Không gian tình yêu

Một phần của tài liệu Phong cách thơ xuân quỳnh (Trang 129 - 140)

Đối với Xuân Quỳnh, tình yêu cuộc sống của chị trải mênh mông bất tận, vượt qua cả thời gian, không gian để đến cõi vĩnh hằng. Vì vậy, không gian của chị chứa đầy cảm xúc và luôn biến động theo nó, không gian ấy là khoảng tâm hồn của

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

riêng mình chị, là không gian của đời tư, không gian trong tâm tướng. Không gian trong tâm tưởng được biểu hiện cụ thể thành khổng gian tình yêu.

* Khóng gian cùa tình yêu đôi lứa :

Trong tình yêu, để chứng minh cho tình cảm vô bờ của mình, Xuân Quỳnh đã tìm đến một khoảng không gian bao la vĩnh hằng, với những con sóng liên tiếp vồ bờ, với đại dương mênh mông sâu thẳm mà trong lòng nó chất chứa bao điều hạnh phúc - đắng cay, ngọt ngào - trăn trở ...của tình yêu, hạnh phúc :

"Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được...

Dầu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương"

(Sóng)

Đây chính là không gian tàm tưởng, không gian biến đổi theo dòng cảm xúc của Xuân Quỳnh, soi lòng vào sóng để diễn tả cái sâu sắc, vô tận của nỗi nhớ trong lòng, nỗi nhớ ấy choán đầy cả bề rộng, bề sâu, lúc nào cũng đau đáu mênh mang.

Xưa nay, tình yôu có bao giờ có quy luật. Mỗi câu chuyện tình là một vườn hoa riêng, hương sắc riêng. Với Xuân Quỳnh, vườn hoa tình yêu ấy là vườn hoa bất tử, bất tử trong không gian rộng lớn, rất dài và rất xa, không gian luôn biến động theo dòng tình cảm, luôn đảo chiều phá vỡ quy luật và lôgic cuộc sống cho thoả mãn nỗi niềm khát khao mong ước: dưới lòng sâu - trên mặt nước; xuôi phương Bắc - ngược phương Nam, và cuối cùng vẫn chỉ duy nhất hướng về : Anh. Anh là tất cả cuộc đời em, là dòng suối tình trong mát cho em ngụp lặn, là biển cả dịu êm cho thuyền em đi hoài không mỏi. Xa anh lòng em thành ”bão tô" .

Yêu thương sâu sắc, khát khao mãnh liệt là vậy, song nhiều khi Xuân Quỳnh vẫn mang nhiều dự cảm lo âu, trăn trở. Những tâm trạng ấy cũng truyền sang cả không gian, biến không gian thiên nhiên thành không gian tâm trạng, không gian mang sắc thái buồn:

"Cát vắng, sông đầy cây ngân ngơ Không gian xao xuyến chuyển sang mùa Tên mình ai gọi sau vòm lá

Lối cũ em về nay đã thu..."

128 Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là người "đã đi đến tận cùng xứ sỏ” cùa tình yêu như lời chị tự nhân. Chị là người hơn ai hết tường tận đến từng ngõ ngách, từng nẻo không gian trong tình yêu của mình. Trong không gian tình yêu ấy, nơi nào cũng in dấu bước chân không mói của Xuân Quỳnh. Mang bao hoài bão, khát vọng, chị đi khắp chốn đế tìm người yêu. Không gian trong thơ Xuân Quỳnh thường lặp đi lặp lại những hình ảnh chỉ sự vận động mang tính chất biểu trưng: thuyền, biển, cánh buồm, con tàu. con đường...và dù được bộc lộ trực tiếp hay gián tiếp cũng đều thê hiện sự vận động hết sức mạnh mẽ và luôn tìm cách vươn tới những không gian bao la, vô tận.

mênh móng:

"Lòng thuyền nhiều khát vọng Và tình biển bao la

Thuyền đi hoài không mỏi Biển vẫn xa...còn xa".

Ợ huyền và biển)

Sự vận động của không gian trong thơ Xuân Quỳnh là sự vận động đê hướng tới khoảnh khắc bình an, để đi tìm những giây phút bình dị của đời thường, từ đó vun đắp, dựng xây cuộc đời thêm tươi đẹp.

Đến được với tình yêu đích thực sau bao nỗi nhọc nhằn, vất vả gian lao và bến dỗ bình yèn trong cuộc đời mỗi con người, đó là tổ ấm. Xuân Quỳnh cũng vậy, chị đã tìm Ihấy nơi chốn đi về, đó là không gian tổ ấm.

* Không gian tổ ấm:

Đã có rất nhiều nhà thơ cùng thời với chị viết về tổ ấm gia đình như chị, song không ai viết nhiều, viết khoẻ về nó bằng chị. Tổ ấm - cái đích vươn tới của Xuân Quỳnh cũng bộc lộ nhiều khao khát và quan niệm của chị. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta bắt gặp nhiều hình ảnh biểu trưng cho mái ấm. Viết về điều này, Chu Văn Sơn nhận xét: “Ai đọc thơ Xuân Quỳnh không thể không thấp thoáng ẩn hiện suốt đời thơ của người đàn bà này là hình ảnh một mái che với nhiều biến thế khác nhau của nó. Khi là vòm cây, mái phố, mái nhà, căn phòng”.

Khi viết về tổ ấm, thơ chị thường trở đi trở lại những hình ảnh thân quen, bình dị nhất: bút, mực, trang thơ, tách nước... Tất cả được chị sở hữu trong “Căn phòng con riêng của chúng mình”:

“Cân phòng con riêng của chúng mình Nước trong phích, hoa trong bình gốm cũ Sách trên giá và thơ trong trí nhớ”

Phong cách th ơ Xuân Quỳnh

Đồ vật trong căn phòng riêng tư ấy được chị khắc hoạ hết sức riêng biệt như đê định vị cái tổ ấm của mình tưởng như nếu chị không xác định cụ thể vị trí của từng đồ vật như vậy thì sẽ không còn là cân phòng của riêng chị nữa. Những đồ vật ấy đã cất lên ngôn ngữ thân thương gần gũi như nhắc gọi về một khoảng không gian bé nhỏ trong chị - không gian của hạnh phúc gia đình.

Như con chim không tổ, “lang thang khắp những năm ròng tuổi thơ”, Xuân Quỳnh càng thấm thìa mái ấm gia đình và chính bởi vậy, chị càng trân trọng, vun đấp cho nó bằng tất cả tâm sức của mình. Khi xa chị nhớ quay quất, lúc ở nhà chị ra sức vun vén, chăm lo. Điều khác biệt của chị so với những người phụ nữ khác là chị luôn khẳng định sự sở hữu của mình với một thái độ mạnh mẽ khác thường: “nhà tôi”, â'căn phòng tô i”, “căn phòng con riêng của chúng mình”... Cái ý thức sở hữu mãnh liệt này phải chăng xuất phát từ ý thức về tình yêu và hạnh phúc của chính bản thần chị? - Hạnh phúc có được sau bao nỗi nhọc nhằn, mất mát, đắng cay.

Xuân Quỳnh rất có duyên khi viết về những thứ tưởng chừng không đáng nói.

Ây vậy mà khi những sự vật đó vào thơ chị, được chị sắp xếp theo trật tự của chị, trong không gian của chị, chúng lại nói được bao điểu muốn nói. Chỉ một sự xáo trộn bất thường của đổ vật là dường như ta thấy hạnh phúc bị lung lay:

“Cây bút gãy trong tay Cặn mực khô đáy lọ Ánh điện tắt trong phòng”

(Anh)

Đọc những dòng này ta hiểu tại sao căn phòng bình yên và sự tổn tại đúng vị trí của chúng lại có khả năng nói nhiều đến thế về hạnh phúc của chị.

Khõng những mô tả, chị còn mượn đồ vật để gửi nỗi nhớ thương:

“Tấm rèm cửa màu xanh Trang thơ còn viết dở Tách nước nóng trên bàn Và lòng em mong nhớ...”

Từng sự vật, chi tiết đều nói hộ lòng em tiếng nhớ nhung đợi chờ. Chị đã tâm trạng hóa không gian của mình, cộng tất cả những đồ vật ấy vào nỗi nhớ của mình khiến cho nỗi nhớ ấy càng da diết, thiết tha. Đồng nhất mình vào sự vật, để sự vật nói thay tiếng lòng mình một cách tự nhiên, chân thực, đầy nữ tính mà cũng rất hiện đại. Đây cũng là nét riêng của Xuân Quỳnh.

Có thể nói, đi vào thế giới không gian nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh là bước vào một vũ trụ riêng, bao la rộng lớn, vừa hiện thực, cụ thể, sinh động, vừa trấn ngập tâm tư tình cảm của con người luôn mang trong mình trái tim yêu tha thiết. Không gian ấy tập trung chứa đựng tình yêu cuộc sống, khao khát được gắn bó với đời của nữ thi sĩ tài hoa bạc mệnh Xuân Quỳnh.

Nguyễn Thị Kim Định

[30

Phong cách thơ X uàn Quỳnh

PHẨN KẾT LUẬN

“Nhà thơ chính là con ong hút nhụy từ những bông hoa của đời sống, không có sự tái tạo tài tình của con ong thì phấn hoa không thể thành mật ngọt. Nhưng nếu không có những chuyến bay xa để đem về hương phấn của cuộc đời thì ong không thể mãi tự mình tạo nên mật ngọt”. Xuân Quỳnh đã lao động nghệ thuật thực sự.

Qua mỗi chạng đường thơ, chị đều để lại những nét riêng trong thơ mình.

Đọc thơ Xuân Quỳnh, người đọc không hề có cảm giác tác giả cố ý làm thơ.

Chị là người đã “đem chính mình, chính cuộc đời mình ra làm thơ” [108; 122],

“ ...chị trở thành nhân vật vãn học của chính thơ chị”[45;143]. Chị sống hổn nhiên, sống hết mình với những bài thơ của mình. Thơ là đời sống, là tâm trạng thật của Xuân Quỳnh trong mỗi bước buồn vui của cuộc sống:

“Và trong em không thể còn anh Nếu ngày mai em không làm thơ nữa”.

(Nếu ngày mai em không làm thơ nữa)

1. Thơ Xuân Quỳnh trước hết là sự tự thể hiện, ngòi bút chị chủ yếu đi vào khai thác tâm trạng của chính bản thân nhà thơ. Xuất hiện giữa làng thơ khi trong thơ cái tôi đã được ý thức trở lại trong cái ta chung, có thể nói cái tôi trữ tình Xuân Quỳnh ià cái tôi riêng không bị nhoè lẫn, riêng trong cách cảm, lối nghĩ, trong giọng điệu và trong cả nghệ thuật sử dụng ngôn từ ... “Chị là nhà thơ đã sống, đã hoà nhập với thời đại của mình, nhưng vẫn là mình, không giống một ai khác, không thể lẫn là ai khác” [108;121].

Từ một thiếu nữ e ấp, hồn nhiên trong những sáng tác đầu tiên, qua thời gian Xuân Qu5'nh đã nhìn đời đằm thắm, sâu lắng, thiết tha và cũng chất chứa nhiều trăn trở suy tư về tình yêu, tình đời. Hồn thơ Xuân Quỳnh là một hồn thơ có nhiều dáng vẻ, sắc thái, luôn vận động biến đổi nhưng vẫn nhất quán trong suốt hành trình sáng tạo. Dù ở giai đoạn nào, thơ chị vẫn lấy cái tôi nữ tính làm trung tâm cho mọi sự cảm nhận về thế giới. Mảng đề tài tình yêu là nơi thể hiện rõ nhất cái tối Xuân Quỳnh. Đó là cái tôi nồng nàn, say đắm, khao khát yêu thương nhưng cũng rất vị tha, sẵn sàng hy sinh, dâng hiến; rất mãnh liệt, táo bạo nhưng vẫn vô cùng đằm

Phong cách th ơ Xưán Quỳnh

thám, dịu dàng, nữ tính; đầy đam mê, khao khát nhưng cũng rất biết chi chút cho cuộc sống đời thường; tràn đầy tình yêu cuộc sống mà vẫn còn những mặc cám, lo âu. Tất cả là những đối cực trong hồn thơ chị — hồn thơ giàu tính nữ của một người đàn bà “yêu và làm thơ”. Sự kết hợp khá hài hòa những phârn chát vốn tương khắc thành một chỉnh th ể thống nhất, một nhân cách độc đáo, một cá tính sáng tạo, một cái tôi giàu nữ tính là điều tạo nên bản sắc riêng của Xuân Quỳnh.

2. Xuân Quỳnh làm thơ kể chuyện đời mình, số phận mình nhưng chị cũng làm thơ trong mối giao hoà chung của cảm xúc thời đại. Trong thơ Xuân Quỳnh, tinh thần thách nhiệm và lương tâm của người cầm bút trước dân tộc và trước lịch sử không chỉ vang lèn cao độ trong những nảm tháng chiến tranh (Hoa dọc chiến hào;

Gió Láo cát trắng...) mà là trong bất cứ giai đoạn nào của lịch sử dân tộc trong cuộc đời chị và thơ của chị. Chị viết vể đất nước, viết về con người trong những năm tháng chiến tranh; viết về bức tranh dung dị của hạnh phúc đời thường. Dù ở mảng để tài nào, thơ chị cũng tha thiết một niềm yêu đời, yêu cuộc sống, yêu con người.

3. Nghiên cứu phong cách thơ Xuân Quỳnh không thế không nghiên cứu những nét độc đáo trong phương diện nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh. Nét độc đáo đó thể hiện ở giọng điệu thơ, ở ngôn ngữ, hình ảnh thơ, ở thời gian, không gian nghệ thuât trong thơ.. .Dử xét ở phương diện nào thì ở thơ Xuân Quỳnh cùng đều có những nét độc đáo của riêng chị.

Dù Xuân Quỳnh đã vĩnh viễn ra đi. Ra đi mà “không muốn ai khóc” như câu thơ chị viết: “Người chết chẳng bằng lòng nếu chúng tôi quớ thương đau” nhưng chúng ta lại không quên được hình ảnh chị bởi những câu thơ như còn gửi gắm, còn chờ mong, còn ước vọng, bởi trái tim còn tha thiết một niềm yêu: “Biết yêu anh cả khi chết đi rồi”. Tâm tình với đời, với người, nồng nàn và đắm say vẫn là sự hiện hữu của chị trên cõi đời này. Viết đề tài này, chúng tôi hy vọng dựng lại được phần nào chân dung con người chị để từ đó thấy được những phẩm chất cơ bán thuộc về phong cách thơ chị: tự nhiên, giản dị, chán thật, đằm thắm, dịu dàng nhưng dữ dội và mãnh liệt. Chị mang đầy đủ phẩm chất của con người thời hiện đại lại đổng thời có những phẩm chất tự ngàn xưa, riêng biệt rất nữ tính./.

132 Nguyễn Thị Kim Định

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Aristote (1964), Nghệ thuật thơ ca, NXB Văn học nghệ thuật.

2. VQ Tuấn Anh (1997), Nửa thếkỷ thơViệt Nam, 1945-1995, NXB Khoa học xã hội.

3. Vũ Tuấn Anh, Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam sau 1975-1990, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội.

4. Phan Thị Vàng Anh - Trần Thị Thắng (2006), Văn chương một thời để nhớ (Thơ), NXB Văn học.

5. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000 (chuyên luận), NXB Hội nhà văn.

7. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa - Thông tin.

8. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp .

9. Lâm Thị Mỹ Dạ (1998), Đề tặng một giấc mơ, NXB Thanh niên.

10. Lâm Thị Mỹ Dạ (1983), Bài thơ không năm tháng, NXB Tác phẩm mới.

11. Lâm Thị Mỹ Dạ (1990), Hái tuổi em đầy tay, NXB Đà Nẩng.

12. Lâm Thị Mỹ Dạ (1996), Mẹ và con, NXB Phụ nữ.

13. Lâm Thị Mỹ Dạ - Nhi (1974), Trái tim nổi nhớ (thơ - in chung), NXB Văn học.

14. Trần Quang Đạo (2004), Cái tôi mang tính tự sự, một đặc điểm của thơ trẻ sau 1975, Tạp chí nghiên cứu văn học s ố 5.

15. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục.

16. Biện Văn Điền (2001), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Sự hình thành và những đặc triừig), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

17. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học.

18. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Những vấn đề lịch sử và lý luận), NXB Giáo dục.

19. Hà Minh Đức (2000), Đi tìm chân lý nghệ thuật, NXB Văn học.

20. Hà Minh Đức (1994), Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Giáo dục.

Phong cách th ơ Xuân Quỳnh _____________ _______ _______ _

Phong cách tho Xuân Quỳnh

21. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề tl'ong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục.

22. Tố Hữu (1973), Xáy dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta, NXB Văn học, Hà Nội.

23. Đoàn Thị Đặng Hương (1990), Người đàn bà yêu và làm thơ (Đọc thơ Xuân Quỳnh). Tạp chí Văn học s ố 6.

24. Lan Hương (bicn tập), Xuân Quỳnh - Thơ tình, NXB Văn học.

25. Ngân Hà (2001), Nữ sĩ Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

26. Ngân Hà (2006), Thơ Xuân Quỳnh, những lời bình, NXB Văn hóa - Thông tin.

27. Hổ Thế Hà (2003), Khuynh hướng hiện đại trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Tạp chí văn học s ố 3.

28. Bùi Cồng Hùng (1983), Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, NXB Khoa học xã hội.

29. Bùi Công Hùng (1988), Quá trình sáng tạo thơ, NXB Khoa học xã hội nhân văn.

30. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà vãn.

31. Đoàn Tử Huyến (2007), Đoàn Thị Lam Luyến, 36 bài thơ (tuyển chọn), NXB Lao động.

32. Đoàn Tử Huyên (2007), Hàn Mặc Tử, 36 bài thơ {tuyển chọn), NXB Lao động.

33. Đoàn Tử Huyến (2007), Nguyễn Bính, 36 bài thơ (tuyển chọn), NXB Lao động.

34. Đoàn Tử Huyến (2007), Puskin, 36 bài thơ (tuyển chọn), NXB Lao động.

35. Đoàn Tử Huyến (2007), Xuân Quỳnh 36 bài thơ, NXB Lao động.

36. Khoa Ngữ vãn trường ĐHSP - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (5/1999), Kỷ yếu khoa học (Hội nghị các nghiên cứu sinh ngữ văn).

37. M.B.Khrapchenkô (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, NXB Tác phẩm mới.

38. MB.Khrapchekhô (1982), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, NXB Khoa học và xã hội.

39. Cẩm Lai - Xuân Quỳnh (1963), Tơ tằm, chồi biếc, NXB văn học.

40. Mã Giang Lân (2000), Tìm hiểu thơ, NXB Văn hóa - Thông tin.

41. Mã Giang Lân (2004), Thơ hình thành và tiếp nhận, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

134 Nguyễn Thị Kim Định

Một phần của tài liệu Phong cách thơ xuân quỳnh (Trang 129 - 140)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)