Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.3. Ảnh hưởng của CSKC đến đổi mới công nghệ của cơ sở CNNT trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
4.3.2. Tiếp cận CSKC của các cơ sở CNNT
Tất cả các cơ sở CNNT tham gia khảo sát đều có biết CSKC của tỉnh Đồng Tháp. Kênh tiếp nhận thông tin về chính sách chủ yếu là Hội nghị, báo đài cho cả nhóm tham gia và nhóm so sánh. Tuy nhiên, nhóm tham gia nhận được thông tin về CSKC ở kênh “Cán bộ nhà nước” nhiều hơn so với nhóm so sánh. Ngược lại, kênh truyền miệng giúp thông tin về chính sách đến nhóm so sánh tốt hơn so với nhóm tham gia (Hình 4.2).
Hình 4.2: Kênh tiếp cận CSKC
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
Nhìn chung, thời gian để thông tin về CSKC đến được các cơ sở CNNT là bình thường, chỉ có 26,0% cơ sở CNNT thuộc nhóm tham gia và 20,0% cơ sở CNNT thuộc nhóm so sánh cho rằng đến chậm. Đa số các cơ sở CNNT đều cho rằng thời gian để biết về thông tin chính sách ở mức bình thường hoặc nhanh, tỷ lệ
số lượng cơ sở CNNT chậm tiếp nhận thông tin về CSKC là ít (Hình 4.3).
Hình 4.3: Thời gian tiếp cận chính sách của các cơ sở CNNT Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
Kết quả khảo sát cho thấy, các cơ sở CNNT mất “rất ít” hoặc “ít” chi phí để tiếp cận được CSKC, không có có cơ sở CNNT nào phải mất chi phí ở mức “nhiều”
hoặc “rất nhiều” (Hình 4.4).
Hình 4.4: Chi phí tiếp cận chính sách của các cơ sở CNNT Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
Đánh giá của các cơ sở CNNT về mức độ khó khăn đối với đối tượng và thủ tục được nhận hỗ trợ từ CSKC của tỉnh Đồng Tháp: Có 31,0% cơ sở CNNT cho rằng gặp khó khăn đối với đối tượng hỗ trợ và 36,0% gặp khó khăn đối với thủ tục hỗ trợ. Số lượng cơ sở CNNT cho rằng không có khó khăn về đối tượng hỗ trợ và
thủ tục hỗ trợ lần lượt là 69,0% và 64,0% (Hình 4.5).
Hình 4.5: Đánh giá của cơ sở CNNT về đối tượng và thủ tục được nhận hỗ trợ từ CSKC
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
Nhìn chung, mức độ hài lòng của các cơ sở CNNT khi tham gia CSKC ở mức thấp, điểm số hài lòng trung bình theo thang đo 5 điểm chỉ đạt 2,4 điểm. Số lượng cơ sở CNNT không hài lòng khi tham gia CSKC là 29, tỷ lệ không hài lòng với CSKC của tỉnh Đồng Tháp là 58,0% (Bảng 4.6).
Bảng 4.6: Mức độ hài lòng của nhóm tham gia chính sách
Mức độ hài lòng Thang điểm Số quan sát Tỷ lệ (%)
Rất không hài lòng 1 14 28,0
Không hài lòng 2 15 30,0
Trung tính 3 11 22,0
Hài lòng 4 7 14,0
Rất hài lòng 5 3 6,0
Điểm số hài lòng trung bình = 2,4 điểm; Tỷ lệ hài lòng (≥ 3 điểm) = 42,0% Tỷ lệ không hài lòng (từ 2 điểm trở xuống) = 58,0%
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
Lý do các cơ sở CNNT không hài lòng về CSKC: 65,5% cho rằng là do số tiền hỗ trợ ít, chỉ có 34,5% cho rằng là do thủ tục phức tạp (Hình 4.6).
Hình 4.6: Lý do không hài lòng về CSKC
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
4.3.3. Tác động của CSKC đến đổi mới công nghệ của các cơ sở CNNT 4.3.3.1. Kiểm định mô hình nghiên cứu
Hệ số R2 hiệu chỉnh bằng 0,517 cho thấy các biến trong mô hình giải thích được 51,7% sự thay đổi trong giá trị thiết bị, công nghệ của cơ sở CNNT.
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy ảnh hưởng của các yếu tố đến đổi mới công nghệ
Yếu tố Ký hiệu Hệ số Độ lệch P > |t| VIF
hồi quy chuẩn
Nhóm D -13,95 52,46 0,791 2,04
Năm đánh giá T -47,30 60,36 0,434 2,71
Nhóm hộ x năm đánh giá DxT 192,91 82,84 0,021 3,82
Doanh thu thuần DTT 0,06 0,02 0,007 4,33
Lợi nhuận sau thuế LNST 0,16 0,24 0,517 4,42
Tỷ lệ nợ/tổng nguồn vốn TLN 43,6 8,97 0,000 1,71
Vốn chủ sở hữu VCSH 0,04 0,01 0,000 1,13
Số năm hoạt động (năm) SNHD 3,12 3,21 0,333 1,16
Số lượng lao động (người) SLLD -1,37 1,11 0,220 1,02 Trình độ người quản lý TRINHDO 19,41 42,57 0,649 1,05
Hằng số Cons 535,36 145,17 0,000
R2 = 0,517; F(10,189) = 22,31; Pro > F = 0,000; 2(58)= 96,49 Pro > 2=0,001
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
Giá trị kiểm định tổng thể của mô hình F (10, 189) = 22,31 tương ứng với mức ý nghĩa (Prob > F) là 0,000: Mô hình hồi quy sử dụng có ý nghĩa về mặt thống kê. Độ phóng đại phương sai (VIF) của các biến độc lập đều nhỏ hơn 10, không có hiện tượng đa cộng tuyến. Kết quả kiểm định White với giá trị 2(58) = 96,49, tương đương với Pro > 2 = 0,001 < 0,01 cho thấy có hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Bảng 4.7).
Do vậy, phải tiến hành sử dụng vòng lặp robustness trong phần mềm thống kê Stata nếu có hiện tượng phương sai thay đổi (Trần Thị Tuấn Anh, 2014). Kết quả tại Bảng 4.8 cho thấy có sự thay đổi các giá trị độ lệch chuẩn và P > |t| của từng biến quan sát nhưng về cơ bản, so với kết quả hồi quy ở Bảng 4.7 thì số lượng biến quan sát có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% không có sự thay đổi.
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy với vòng lặp robustness
Yếu tố Ký hiệu Hệ số Độ lệch P > |t| VIF
hồi quy chuẩn
Nhóm D -13,95 31,68 0,660 2,04
Năm đánh giá T -47,30 63,98 0,461 2,71
Nhóm hộ x năm đánh giá DxT 192,91 89,62 0,033 3,82
Doanh thu thuần DTT 0,06 0,03 0,017 4,33
Lợi nhuận sau thuế LNST 0,16 0,26 0,552 4,42
Tỷ lệ nợ/tổng nguồn vốn TLN 43,63 10,10 0,000 1,71
Vốn chủ sở hữu VCSH 0,04 0,01 0,000 1,13
Số năm hoạt động (năm) SNHD 3,12 3,14 0,323 1,16
Số lượng lao động (người) SLLD -1,37 0,95 0,151 1,02 Trình độ người quản lý TRINHDO 19,41 34,93 0,579 1,05
Hằng số Cons 535,36 142,69 0,000
R2 = 0,541 F (10, 189) = 25,71 Pro > F = 0,000 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
Như vậy, có thể khẳng định mô hình định lượng nghiên cứu tác động của CSKC đến đổi mới công nghệ của các cơ sở CNNT trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là phù hợp.
4.3.3.2. Tác động của CSKC đến đổi mới công nghệ
Sử dụng phương pháp khác biệt kép (DID) để đánh giá tác động của chính khuyến công đến các chỉ tiêu: Giá trị thiết bị, công nghệ. Ngoài ra, đề tài tiếp tục xem xét thêm ảnh hưởng của CSKC đến năng suất lao động thể hiện qua doanh thu thuần bình quân trên 1 lao động và lợi nhuận sau thuế trên 1 lao động. Bởi vì, đổi mới công nghệ chỉ có ý nghĩa khi nó giúp tăng năng suất.
Bảng 4.9 cho thấy, đối với giá trị thiết bị, công nghệ: Thời điểm chưa có chính sách (năm 2014), chênh lệch giữa nhóm tham gia và nhóm so sánh là -13,96 triệu đồng, chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Đến thời điểm có chính sách (năm 2018), chênh lệch giữa nhóm tham gia và nhóm so sánh là 178,95 triệu đồng, chênh lệch này có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%.
Bảng 4.9: Đánh giá tác động của CSKC
Thời điểm chưa Thời điểm có
Chỉ tiêu Khoản mục có chính sách chính sách
(năm 2014) (năm 2018)
Nhóm so sánh (1) 535,36 488,06
Giá trị thiết bị, công nghệ Nhóm tham gia (2) 521,41 667,01
Chênh lệch (2-1) -13,96 ***178,95
(triệu đồng)
Tác động của chính **192,91
sách bằng DID
Nhóm so sánh (1) 275,46 291,32
Doanh thu thuần/1 lao Nhóm tham gia (2) 256,02 292,06
Chênh lệch (2-1) -29,46 0,73
động (triệu đồng/người)
Tác động của chính 20,19
sách bằng DID
Nhóm so sánh (1) 20,49 20,35
Lợi nhuận sau thuế/1 lao Nhóm tham gia (2) 19,19 21,77
Chênh lệch (2-1) -1,30 1,42
động (triệu đồng/người)
Tác động của chính 2,72
sách bằng DID
Ghi chú: *** , ** có ý nghĩa thống kê lần lượt ở mức ý nghĩa 1%, 5%.
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích số liệu khảo sát (2019)
Tác động của CSKC đến giá trị thiết bị, công nghệ bằng phương pháp khác biệt kép (DID) là 178,95 - (-13,96) = 192,91 triệu đồng, có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Điều đó có nghĩa là, tham gia CSKC giúp cho giá trị thiết bị, công nghệ của cơ sở CNNT tăng thêm 192,91 triệu đồng.
Đối với doanh thu thuần/1 lao động: Thời điểm chưa có chính sách (năm 2014), chênh lệch giữa nhóm tham gia và nhóm so sánh là -29,46 triệu đồng/1 lao động, chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Đến thời điểm có chính sách (năm 2018), chênh lệch giữa nhóm tham gia và nhóm so sánh là 0,73 triệu đồng/1 lao động, chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%.
Tác động của CSKC đối với Doanh thu thuần/1 lao động bằng phương pháp khác biệt kép (DID) là 0,73 - (-29,46) = 20,19 triệu đồng/1 lao động, không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Nghĩa là, CSKC không có ý nghĩa thống kê trong việc làm tăng doanh thu thuần/1 lao động.
Đối với lợi nhuận sau thuế/1 lao động: Thời điểm chưa có chính sách (năm 2014), chênh lệch giữa nhóm tham gia và nhóm so sánh là -1,30 triệu đồng/1 lao động, không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Đến thời điểm có chính sách (năm 2018), chênh lệch giữa nhóm tham gia và nhóm so sánh là 1,42 triệu đồng/1 lao động, chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%.
Tác động của CSKC đối với lợi nhuận sau thuế/1 lao động bằng phương pháp khác biệt kép (DID) là 1,42 - (-1,30) = 2,72 triệu đồng/1 lao động, không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Điều đó có nghĩa là, CSKC không có ý nghĩa thống kê trong việc làm tăng lợi nhuận sau thuế/1 lao động.
Như vậy, CSKC giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ thông qua làm tăng giá trị thiết bị, công nghệ nhưng hiệu quả của việc đổi mới công nghệ là chưa rõ ràng do không có ý nghĩa trong việc làm tăng năng suất lao động.
4.3.3.3. Thảo luận kết quả hồi quy
Dựa vào Bảng 4.8 (Kết quả hồi quy ảnh hưởng của các yếu tố đến đổi mới công nghệ với vòng lặp robustness), ở mức ý nghĩa thống kê 5%:
Yếu tố tương tác giữa vay vốn và thời gian (D*T), có hệ số hồi quy là (+)
192,91 thể hiện tác động của CSKC đến giá trị thiết bị, công nghệ của cơ sở CNNT bằng phương pháp khác biệt kép (DID). Việc tham gia CSKC có ảnh hưởng tích cực đến giá trị thiết bị, công nghệ. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu doanh nghiệp tham gia CSKC thì sẽ làm tăng giá trị thiết bị, công nghệ thêm 192,91 triệu đồng.
Doanh thu thuần (biến DTT) có có hệ số hồi quy là (+) 0,06, có nghĩa là khi doanh thu thuần tăng thêm 100 triệu đồng thì giá trị thiết bị, công nghệ tăng thêm 6 triệu đồng. Như vậy, doanh thu thuần có ảnh hưởng cùng chiều đến đổi mới công nghệ. Tương tự, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu và giá trị vốn chủ sở hữu cũng có ảnh hưởng cùng chiều đến giá trị thiết bị, công nghệ với hệ số hồi quy lần lượt là +43,63 và +0,04.
4.4. Nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng từ CSKC đến đổi mới công nghệ của các cơ sở CNNT trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Phỏng vấn sâu các cơ sở CNNT, cán bộ tham gia chương trình khuyến công của Sở Công thương, Sở Tài chính để tìm hiểu nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng từ CSKC đến đổi mới công nghệ của các cơ sở CNNT trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, kết quả cho thấy: