Khuyến nghị chính sách

Một phần của tài liệu Đánh giá tác động của chính sách khuyến công đến việc đổi mới công nghệ của các cơ sở công nghiệp nông thôn trường hợp tỉnh đồng tháp (Trang 56 - 62)

5.2.1. Khuyến khích đổi mới công nghệ đối với các cơ sở CNNT có nguồn lực tài chính

Kết quả nghiên cứu cho thấy những cơ sở CNNT có doanh thu và lợi nhuận hàng năm đạt hiệu quả cao thì có mối liên hệ chặt chẽ với việc đổi mới công nghệ.

Trong thực tế, những cơ sở CNNT muốn đạt mức doanh thu, lợi nhuận cao thì đòi hỏi các sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra phải đạt chất lượng, sản xuất được số lượng

lớn cung ứng cho thị trường. Muốn được như vậy thì ít nhiều những cơ sở CNNT này cũng nhờ đến hệ thống MMTB và dây chuyền sản xuất hiện đại. Chính vì tầm quan trọng của hệ thống MMTB nên buộc các cơ sở CNNT phải tích cực đầu tư, nâng cấp và đổi mới các dây chuyền sản xuất.

Không những vậy, hiện nay tỉnh Đồng Tháp đang tích cực thực hiện CSKC đối với tất cả các cơ sở CNNT trên địa bàn tỉnh, đặc biệt hướng đến các DNNVV có tình hình kinh doanh ổn định qua nhiều năm. Những doanh nghiệp này sẽ đối tượng chủ yếu để thực hiện CSKC, giúp cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công, công nghiệp nhẹ,… thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương.

Kêu gọi các cơ sở CNNT đổi mới công nghệ thông qua việc tuyên truyền, giải thích cho chủ các cơ sở này thấy được những lợi ích như: sản xuất được lượng hàng hóa lớn đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, về lâu dài sẽ tiết kiệm chi phí nhân công, sản phẩm làm ra đồng đều đáp ứng được nhu cầu thị trường, hàng hóa bán chạy thì sẽ đem lại nguồn doanh thu lớn, lợi nhuận cao,…

Những cơ sở CNNT có nguồn doanh thu lớn, lợi nhuận cao thì càng có tiềm lực lớn để mở rộng quy kinh doanh. Tất yếu phải đầu tư vào trang thiết bị máy móc hiện đại nên tận dụng thời điểm hiện tại để đầu tư vì có được sự hỗ trợ tích cực của chính quyền địa phương.

Tuy nhiên, tại tỉnh Đồng Tháp có nhiều vấn đề khó khăn làm cho các cơ sở CNNT e ngại, không dám đầu tư vốn để đổi mới công nghệ, chủ yếu là vấn đề tài chính doanh nghiệp và trình độ quản lý kỹ thuật. Xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương thì cần thực hiện những chính sách như sau:

Giai đoạn đầu, địa phương cần chọn lọc những cơ sở CNNT có quy mô tương đối lớn và có tình hình hoạt động kinh doanh hiệu quả, đánh giá trên nhiều phương diện để lựa chọn. Sau đó tiến hành tư vấn các mô hình công nghệ, MMTB phù hợp với ngành nghề và lĩnh vực mà các cơ sở CNNT đang kinh doanh. Trích một phần nguồn vốn ngân sách để đầu tư tạo cú huých ban đầu cho các cơ sở CNNT.

Giai đoạn tiếp theo, khi các cơ sở CNNT đã đạt trình độ công nghệ tiên tiến đủ

khả năng cạnh tranh trên thị trường thì địa phương sẽ ngưng hỗ trợ nguồn vốn đầu tư để cho các cơ sở CNNT này tự vận hành và tiếp tục bỏ nguồn vốn ra để đầu tư vào hệ thống MMTB tiếp theo.

Giai đoạn sau cùng, đến lúc các cơ sở CNNT này đã lớn mạnh, đã nâng cấp và đổi mới hoàn toàn hệ thống MMTB cũng như công nghệ tiên tiến theo kịp với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật thì địa phương sẽ thu dần nguồn ngân sách để làm nguồn quỹ tiếp tục hỗ trợ cho các cơ sở CNNT khác trên địa bàn.

Đặc biệt, địa phương cần chú trọng tạo điều kiện cho các cơ sở CNNT kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ứng dụng thành công công nghệ tiên tiến để nâng cao giá trị nông sản. Không còn tình trạng xuất thô các sản phẩm nông nghiệp mà chuyển sang sản xuất các chế phẩm đa dạng, phong phú hơn đem lại giá trị kinh tế cao hơn.

5.2.2. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực để thực hiện đổi mới công nghệ tại các cơ sở CNNT

Muốn đổi mới, áp dụng quy trình công nghệ tiên tiến tại các cơ sở CNNT thì trước hết phải thực hiện thay đổi trong tư duy, nhận thức của con người, đặc biệt là những người làm công tác quản lý tại các cơ sở CNNT. Vì khi nguồn nhân lực có được sự đào tạo, hướng dẫn bài bản thì mới biết cách áp dụng, vận hành suôn sẻ công nghệ tiên tiến, các hệ thống MMTB hiện đại tại các tổ chức. Chính vì vậy, việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực phải được ưu tiên thực hiện ngay từ đầu bằng những chính sách như sau:

Đối với cấp quản lý tại các cơ sở CNNT, Trung tâm khuyến công tỉnh Đồng Tháp nên thường xuyên tổ chức những chương trình hội thảo để giới thiệu các mô hình quản lý mới, cập nhật xu hướng công nghệ tiên tiến cho các cơ sở CNNT theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn bồi dưỡng cho chủ các cơ sở CNNT bằng cách cho họ đi thăm quan, hội thảo, học hỏi kinh nghiệm phát triển sản xuất kinh doanh, kinh nghiệm sản xuất sạch hơn.

Có thể kết hợp tổ chức nhiều khóa đào tạo như: Đào tạo quản trị nhân sự, ứng dụng phần mềm quản lý và đánh giá nhân sự một cách công bằng và chính xác;

Tăng cường năng lực kỹ năng tiếp thị, truyền thông, quảng bá hình ảnh sản phẩm phẩm doanh nghiệp thông qua hội chợ, triển lãm, lập kế hoạch tiếp thị bằng các khoá đào tạo nghiệp vụ về kế hoạch, kỹ năng tiếp thị, quản trị Marketing tổng hợp cho các cơ sở CNNT; Nâng cao năng lực quản lý kỹ thuật công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng cho các cơ sở CNNT thông qua các khoá đào tạo về quản lý kỹ thuật - công nghệ….

Yêu cầu mỗi năm tỉnh phải có từ 2 – 3 đề án nghiên cứu khoa học ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tế sản xuất nông nghiệp cho các cơ sở CNNT cụ thể như: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản. Tỉnh cần liên kết với các viện, trường đại học để tham khảo ý kiến các chuyên gia đầu ngành, hướng dẫn cho cán bộ làm công tác khuyến công của tỉnh thực hiện các đề án nghiên cứu khoa học. Để từ đó, trình bày kết quả nghiên cứu này cho các cơ sở CNNT thấy được tầm quan trọng, tính hiệu quả và cách thức ứng dụng, thay đổi khoa học công nghệ tại cơ sở của mình. Đây cũng là một trong những cách làm thực tế, có bằng chứng khoa học cụ thể, rõ ràng thì sẽ dễ dàng tuyên truyền, khuyến khích, kêu gọi cơ sở CNNT đổi mới thay vì chỉ yêu cầu bằng chỉ đạo của nhà nước.

Định kỳ tổ chức các cuộc đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các cơ quan, ban ngành, với chủ các cơ sở CNNT để tiếp thu và giải quyết kịp thời các vướng mắc, khó khăn. Chọn các cơ sở CNNT có đủ năng lực để xây dựng, triển khai các dự án khuyến công.

Đối với người lao động đang làm việc tại cơ sở CNNT cũng cần được đào tạo, bồi dưỡng nghề, năng lực quản lý bằng nhiều hình thức như đào tạo tại chỗ, tạo điều kiện cho người lao động được đào tạo tại trường lớp, đào tạo ngắn hạn, dài hạn tại các trung tâm uy tín... Từng cơ sở CNNT cần xác định số lượng, ngành nghề, trình độ cần đạt, phối hợp với tổ chức dịch vụ khuyến công có biện pháp mở lớp bồi dưỡng ngắn hạn tại cơ sở, để nhanh chóng đáp ứng nguồn nhân lực cho CNNT.

5.2.3. Hỗ trợ kinh phí đổi mới công nghệ tại các cơ sở CNNT

Để bảo đảm kinh phí hàng năm đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu hoạt động khuyến công một cách hiệu quả nhất. Tỉnh Đồng Tháp cần một số giải pháp tăng cường đầu tư và bố trí nguồn kinh phí hợp lý cho khuyến công:

UBND tỉnh tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật của tỉnh như xây dựng hệ thống đường giao thông đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa; cung cấp điện ổn định phục vụ sản xuất; tạo quỹ đất, xây dựng cơ sở hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; tăng kinh phí khuyến công địa phương phục vụ cho các hoạt động khuyến công trong thời gian tới. Sở Công thương tỉnh phải thường xuyên chú trọng công tác xúc tiến thương mại, kêu gọi, thu hút đầu tư trong và ngoài nước để hỗ trợ nguồn vốn cho hoạt động khuyến công. Đề nghị các cấp các ngành duyệt, bố trí ngân sách địa phương hàng năm cho hoạt động khuyến công theo quy định với mức tương xứng để bảo đảm cho các chương trình hoạt động có hiệu quả.

Vận động các cơ sở CNNT tham gia khuyến công, đóng góp kinh phí cho hoạt động khuyến công. Tích cực tìm kiếm nguồn tài trợ trong và ngoài nước để có đủ nguồn lực và tài trợ hợp pháp các hoạt động khuyến công.

Thực hiện các chính sách hỗ trợ về tài chính, tín dụng đối với các cơ sở CNNT, đảm bảo đủ vốn cho các cơ sở này. Tiến hành thành lập Quỹ khuyến công để khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại địa phương.

Nguồn quỹ này có thể thu từ các nguồn như: Ngân sách tỉnh hỗ trợ theo khả năng cân đối ngân sách hàng năm; Nguồn hỗ trợ từ kinh phí khuyến công quốc gia; Tài trợ của các tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân trong và ngoài nước; Nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, Quỹ khuyến công phải đảm tính công khai, minh bạch.

Nguồn quỹ khuyến công có ý nghĩa hỗ trợ cho các hoạt động hướng dẫn tổ chức, cá nhân khởi sự kinh doanh, lập dự án đầu tư phát triển công nghiệp, huy động vốn, xin ưu đãi đầu tư và các thủ tục hành chính khác theo quy định của pháp luật, phù hợp với quy hoạch phát triển ngành công nghiệp tỉnh; Tài trợ cho các hoạt động sản xuất công nghiệp nâng cao năng lực quản lý, đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới và ứng dụng tiến bộ khoa học-

công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường; Hỗ trợ chi phí để tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, tham quan, khảo sát trong nước; hỗ trợ và tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất công nghiệp liên doanh, liên kết, hợp tác kinh tế, tham gia các hiệp hội ngành nghề; Hỗ trợ chi phí để xây dựng thí điểm mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và thực hiện dịch vụ tư vấn công nghệ để hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất công nghiệp…

5.2.4. Tăng cường năng lực thực thi CSKC của các cơ quan, ban ngành tỉnh Đồng Tháp

Thứ nhất, thực hiện cải cách CSKC theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính và thực hiện phân cấp quản lý. Nâng cao năng lực tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công từ tỉnh đến huyện.

Thứ hai, tăng cường tìm kiếm nguồn kinh phí từ NSNN và các nguồn kinh phí huy động, lồng ghép khác để đẩy mạnh hoạt động khuyến công tại địa phương. Liên kết chặt chẽ với các tổ chức kinh tế- chính trị - xã hội và các tổ chức, cá nhân khác để huy động thêm nguồn lực tham gia hoạt động khuyến công.

Thứ ba, UBND các cấp, các sở ngành liên quan tích cực phối hợp thực hiện chương trình Khuyến công của tỉnh, tăng cường hướng dẫn, kiểm tra giám sát cấp dưới, cơ sở triển khai mạnh mẽ hoạt động khuyến công, tạo ra bước đột phá thúc đẩy phát triển CNNT trong tỉnh. Chính quyền các cấp tạo mọi điều kiện để các cơ sở CNNT hoạt động theo pháp luật, tạo điều kiện hỗ trợ về mặt bằng sản xuất và vốn vay.

Thứ tư, cán bộ khuyến công ở địa phương phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các chủ trương chính sách của nhà nước để cơ sở CNNT yên tâm đầu tư phát triển công nghiệp ở nông thôn.Vận động các cơ sở CNNT lớn hỗ trợ cho hoạt động khuyến công và động viên người quản lý tại các cơ sở CNNT tích cực tham gia hoạt động khuyến công.

Thứ năm, giao cho Trung tâm khuyến công tỉnh Đồng Tháp là đơn vị chịu trách nhiệm đánh giá tác động của CSKC đối với xã hội và đối tượng thụ hưởng là cơ sở CNNT.

Một phần của tài liệu Đánh giá tác động của chính sách khuyến công đến việc đổi mới công nghệ của các cơ sở công nghiệp nông thôn trường hợp tỉnh đồng tháp (Trang 56 - 62)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(78 trang)
w