Viết về quẽ hương, đất nước với tình yêu thiết tha

Một phần của tài liệu Phong cách thơ xuân quỳnh (Trang 61 - 71)

CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 2 NHŨNG CẨM HÚNG LỚN TRONG THO XUÂN QUỲNHNHŨNG CẨM HÚNG LỚN TRONG THO XUÂN QUỲNH

2.1.2. Viết về quẽ hương, đất nước với tình yêu thiết tha

Nhà thơ Huy Cận trong hồi ký của mình từng bộc bạch rằng: “Với người làm văn học nghệ thuật, quê hương có một vị trí vô cùng quan trọng. Nó là yếu tố ban đầu rất cơ bản tạo nên tâm hổn nghệ thuật, tâm hồn thơ. Không gắn bó với quê hương không thể có nghệ thuật. Chính vì vậy, nói tới đời của người làm thơ, làm nghệ thuật không thể không nói tới quê hương họ”. Điều này có thể thấy rõ với trường hợp Xuân Quỳnh. Nhắc đến chị, nhiều người nghĩ chị chỉ là nhà thơ của tình yêu đôi lứa. Nhưng với tôi, những mảng thơ về quê hương đất nước của chị đã gây cho tôi nhiều xúc cảm và có sức hấp dẫn đặc biệt không kém những bài thơ chị viết về tình yêu.

Ai sinh ra mà không có quê hương! Dù đó là miền đất tươi đẹp hay khô cằn sỏi đá thì đó cũng là nơi mà ta đã sinh ra, là nơi có mẹ, có cha, có những người thân thương ruột thịt. Với Xuân Quỳnh, tình yêu quê hương thật rộng lớn, sâu nặng. Tình yêu quê hương, đất nước trong thơ chị được gửi gắm trong một mái nhà, một mảnh vườn, một góc phố, một dòng sông hay rộng lớn hơn là một ngôi làng, một thành phố, một đất nước... Những bài thơ của chị không chỉ gợi nhớ thương mà còn chạm đến cả những miền sâu kín, những rung động gần gũi và tinh tế của tâm hồn. “Gỉớ Lào cát trắng” ỉà một bài thơ như thế! Xuân Quỳnh đã dành những vần thơ cảm động cho miền đất khắc nghiệt miền Trung: Quảng Bình - Vĩnh Linh, nơi chị không sinh ra nhưng có một phần đời ở đó. Đây là một vùng đất, một điểm nóng của chiến tranh, nơi mà kẻ thù tập trung tàn phá triệt để nhất và cũng ỉà nơi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thể hiện rực rỡ nhất. Cũng giống như các nhà thơ chiến sĩ cùng thế hệ, với chiếc ba lô trên vai, Xuân Quỳnh đã đến với vùng đất khói lửa ấy bằng tình cảm trân trọng, thiêng liêng. Chị yêu quý cả những nỗi bất hạnh, khổ đau của quê hương. Dải đất khô cằn cát sỏi và bỏng rát này đã để lại trong chị một cảm xúc nhớ thương, trìu mến:

Phong cách thơ Xuân Quỳnh ________

“Ngọn gió bỏng khi đi thành nỗi nhớ Cát khô cằn ở mãi hóa yêu thương”

(Gió Lào cát trắng)

Què hương chính là nơi chôn rau cắt rốn mà con người ta không dẻ dàng vứt bỏ được. Dẫu khắc nghiệt, dẫu càn khô thì đó cũng là nơi con người ta sinh ra. lớn lên, ra đi rồi có lúc trở về. Và nhiều khi, những khấc nghiệt, khó khăn ấy lại làm người ta xót xa, bùi ngùi khi nhớ về. Mảnh đất Quảng Bình - Vĩnh Linh ghi dấu ấn sâu đậm trong thơ Xuân Quỳnh. Vùng quê miền Trung đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, lại phải chịu sự tàn phá ác liệt của chiến tranh lúc nào cũng gợi nên niềm thương yêu và sự gắn bó tha thiết nơi sâu thẳm tâm hổn Xuân Quỳnh. Chị luôn sẵn sàng hiến dâng tất cả, cống hiến tất cả, để xây dựng quê hương đất nước mình:

“Tôi sẵn sàng đem hiến cả đời tôi Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”

(Gió Lào cát trắng)

Có lẽ không ở đâu như dải đất miền Trung, nhất là vùng Quảng Bình - Vĩnh Linh, là “khúc ruột” của Tổ quốc nhưng lại phải chịu sự “đối xử ' hắt hủi, ghe lạnh của thiên nhiẽn. Mùa nắng với cái nắng gay gắt và những đợt gió Lào bỏng rát đã thiêu trụi mọi màu xanh cây cỏ, chỉ còn một triền cát dài mênh mông trắng lóa.

Nhưng đến mùa mưa, tất cả chỉ còn là một vùng đất ngập chìm trong biển nước vô tận. Và có lẽ như một định mệnh khắc nghiệt, những năm tháng chiến tranh, cũng chính mảnh đất miền Trung này phải chịu những triệt phá khốc liệt nhất từ phía kẻ thù nhằm chia lìa đất nước Việt Nam thành hai mảnh:

“Giặc phá hết rồi không còn gì đâu Khỏng làng xóm, không người, không cỏ Không ai nhận ra đường phố làng quê Một phần đất trộn bốn phần sắt thép”

Mảnh đất miền Trung với bao khắc nghiệt khó khãn và thử thách lớn lao.

Song, trong cảm nghĩ của Xuân Quỳnh, chị vẫn thể hiện tình yêu đất và người nơi đây bằng niềm tin, niềm hy vọng mơ ước về một tương lai tươi đẹp:

“Nhà của tôi, tôi sẽ dựng lại

Ánh ngói hổng những gương mặt mai sau”

Tinh yêu quê hương đất nước trong thơ Xuân Quỳnh thật nồng nàn. tha thiết đầy yêu thương và khát vọng. Chị đã đi nhiều nơi và mỗi miền đất đặt chân đến chị luôn dành Phong cách thơ Xuân Quỳnh ______ ____ _______________ ____

60 Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

cho chúng những tình cảm sâu nặng, dạt dào. Đó là mảnh đất miền Trung với “Gió Lào cát trắng” bỏng rát mặt người, là nơi đã sinh ra những người con ưu tú của thòi đại, là nơi thử thách lòng kiên trung của mỗi con người đối với đất nước quê hương. Đó là vùng đất Vĩnh Giảng, nơi chị mới đặt chân đến, “c/ỉwa có gì kỷ niệm” mà sao vẫn bát ngát, chan chứa tình . Đó là mảnh đất Vĩnh Quang với những ngôi làng bị bom giặc tàn phá nhưng lòng người lại kiên định, quyết tâm. Đó là mảnh đất Vĩnh Linh hoang tàn đổ nát với trơ trụi mật đất cằn khô.

Bàng cái nhìn khách quan của người chứng kiến những dữ dội, khốc liệt của chiến tranh mà miền Trung phải gánh chịu, Xuân Quỳnh đã viết nên những câu thơ thấm đẫm xót xa về quê hương, đất nước mình. Điều này lại khác với Lâm Thị Mỹ Dạ - Dẫu là trong những năm tháng chiến tranh nhưng trong cảm nhận của một con người xa quê, vùng đất Bình Trị Thiên vẫn gợi lên cảm giác thanh bình, tươi đẹp với những con người chân chất, chịu thương chịu khó. Bởi vậy, Mỹ Dạ đã viết nên những câu thơ tươi mát làm dịu cả sự khốc liệt của chiến tranh:

“Màu vàng bom bi lẫn màu vàng của lúa Bom nổ chậm không làm ta sợ nữa Nào chị em mình gặt đi thôi Mỗi người đội một vành trăng nhỏ Chấp chới nghiêng trên thảm lúa vàng”

(Gặt đêm)

Đây là một trong những đặc điểm tạo nên nét riêng của mỗi tác giả nữ khi viết vé quê hương, đất nước trong những nãm tháng chiến tranh.

2.1.2.2. Tinh yêu quê hương đất nước bắt nguồn từ những sự vật đơn sơ, bình dị.

Trở lại với Xuân Quỳnh, chúng ta dễ nhận thấy một điều tất cả những gì của quê hương, đất nước, của xóm làng thân thuộc đều gắn bó với Xuân Quỳnh. Dường như đối với chị những vật vô tri, vô giác, những gì là hiển nhiên của tạo vật cũng đều có tình yêu, đểu có hổn người - đó là một rung động tinh tế, sâu lắng, một nét riêng trong thơ Xuân Quỳnh. Và tình yêu ấy càng nồng cháy, sâu đậm hơn bởi những năm tháng ác liệt của chiến tranh. Với quê hương, mỗi người khi nhớ đến luôn tìm cho mình một hình ảnh, một kỷ niệm thân quen nào đó. Quê hương trong thơ Xuân Quỳnh đó là cát, cỏ dại, bờ lau, mái phố...

Phong cách thơX uáìi Quỳnh

Với nhiều nhà thơ, cỏ dại, cát trắng... là bức tranh của thiên nhiên và các nhà thơ có thê thả hổn mình vào khung cảnh hoang sơ ấy để thấy lòng mình cô độc.

dùng nó để gẩy vào thơ ca khúc nhạc buồn bã cho thấu đến tận cùng sự hoang vắng, cô liêu của tăm trạng. Ý Nhi - nhà thơ nữ cùng thời với Xuân Quỳnh dùng cát để gửi gắm và bao phú nỗi buồn, bởi cát rộng quá, đại dương nào lấp nổi. Có khi, cát lại nặng trìu trong tàm can thi sĩ, trong nỗi đau số mệnh muôn đời :

“Tôi tìm đến những đền đài tưởng niệm Nào hay đâu chỉ là cát đấy thỏi Hạt cát nào trong đáy mắt bỏng sôi Đang lặng lẽ lăn đi trên gò má.

{Cat 2)

Với Xuân Quỳnh, cát là sự bao bọc, chở che, là tri ân, là hình ảnh quê hương trong đó. Cái thấm ướt máu đổng đội, cát là bức tranh đổi màu của quê hương trong những năm tháng đau thương mất mát:

“Cát vẫn nghìn nãm im lặng Cát thấm bao nhiêu là mưa Cát thấm bao nhiêu là máu”

{Cát ở Cửa Việt)

Cát muôn đời vẫn trắng, nhưng cũng có cát hổng - khi Iĩiáu đồng đội đã nhuộm màu cho cát. Và chính màu hồng này - cũng như những bông lau trắng đã nhuốm máu người bạn gái của chị mới tạo cho đời sắc xanh bình yên, mới tạo cho quê hương thanh bình với một màu cát trắng bất diệt:

“Cát đã qua nghìn lửa cháy Cát đã qua nghìn đạn bom Đã tìm về với bà con Và cát bây giờ vẫn trắng”

(Cát ở Cửa Việt)

Cũng như vậy, cỏ không phải là vật vô tri vô giác trong thơ Xuân Quỳnh. Khi giáp mặt với bom đạn kẻ thù, cỏ dại đã thổ hiện sức sống mãnh liệt, c ỏ tượng trưng cho sức sống của quê hương trong những ngày gian khổ:

“Người dân quân tỳ súng lắng nghe Bài hát nói về khu vườn đầy trái Anh bỗng nghĩ đến một vùng cỏ dại Nỗi nhớ đầu anh nhớ quê anh”

{Cỏ dại)

62 Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

Bài hát người dân quân lắng nghe mang hình ảnh của miền đất ngọt lành với '"khu vườn đẩy trái" đẩy hoa thơm trái ngọt nhưng tự trong tiềm thức anh, một vùng cỏ dại hiện về, tựa như đó là hình ảnh mà anh đã cất giữ, đã mang theo suốt chặng đường hành quân xa quê. Dường như hình ảnh cỏ đã chứa đựng trong đó cả quê hương anh vậy!

Với Xuân Quỳnh - quê hương có khi chỉ là một nhành cỏ dại, một cồn cát trắng nhưng có khi lại ấm áp, bình yên, bao dung trong hình ảnh một mái phố:

“Từ những ngày gian khổ Từ lửa táp bom rơi Tôi nghĩ về phố tôi Thấy sao mà vững dạ!”

Những hình ảnh của thành phố quê hương được cô đọng lại trong hình ảnh mái phố, nơi gán bó với tuổi thơ... Nó dịu dàng, ấm áp, nâng đỡ, sưởi ấm con người vững bước trên bước đường chiến đấu giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Với ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc thơ tuôn trào, Xuân Quỳnh đã bộc lộ được tâm tư, tình cảm của mình với quê hương đất nước.

Những năm tháng chiến tranh với bao khó khăn, gian khổ, sự bình yên là nơi con người luôn khái khao và tìm kiếm. Một góc phố yêu thương, một mái nhà chở che là nơi Xuân Quỳnh luôn hướng tới:

“Bình yên trên những mái nhà

Vịnh xanh nước lặng, buồm xa cuối trời”

(Tình ca trong lòng vịnh)

Những suy nghĩ về quê hương, về dự định tương lai, về ngôi nhà bé nhỏ đã tạo nên nguồn sức mạnh cho con người vượt qua thực tại khó khăn, khắc nghiệt. Nó tạo nên trong mỗi con người niềm tin yêu cuộc sống, hi vọng vào tương lai tươi đẹp:

. Nhà của tôi, tôi sẽ về dựng lại Ánh ngói hổng những khuôn mặt mai sau”

Tình yêu thiết tha, cháy bỏng với quê hương đã tạo nên sức mạnh to lớn để con người chiến đấu bảo vệ quê hương:

“Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ô trứng hồng tuổi thơ”

(Tiếng gà trưa)

Có thể nói, với những hình ảnh đơn sơ, những sự vật nhỏ bé, bình dị, nhưng Xuân Quỳnh vẫn tìm thấy chất thơ, vẫn tìm thấy vẻ đẹp của quê hương dất nước mình ẩn chứa trong đó. Với những hình ảnh này, cách cảm nhận này đã tạo nên những nét riêng, nét độc đáo trong thơ Xuân Quỳnh. Những vần thơ về quê hương đất nước của chị đã để lại trong lòng người đọc nhiều xúc cảm. Trái tim chân thành, tha thiết - trái tim biết đập những nhịp đập cho quê hương đất nước, biết bảo vệ và khao khát cống hiến cho quê hương đất nước đã tạo nên một phong cách, một hồn thơ Xuân Quỳnh.

2.1.2.3. Tình yêu quê hương, đất nước xuất phát từ tình yêu thương con ngưòi.

Quê hương luôn là một phần máu thịt trong tâm hồn mỗi người còn bởi nơi đó có những người thân yêu nhất mà cho dù có đi tới bất cứ phương trời nào ta vẫn luôn hướng về họ với tấm lòng trĩu nặng nhớ thương. Với Xuân Quỳnh, trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, có lẽ nỗi nhớ sâu thẳm nhất về quê hương, đất nước của nhà thơ luôn dành cho những người thân, cho bạn bè anh em và cho đổng đội.

Khi đất nước bị lâm nguy, những người con của quê hương đồng sức, đồng lòng đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu. Mỗi người một tên tuổi, một quê hương nhưng họ có chung một khát vọng, một tình yêu. Đó là tình yêu quê hương, đất nước và những người thân yêu ruột thịt. Mỗi người ở một vùng quê khác nhau nhưng họ đều ra đi vì lý tưởng chung bảo vệ quê hương đất nước, chiến đấu giành độc lập tự do cho dân tộc:

“Người đây ai cũng trẻ măng Những bàn chân Nam - hà gót rỗ Màu mắt trong của Hà - tây quê lụa Giọng Thái - bình bát ngát gió hàng tre Một con đường có đủ mặt trăm quê”

(Viết trên đường 20)

Với nhịp điệu của thơ tự do không hề bị gò bó, giọng thơ hổn nhiên, khỏe khoắn, Xuân Quỳnh cho ta thấy tình cảm thương yêu, trân trọng của chị đối với những người con của quê hương sẵn sàng ra đi bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn sự bình yên cho từng mái phố, từng xóm làng thân thuộc :

Phong cách thơ X uân Quỳnh _____________________________

64 Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

“Bộ đội về rộn rã khắp nơi Các anh ấy thay anh gọi mẹ

Anh có nghe tin chiếc máy bay vừa hạ Người đi về gặp ụ súng đầu thôn Biết đâu là tiền tuyến, hậu phương Noi nào chẳng có người ra trận”

(Thơ dọc triển sông)

Nếu như với “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế k ỹ ' (Lê Anh Xuân), “Nhấp nhô sông núi những sư đoàn" (Nguyễn Đức Mậu), “Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi” (Tố Hữu)... đã khắc họa thành công vẻ đẹp kỳ vĩ, chói lòa của người chiến thắng thì thơ Xuân Quỳnh cũng là phát hiện vẻ đẹp anh hùng của con người Việt Nam, vẻ đẹp trong đời thường ta chưa nhìn thấy hết. Nhưng hình tượng anh hùng trong thơ Xuân Quỳnh ít thấy dáng dấp tượng đài, ít thấy những đặc điểm của phương diện ngoại hiện như tầm vóc, tư thế, dáng đứng. Thế giới nội tám mới làm nên đặc điểm của hình tượng con người thời đại của thơ Xuân Quỳnh. Ta bắt gặp trong thơ Xuân Quỳnh, con người “trằn trọc”, “thương”, “nhớ",nghĩ”... Không viện đến kỹ xảo, thủ pháp hình thức, Xuân Quỳnh nói điều đó một cách giản dị, phát hiện ra chất sử thi vốn có trong hiện thực cuộc sống:

Không ai có quyền nghĩ lâu trong lúc đạn bom Không cản bước bạn bè dẫu chỉ bằng cái chết Chính ở đây mới biết sâu lòng căm ghét Chính ở đây mới hiểu hết nghĩa yêu thương”

(Viết trên đường 20)

Sự sống và cái chết, niềm yêu thương và lòng căm ghét, ranh giới giữa chúng chỉ trong giây phút, trong gang tấc nhưng cũng rất rõ ràng, không hề lẫn lộn. Sự đối lập tuyệt đối có thể cực đoan, sự cực đoan do thiếu độ vững vàng về tư tưởng nghệ thuật. Xuân Quỳnh đã chứng tỏ trình độ, bản lĩnh nghệ thuật trong việc vận dụng hình thức trình bày, làm cho nó trở thành hình thức mang tính nội dung. Nó biểu hiện thái độ dứt khoát, rõ ràng, không hề băn khoăn, do dự trong lựa chọn hành động của người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam trước hoàn cảnh.

Trong những ngày chống Mỹ, tất cả tình cảm, tài năng, trí tuệ của dân tộc ta đều hướng ra chiến trường. Đội ngũ những người ra trận trong cái nhìn của Xuân Quỳnh là những người yêu, người bạn, là những người con, là những nhà thơ, những bác sĩ, kỹ sư ... Họ đã gác lại những hoài bão, ước mơ, nén những tâm tư tình cảm chất chứa trong lòng để lên đường theo tiếng gọi giục giã của quê hương.

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh luôn giành những vần thơ đầy tự hào với niềm cảm phục, yêu thương và hết sức trân trọng đối với những người chiến sĩ, người đồng đội đã chiến đấu, đã ngã xuống cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương. Theo tiếng gọi hành quân, đoàn con trai lên đường ra trận. Còn lại, nơi hậu phương những người bà, người mẹ, người chị... cũng sẵn sàng chiến đấu, thắp lửa cho quê hương.

Và đây, những người con gái Thủ đổ chấp nhận hi sinh những lợi ích riêng tư để cùng phục vụ cho lợi ích chung của quê hương, của dân tộc:

“Con gái Thủ đô toàn mặc quần đen Sơ - mi ngắn tóc thường cắt ngắn Vào nhà máy đi làm quen đeo súng Thấp thoáng trên đường tự vệ sao vuông”

(Những năm ấy)

Xuân Quỳnh đồng cảm với những thiệt thòi của người con gái Thủ đô. Lẽ ra, họ phải được làm duyên với mái tóc dài, với bộ áo dài thướt tha nhưng vì hoàn cảnh của quê hương, vì nhiệm vụ kháng chiến, họ sấn sàng hi sinh tất cả, kể cá tính mạng mình.

Hòa trong mạch thơ chống Mỹ ấy, Xuân Quỳnh cũng viết về lãnh tụ, về nhân dân với niềm tôn kính, thiêng liêng. Viết về chiến tranh, Xuân Quỳnh không tô hồng hiện thực, chị viết những gì đang diễn ra trước mắt: Đó là sự khốc liệt và những thương đau. Cuộc sống của những người dân chẳng ỉúc nào bình yên, họ sống với bom đạn, với những lo toan căng thẳng giữa sự sống và cái chết được đo bằng tấc gang. Những vần thơ Xuân Quỳnh viết nên thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của chị trước sô' phân, trước cuộc sống của những người dân trong những ngày chiến tranh.

Dảu đất nước còn chiến tranh, cuộc sống của nhân dân còn khó khăn, vất vả. Song, những vần thơ ngợi ca vẻ đẹp con người vượt lên trên hoàn cảnh vẫn còn sáng mãi:

“Dẫu chúng tôi chẳng còn lại gì đâu Còn chúng tôi, chúng tôi còn tất cả”

Lý tưởng lớn của cả dân tộc, của cả thời đại là nguồn xúc cảm trong nhiều sáng tác những năm chống Mỹ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh hấp dẫn nhiều thế hệ cững bỏi tình cảm lớn lao này. Xuân Quỳnh viết rất hay, rất thuyết phục về tình yêu Tổ quốc của những con người thời chống Mỹ cứu nước. Đó là những con người mang lý tưởng thời đại:

“Ta không đội trời chung với bọn giặc xâm lăng Yêu cái sống chẳng bao giờ sợ chết... ”

(Chúng tôi)

Nguyên Thi Kim Đinh

66

Một phần của tài liệu Phong cách thơ xuân quỳnh (Trang 61 - 71)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)