là mối quan hệ giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, là tiền đề để xây dựng gia đình
Xã hội loại người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Các điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định phản ánh tính chất gia đình Do vậy, gia đình là hình ảnh thu hẹp của xã hội,
là tế bào của xã hội Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có tính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Hạt nhân của xã hội là gia đình” Nếu con người xét đến cùng là sản phẩm của xã hội thì trước hết con người được sinh ra, nuôi dạy và lớn lên trong một gia đình Chính những thói quen
21
Trang 26ứng xử trong sinh hoạt hàng ngày và trong các môi quan hệ xã hội khác đã tác động tới nhận thức và hình thành nhân cách của thành viên trong gia đình.
Trên bình diện pháp lý, khái niệm gia đình tức là các quan hệ giữa các thành viên trong gia đình (trong đó bao gồm các nghĩa vụ và quyền cuả mồi bên) Mồi mối quan hệ đều gồm có các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản Gia đình trong chế độ phong kiến là gia đình gia trưởng phụ hệ, ớ đó quyền định đoạt tài sản gia đình thuộc về người gia trưởng (chồng, cha, mẹ) còn các thành viên khác (người vợ, con cái) khi còn đang ờ chung với cha mẹ, đều không có quyền này, bất kể họ còn là con đẻ hay đã trưởng thành Đó là tập quán lâu đời, bền vững và hầu như không được quy định trong luật pháp
Chế định hôn nhân gia đình theo góc độ pháp lý bao gồm tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội về hôn nhân gia đình, thể hiện bản chất chính trị xã hội của quốc gia trong việc thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân gia đình Trong QTHL triều Lê sơ và HVLL triều Nguyễn chưa có khái niệm cụ thể về chế định hôn nhân gia đình Tuy nhiên, ta có thể hiểu, pháp luật hôn nhân và gia đình thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn là hệ thống những quy tắc xử sự do nhà nước của thời kỳ này ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chình các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
1.2.2 Đặc điểm của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL
Như đã phân tích ở phần trên, chế định hôn nhân gia đình được hiểu là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Nó là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình
Tuy nhiên ở Việt Nam trong các triều đại phong kiến, chế định hôn nhân gia đình được hình thành dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến Các quy định về hôn nhân và gia đình dưới thời Lê, thời Nguyễn nhằm mục đích
22
Trang 27duy trì, bảo vệ truyên thông chê độ gia đình phụ quyên và hiêu nghĩa của con cháu trong dòng tộc Vì vậy, pháp luật về hôn nhân và gia đình thời kỳ nhà Lê và nhà Nguyễn được thể hiện qua QTHL và HVLL có những đặc điểm riêng biệt sau:
ữ Chịu sự chi phối sâu sắc của hệ tư tưởng Nho giáo
Tư tưởng chính trị Nho giáo được đề cao trong xã hội phong kiến Việt Nam là tư tưởng chính trị phong kiến, nhằm mục đích thiết lập trật tự gia đình
và xã hội phong kiến Theo quan niệm của Khổng Tử, gia đình từ ngàn xưa đã được coi là nền tăng của xã hội Gia đình vững mạnh, nền tảng xã tắc mới ổn định Vì vậy, sự quy định về gia đình liên quan mật thiết đến quyền lợi của Quốc gia Trong giáo lý của Khổng Từ, luân lý gia đình là chủ đề chính Theo Khống Tử, con người có năm mối quan hệ cơ bản nhất đó là: quân thần (vua - tôi), phụ tử (cha - con), phu phụ (vợ - chồng), huynh đệ (anh - em), bằng hữu (bạn - bè), trong đó có ba mối quan hệ gắn trực tiếp đến gia đình Do đó, trật
tự xã hội phong kiến lấy gia đình làm trung tâm (đạo tề) Các quy tắc xử sự mang tính pháp lý nhằm xác lập và bảo vệ trật tự gia đình phong kiến rất được chú trọng, những vi phạm đạo đức, lễ nghi nho giáo trong lĩnh vực hôn nhân gia đình bị trừng phạt rất nặng
Xuất phát từ quan niệm hôn nhân tạo lập gia đình, và gia đình là nền tảng của xã hội, cho nên trong QTHL cũng như trong HVLL đều dành hẳn một chương quy định về hôn nhân và gia đình
QTHL quy định các điều luật về Hôn nhân gia đình trong quyển Ill chương V: Hộ hôn, gồm có 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân - gia đình và các tội phạm trong lĩnh vực này HVLL cũng dành hẳn một chương Hôn nhân gồm 16 điều luật và 17 điều lệ đi kèm quy định về hôn nhân và gia đình Mục đích của việc điều chỉnh vấn đề hôn nhân và gia đình này là nham bảo vệ chế độ tông pháp nho giáo Những chuấn mực đạo đức ấy
23
Trang 28tập trung vào các môi quan hệ cơ bản vê kêt hôn, li hôn, quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái nhằm bảo vệ chế độ tông pháp và cũng là bảo vệ thuần phong mĩ tục của dân tộc theo quan điểm của giai cấp thống trị.
QTHL và HVLL đều cho phép người trong gia đình được che chờ lẫn nhau, con cái có nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà cha mẹ Nếu con cháu
mà rủa mắng ông bà cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy bảo thì bị khép vào tội bất hiếu tức là phạm vào thập ác - đó là đạo hiếu truyền thống của người việt Điều 506 QTHL quy định: “Con cháu trái lời dạy bảo, và không phụng dưỡng
bề trên, mà bị ông bà cha mẹ trình lên quan, thì xử tội đồ làm khao đinh, con nuôi, con kế tự mà thất hiếu với cha nuôi, cha kế thì xử giảm tội trên một bậc” Theo Điều 475, dù ông bà cha mẹ không thưa quan nhưng nếu con cháu lăng mạ ông bà cha mẹ thì xử tội lưu ngoài châu thành đánh thì xử lưu châu
xa, đánh bị thương thì xử tội giảo Điều 307 HVLL cũng quy định: “Nếu phụng dưỡng mà cố ý làm thiếu sót xử phạt 100 trượng lưu 3000 dặm”
Trong cả hai bộ luật, các quy tắc ứng xử theo lễ nghi Nho giáo được pháp luật xác nhận, bảo vệ và mang tính pháp định Trên cơ sở các nguyên tắc
xử sự đó, hình phạt (nghiêm khắc) được xác định tương ứng với các vi phạm
Vì vậy, pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định trong QTHL và HVLL đều được trình bày dưới dạng các quy phạm pháp luật hình sự
b Hôn nhân không tự do
Ngày nay, chủng ta đánh giá hôn nhân trong chế độ phong kiến là hôn nhân không có tự do Đó là chúng ta đứng về phía hai bên nam nữ, với quan niệm đề cao và bảo vệ “cái tôi cá nhân” để đánh giá Hôn nhân hiện đại có (và cần có) sự ưng thuận của hai bên nam nữ Tuy nhiên, lễ nghi nho giáo lại quy định rất chặt chẽ điều kiện bắt buộc phải có sự ưng thuận của các bậc tôn trưởng trong việc giao kết hôn nhân Hôn nhân nhất thiết phải có được
24
Trang 29sự ưng thuận của hai bên, nhưng là hai bên gia đình chứ không phải hai bên nam nữ (đối ngẫu).
Theo quan niệm nho giáo thì hôn nhân là sự kết hợp giữa hai dòng họ,
mà mục đích quan trọng nhất của nó là nhằm đáp ứng các quyền lợi lâu dài của dòng họ thông qua việc sinh con cái để duy trì dòng giống, lưu truyền việc thờ phụng tổ tiên Chính vì vậy mà các cuộc hôn nhân thường do cha mẹ hoặc các bậc bề trên lớn tuổi trong dòng họ sắp đặt, không chú ý đến sự lựa chọn, ưng thuận của hai bên nam nữ Do vậy pháp luật phong kiến quy định rằng chỉ có hôn nhân do cha mẹ sắp đặt mới có giá trị Các bộ QTHL và HVLL đều quy định việc kết hôn chỉ được thực hiện khi có cha mẹ hoặc mộtA e/ • • ••• • • •
người tôn thuộc đứng đầu làm chủ hôn Tuy nhiên pháp luật cũng có quy định hai trường hợp biệt lệ có chú trọng đến sự ưng thuận của hai bên kết hôn: đó
là trường hợp việc kết hôn do hai bên nam nừ quyết định vì họ chỉ còn bà con
xa hoặc trong trường hợp họ ở xa nhà
c Giao ước kết hôn
Điềm khác biệt giữa hình thức pháp lý của hôn nhân dưới chế độ phong kiến so với hiện nay là lễ hỏi và lễ cưới là hình thức tố chức cưới gả được thừa nhận Việc cưới hỏi hoàn toàn do tôn trưởng quyết định Tuy nhiên, một đặc thù có liên quan đến giá trị pháp lý của hôn nhân là sự đính hôn (hứa gả) Theo chế độ gia trưởng, hứa gă là sự ưng thuận của cha mẹ, các bậc tôn trưởng Hứa gả có tính chất trói buộc đôi bên Theo quan niệm nho giáo, pháp luật đặc biệt coi trọng chừ tín, do đó việc bội ước, bội hôn bị coi là hành vi phạm pháp Cụ thể: Neu nhà trai đã nạp sính lễ rồi mà không làm lễ cưới nữa thì phải phạt 80 trượng và mất đồ sính lễ; nếu nhà gái hối hôn, đổi ý không muốn gả nữa thì phạt 80 trượng (Điều 315 QTHL)
d Duy trì và bảo vệ chế độ đa thê
Đe duy trì sự thịnh vượng cùa gia đình nên pháp luật phong kiến khuyến
25
Trang 30khích chê độ đa thê đê gia đình có nhiêu con cháu QTHL và HVLL đêu quy định về thứ bậc thê thiếp, nếu ai làm trái đều bị xử phạt Thứ bậc ấy được xác lập giữa người vợ cả (chính thất), vợ lẽ (thứ thất) và nàng hầu (thiếp) Mặc dù khuyến khích chế độ đa thê song mồi người đàn ông chỉ có quyền lấy một vợ
cả, những người lấy sau chỉ được làm vợ lẽ hoặc thiếp Trừ trường hợp vợ cả chết thì mới được lấy vợ khác làm vợ chính, gọi là kế thất Nếu vợ cả còn sống mà lấy vợ khác làm chính thất thì hôn nhân bị coi là vô hiệu Trật tự giữa vợ cả, vợ lẽ với nàng hầu là không thể thay đối Điều này không những được điều chinh bằng pháp luật mà còn điều chỉnh bằng cả phong tục, tập quán Đây là biện pháp để giữ vững kỷ cương, trật tự gia đình, nền tàng vừng chắc để duy trì sự hòa thuận trong gia đình
1.2.3 Vai trò của chế định hôn nhãn gia đình trong QTHL và HVLL
Pháp luật là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội Các
bộ luật của nhà nước phong kiến ra đời trên cơ sở kinh tế và kết cấu giai tầng cùa xã hội này Vì thế:
Là công cụ trong tay giai cấp phong kiến thống trị, pháp luật là ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến được nâng lên thành luật pháp
mà nội dung của ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp phong kiến Pháp luật phong kiến là phương tiện
để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến mà trước hết là bảo vệ quan hệ sản xuất phong kiến [19, tr.242]
QTHL và HVLL là hai bộ luật phong kiến nên điều hiển nhiên nó là bộ luật bảo vệ chế độ phong kiến Nói tới luật pháp phong kiến trước hết phải nói tới vai trò tuyệt đối của Hoàng đế Điều này cũng được thể hiện rõ ở chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL
Cụ thể: QTHL và HVLL bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyền và các nguyên tắc đạo đức phong kiến, củng cổ trật tự xã hội, củng cố cơ sở xã hội cho chế
26
Trang 31độ phong kiên tôn tại và phát triên Trên cơ sở đê cao hệ tư tưởng Nho giáo, hai bộ luật này đã mặc nhiên thừa nhận những quyền và nghĩa vụ vợ chồng do Nho giáo và tục lệ đặt ra nhằm mục đích bảo vệ tuyệt đối chế độ gia tộc phụ quyền Bao gồm: thiên về quyền lợi pháp lý người chồng, bảo vệ về quyền lợi của người chồng với tư cách người gia trưởng Đồng thời, quy định khắt khe
về nghĩa vụ của người vợ như: Nghĩa vụ chung sống (đồng cư); nghĩa vụ tòng phu; nghĩa vụ chung thủy; nghĩa vụ đế tang Người vợ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chăm sóc các thành viên trong gia đình chồng Neu người vợ không thực hiện đúng sẽ bị pháp luật trừng trị bằng nhiều hình phạt khắt khe như bị li dị, xử tội lưu đày, giảo hình nặng nề (Quy định cụ thể tại các Điều luật: Điều 144-146 (thất xuất); 321; 331; 401; 476; 481 QTHL
và Điều 108; 284; 289; 290; 332, Khoản 9 Điều 2 HVLL) Rỗ ràng, gia đình phụ quyền gia trưởng - hạt nhân, nền tảng của xã hội phong kiến, được nhà nước bảo vệ với nhiều đặc quyền của người đàn ông Thực chất đây cũng chính là một phương thức để củng cố chế độ phong kiến tập quyền ngày càng cao của nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn
27
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tại chương 1, tác giả đã nghiên cứu chê định hôn nhân gia đình trong QTHL thời Hậu Lê và HVLL thời Nguyễn Trong đó, tác giả đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề từ góc độ nhận diện lịch sử, đó là tìm hiểu và làm rõ bối cảnh xã hội Việt Nam thời Hậu Lê và thời Nguyễn; nghiên cứu và đánh giá điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật thời kỳ nhà Lê sơ và nhà Nguyễn có ảnh hưởng và tác động như thế nào đến sự ra đời của QTHL và HVLL Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu và đưa ra khái niệm chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL Đồng thời, tác giả chỉ ra những đặc điểm của chế định hôn nhân gia đình trong ỌTHL và HVLL, đó là những đặc điểm được hình thành trong điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội thời kỳ đó Qua
đó, chỉ ra vai trò của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL đối với xã hội Việt Nam thời Hậu Lê và thời Nguyễn
28
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG Cơ BẢN CỦA CHẾ ĐỊNH HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT TRIỀU HẬU LÊ VÀ HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ TRIỀU NGUYỀN: so SÁNH VÀ ĐÁNH GIÁ• • •
2.1 Những nội dung cơ băn của chế định hôn nhân gia đình trong QTHL triều Hậu Lê và HVLL triều Nguyễn
cá nhân của hai bên nam nữ Cả hai Bộ QTHL và HVLL đều quy định việc kết hôn chỉ được thực hiện khi có cha mẹ hoặc một người tôn thuộc đứng đầu làm chủ hôn Tuy nhiên, HVLL có quy định 2 trường hợp biệt lệ có chú trọng đến
sự ưng thuận của hai bên kết hôn: đó là trường hợp kết hôn do hai bên nam nữ quyết định vì họ chỉ còn bà con xa hoặc trong trường hợp họ ở xa nhà
Mặc dù không dùng từ chủ hôn nhưng trong Điều 314 QTHL có quy định được hiểu rằng việc kết hôn nhất thiết phải được sự đồng ý của hai bên cha mẹ, nếu cha mẹ đã chết cả thì phải được sự đồng ý của bậc thân thuộc bề trên hoặc của trưởng làng, có thể coi đây là điều kiện cơ bản nhất, loại trừ hẳn quyền kết hôn tự do của hai đương sự
Lệ 1 Điều 94 HVLL cũng có quy định: “Cưới gả đều do ông hà, cha
mẹ làm chủ hôn Neu không có ông bà, cha mẹ thì do những người thân thuộc khác làm chủ hôn Con gái đã đến tuổi lấy chồng mà cha đã chết thời mẹ làm chủ hôn” [36, tr.427].
29
Trang 34b) Việc kết hôn không được vi phạm những điều mà pháp luật cấm Pháp luật quy định các trường hợp sau không được phép kết hôn
Vê nội dung này, quy định của QTHL và HVLL vê cơ bản có cùng quan điếm Việc cấm kết hôn trong pháp luật nhà Lê và nhà Nguyễn được quy định xuất phát từ nhiều lý do khác nhau: vì luân thường đạo lý, thuần phong
mỹ tục, vì sức khỏe nòi giống, vì lý do chính trị, Cụ thể như sau:
- Cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hoặc tang chồng (Điều 317 QTHL và Điều 98 HVLL) Sự cấm đoán này xuất phát từ việc đề cao đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ và chữ “tiết” của vợ đối với chồng So với quy định trong QTHL thì HVLL quy định rộng hơn về đối tượng được để tang QTHL chỉ cấm cử hành hôn lễ trong thời kì cư tang cha mẹ và tang chồng, còn HVLL quy định cà đối với tang của ông bà, chú bác, cô dì hay anh em ruột Tuy nhiên, về phần chế tài thì QTHL khắt khe hơn khi bắt buộc chấm dứt hôn nhân còn HVLL hôn nhân vẫn được chấp nhận sau khi chịu chế tài
- Cấm kết hôn khi ông bà, cha mẹ bị giam cầm, tù tội (Điều 318 QTHL
và Điều 99 HVLL) Tuy nhiên, sự cấm đoán này không tuyệt đối, bời vi nếu được sự cho phép của chính bản thân người đang bị giam câm thì việc kêt hôn
có thể được tiến hành, nhưng không được tổ chức linh đình Chế tài trong trường hợp không được sự đồng ý của ông bà cha mẹ thì HVLL mềm dẻo hơn QTHL: đó là không mang tính chất tuyệt đối bất buộc phải ly dị
- Cấm kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích
Đe bảo vệ tôn ty thứ bậc trong dòng họ, Pháp luật nhà Lê sơ và nhà Nguyễn đều quy định cấm kết hôn giữa những người có họ hàng với nhau Điều
319 QTHL quy định: "Người vô loại lấy cô, dì, chị em gái, kế nữ [con riêng của
vợ], người thân thích đều phỏng theo luật gian dâm mà trị tội’’ [37, tr.122] Ớ
đây có thế hiểu là tất cả mọi người trong cùng một họ, tức là cùng thờ chung một ông tổ, dù quan hệ huyết thống xa hay gần, kể cả những người ngoài phạm vi để tang, đều không được kết hôn với nhau
30
Trang 35Điêu câm này HVLL quy định chi tiêt hơn QTHL: không những quy định cấm kết hôn giữa những người cùng họ và cùng chung một ông tổ, kể cả giữa những người trong họ bậc trên và bậc dưới, cấm lấy vợ cả và vợ lẽ của
bà con làm vợ mình (Điều 100, Điều 101, Điều 102) Nếu kết hôn thuộc một trong 3 trường hợp trên thì bắt buộc ly dị và phải chịu chế tài Ví dụ trường hợp lấy người cùng họ đồng tông: “Phàm cưới người cùng dòng họ thì chủ
hôn và trai gái, mỗi người bị phạt 60 trượng, bắt phải ly dị, phụ nữ đưa về tông tộc, tiền cưới cho quan’’ [36, tr.434] Ngoài mục đích giữ gìn sự ồn định
trong gia đình, quy định này cũng xuất phát từ việc nhận thức được hậu quả của hành vi giao cấu giữa những người có quan hệ huyết thống, những đứa trẻ sinh ra thường bị dị tật hoặc thiếu năng lực nhận thức
Ngoài các quy định về cấm kết hôn nói trên, trong QTHL còn quy định một số trường hợp khác không được kết hôn khi việc kết hôn đó có thể gây ảnh hưởng tới vương quyền, trật tự đẳng cấp xã hội, xâm phạm những nguyên tắc đạo đức chính yếu trong xã hội đó là:
- Cấm anh lấy vợ góa của em, em lấy vợ góa của anh, trò lấy vợ góa của thầy Neu phạm phải đều xử tội lưu, người đàn bà bị xử giảm một bậc và phải ly dị (Điều 324 QTHL)
- Cấm quan lại lấy con gái địa phương mà mình đương chức, nếu vi phạm bị xử phạt 70 trượng, biếm ba tư và cách chức (Điều 316) Đe ngăn ngừa sự lạm dụng quyền thế cưỡng hôn, Điều 316 QTHL đã quy định: “Các
quan ty ở trấn ngoài mà lẩy đàn bà con gái ở trong hạt mình, thì xử phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức ” [37, tr 122J.
- Cấm con của quan trấn giữ biên ải kết hôn với con của tù trưởng địa phương (Điều 334) Điều cấm này nhằm ngăn ngừa sự cấu kết giữa quan trấn thủ với tù trưởng địa phương để gây uy thế, phản loạn
- Người vợ có sự ảnh hưởng đến sự thịnh suy, đến danh dự, uy tín, địa
31
Trang 36vị của gia đình nên đòi hỏi người vợ phải có tư cách đạo đức phù họp với giáo
lý đạo Nho đó là công, dung, ngôn, hạnh Vì vậy không phải bất cứ người phụ
nữ nào cũng có thể được lấy làm vợ Điều 339 QTHL quy định những người đàn bà có tội đang trốn tránh mà che giấu để được làm vợ cả, vợ lẽ thì bị xử tội, người mối lái thì bị xử nhẹ hơn một bậc Luật cũng cấm lấy đàn bà con gái hát xướng làm vợ Điều 323 cấm các quan lại và thuộc lại lấy đàn bà, con gái hát xướng làm vợ, dù là vợ cả hay vợ lẽ đều không được, nếu lấy phải ly
dị và bị phạt 70 trượng, biếm ba tư Thậm chí, con cháu của quan lại mà lấy những người đàn bà này cũng không được, bị phạt 60 trượng và đều phải ly
dị Nhà nước và pháp luật phong kiến đòi hói quan lại phải gương mẫu, phải lựa chọn người vợ xứng đáng theo tiêu chuẩn đạo đức Nho giáo đế có đủ tư cách giáo hóa và làm gương cho dân chúng trong việc xây dựng nền tảng gia đình vững chắc
- Cấm các quyền thế ức hiếp để lấy con cái kẻ lương dân (Điều 338) Điều 338 QTHL quy định: “Những nhà quyền thế mà ức hiếp đê lấy con
gái kẻ lương dân, thì xử tội phạt, biếm hay đồ” [37, tr 127], Quy định này
đã thể hiện tư tưởng nhân đạo của pháp luật nhà Lê, một mặt bảo vệ người dân lành yếu thế, một mặt mang tính răn đe sự hống hách ngang ngược của những nhà quyền thế
Bên cạnh đó, HVLL cũng quy định rất chặt chẽ và cụ thể:
- Cấm quan cưới phụ nữ bộ dân làm thê thiếp (Điều 103 HVLL) nếu vi phạm hai bên sẽ phải ly dị và chịu hình phạt Quy định này thể hiện sự phân biệt đẳng cấp xã hội trong việc ngăn cấm quan lại có quan hệ với thường dân Bên cạnh đó làm tránh sự lạm dụng quyền thế của các quan cưỡng ép lấy con gái nhà lành hoặc gia đình nhà gái lợi dụng hôn nhân chi phối quan quyền
- Cấm nô tì lấy dân tự do (Điều 107 HVLL) Dưới thời Nguyễn việc phân biệt các tầng lớp xã hội để thể hiện quan điểm đẳng cấp được thể hiện rõ
32
Trang 37thông qua các quy định pháp luật Việc ngăn cản nô tỳ lây dân tự do đã phân nào thể hiện tư tưởng đó.
- Cấm sư nam, đạo sĩ kết hôn (Điều 106 HVLL) Theo quan niệm Nho giáo, người theo đạo lấy vợ thì không còn giữ được giới luật, không còn xứng đáng làm tăng đạo nên buộc phải hồi tục Người con gái đã lấy họ sau khi ly
dị thì về với cha mẹ, tiền cưới sẽ phải nộp vào quan
- Cưỡng chiếm vợ con lương dân (Điều 105 HVLL) Quy định này một mặt trừng phạt sự hống hách, ngang ngược, ỷ thế cùa những gia đình giàu, có quyền lực, mặt khác bênh vực những người dân lành yếu thế bị ức hiếp Từ đỏ thể hiện tư tưởng nhân đạo của pháp luật nhà Nguyễn
- Cấm cưới phụ nữ phạm tội chạy trốn (Điều 104 HVLL) Vì sự tôn nghiêm của luật pháp, nhà làm luật đặt ra các chế tài thích đáng đối với những
ai biết phụ nữ phạm tội chạy trốn mà vẫn kết hôn với người phụ nữ đó Việc cưới phụ nữ phạm tội chạy trốn là trái luật nên phải ly dị và chịu các chế tài Đối với những người phụ nữ phạm vào tội có hình phạt chết mà kết hôn, nhà trai sẽ được giảm một bực so với tội chết, còn như người phụ nữ có hình phạt khác thì nhà trai sẽ bị xử theo tội của người phụ nữ đã phạm lúc chạy trốn, người phụ nữ sẽ chịu hình phạt nặng hơn
- Cấm lừa dối trong hôn nhân (Điều 94, 95 HVLL): Nhà gái lừa dối trong hôn nhân chủ nhân bị phạt 80 trượng Neu nhà trai lừa dối tội tăng thêm
1 bậc phạt 90 trượng, nhà gái không phải trả lễ vật Đã thành hôn rồi thì cho li
dị (Các trường hợp như mạo con nuôi thành con đẻ, mạo trá con tật nguyền, mạo trá anh chị em, chồng đem thê thiếp mạo nhận làm chị, em cho người khác làm thê thiếp )
- Cấm mệnh phụ phu nhân cải giá (Điều 98 HVLL) Tuy đã hết tang chồng nhưng những người phụ nữ được vua ban giấy khen phong làm
“Mệnh phụ phu nhân” mà tái giá thì xử tội như đàn bà đang cư tang chồng
mà lại đi lấy chồng
33
Trang 38c) Nam nữ kêt hôn phải đên độ tuôỉ nhât địnhTuy trong hai Bộ luật không quy định rõ về độ tuồi mà pháp luật cho phép hai bên nam nữ kết hôn, nhưng trong văn bản khác cùng thời quy định
về điều kiện này, là Hồng Đức hôn giá lễ nghi có quy định rõ: “Con trai từ 18 tuổi, con gái từ 16 tuồi trở lên mới có thể thành hôn” Đây là một quy định vừa nhằm thỏa mãn được nhu cầu sớm có người chăm sóc cha mẹ, thờ phụng
tồ tiên, vừa tránh tệ nạn tảo hôn thường thấy ờ thời phong kiến lúc bấy giờ Điều 94 HVLL có quy định “Việc hôn nhân của nam nữ có tuổi đã định” nhưng không ghi rõ giá thú được bao nhiêu Trong các lời chú thích Điều 94 các nhà làm luật triều Nguyễn cũng không đề cập đến vấn đề này
Ngoài các trường hợp kết hôn bị vô hiệu nói trên, HVLL còn có quy định về trường hợp tráo hôn hay võng mạc (bị lừa dối) Đây là điếm mới, tiến
bộ của HVLL so với QTHL Điều 94 HVLL quy định người con gái bị tàn tật
mà nhà gái bảo chị hay em ra để nhà trai xem mặt thay và khi cưới lại gả người tàn tật thì gọi là võng mạo và bị phạt tăng một bậc Trong trường hợp việc kết hôn chưa thành thì các bên phải thực hiện đúng như hôn thú hoặc tư ước, nếu việc kết hôn đã thành thì phải ly dị Như vậy, nếu xét về sự nhầm lẫn hoặc bị lừa dối trong việc kết hôn thì luật pháp chỉ xét theo sự ưng thuận của hai bên kết hôn, điều này cũng cho thấy rõ pháp luật chú trọng đến quyền lợi của gia đinh hơn là quyền lợi của hai bên kết hôn
Trong các trường hợp hôn nhân vi phạm một trong các điều cấm trên đây thì hai bên kết hôn buộc phải ly dị và phải chịu những hình phạt nhất định tùy từng trường hợp cụ thể
Trang 39gái, tức là phải có sự hứa hôn của hai họ, việc nạp sính lễ mang tính chất long trọng, cùng với sự cáo tổ trước từ đường hai họ, là bằng chứng công khai và chắc chấn cho việc hứa hôn Thời Lê sơ thì sính lễ ngoài tiền ra có thể bằng lụa, vàng bạc hay lợn, rượu (Điều 315 QTHL).
Khác với quy định trong QTHL, HVLL quy định sau lễ đính hôn phải
có “Hôn thư” hoặc đã trao nhận sính lễ thì hôn nhân mới có giá trị về pháp luật Hôn thư là văn bản có ký nhận rõ ràng của người chủ hôn hai gia đình Còn sính lễ phải là một số tiền, tùy thuộc vào gia cảnh mà gia đình nhà trai trao cho nhà gái khi hỏi cưới (Điều 94 HVLL)
Theo quan niệm nho giáo, pháp luật đặc biệt coi trọng chữ tín, do đó việc bội ước, bội hôn bị coi là hành vi phạm pháp Cả hai bộ luật QTHL và Hoàng Việt luật lễ đều có chế tài rõ ràng với việc vi phạm giao ước đình hôn:
Điều 315 QTHL quy định nếu nhà trai đã nạp sính lễ rồi mà không làm
lễ cưới nữa thì phải phạt 80 trượng và mất đồ sính lễ; nếu nhà gái hối hôn, đổi
ý không muốn gả nữa thì phải phạt 80 trượng Tuy nhiên, Điều 322 QTHL quy định sự đính hôn sẽ bị tiêu húy nếu một trong hai bên nam nữ sắp cưới bị
ác tật hoặc phạm tội, vì theo Nho giáo thì người bị ác tật (Bị bệnh phong) thì không thể thừa hành việc phụng tự dòng họ, còn người phạm tội thì không xứng đáng làm chủ gia đình, do vậy pháp luật cho phép bên kia được từ hôn
Điều 94 HVLL quy định sau khi đã đính hôn mà nhà gái hoặc nhà trai đối ý không gả nữa thì người chủ hôn bị phạt 50 roi, nếu hứa gả cho người thứ
ba thì phạt 70 trượng, đã thành hôn với người này rồi thì phạt 80 trượng Nhưng việc giải quyết các mối quan hệ sau đó thì không hoàn toàn giống nhau:
Đối với việc bãi hứa của nhà gái, dù chưa hay đã thành hôn với người thứ ba thì đều phải đưa về chồng trước Neu người chồng trước không ưng thuận thì truy thu gấp đôi số tiền lễ lạt trà lại, còn người con gái cho lấy chồng sau Neu đã biết rõ sự tình thì người chủ hôn của gia đình người thứ ba cũng
35
Trang 40bị phạt giống như chủ hôn nhà gái, sính lễ bị đem sung công, nếu không biết thì không có tội.
Đối với sự bãi hôn của nhà trai thì có phần khác Chưa thành hôn thi phải lấy người con gái trước, người con gái hởi sau cho lấy chồng khác; Không truy thu tiền lễ lạt
Ngoài ra HVLL còn quy định thêm về hai chế tài: “Chế tài về ép cưới của nhà trai và trì hoãn cưới của nhà gái” và “Chế tài về trì hoãn cưới của nhà trai” Cụ thể:
Điều 94 quy định: “Trường hợp đáng được kết hôn, tuy đã nộp đủ sính
lề nhưng kì hạn chưa đến mà bên nhà trai cưỡng bức cưới xin hoặc đến kì hạn rồi mà bên gái co tình trì hoãn thì (người chủ hôn bên trai và bên gái) đều bị xử phạt 50 roi” [36, tr.425] Hôn nhân là chuyện hệ trọng của hai gia
đình Việc nhận lời hứa gả con cháu, kết thành thông gia không giống với những lời nói giao tiếp bình thường Khi đã giao ước hôn nhân, hai gia đình luôn phải giữ chữ tín với nhau Bới vậy nhà làm luật thời Nguyễn đã đặt ra chế tài đối với hành vi ép cưới của nhà trai khi chưa đến ngày cưới đã định và hành
vi trì hoãn cưới của nhà gái Trong QTHL của nhà Lê không có quy định này
Chế tài về việc trì hoãn cưới của nhà trai được quy định tại Điều 108 lệ 2: “Kì ước đã đến năm năm không có lỗi lầm gì mà lại không cưới thì cho
phép trình bảo lên quan ti chiêu theo luật lệ cho cái giả, cũng không bắt truy hồi tiền của sính lễ” [36, tr.448] Chế tài này nhằm bảo vệ quyền lợi “Xuân
thì” của người con gái, nhà làm luật đã quy định thời hạn tối đa giữa lễ đính hôn và lễ thành hôn là 5 năm
Bên cạnh đó, HVLL còn quy định 2 trường hợp làm châm dứt hiệu lực đính hôn Trường hợp thứ nhất, một trong hai người đã hứa hôn mà lại đi gian dâm với người khác hoặc trộm cướp thì người còn lại được quyền đổi ý Điều
94 quy định: “Neu như trai gái chưa làm lễ thành hôn mà phạm tội gian dâm,
36