Ngôn ngũ là yếu tố đầu tiên để xây dựng nên một tác phẩm thơ ca. Cùng có nguồn gốc từ đời sống nhưng vận dụng nó, sáng tạo nó như thế nào là tài năng của người nghệ sĩ. Thế giới ngôn ngữ trong thơ Xuân Quỳnh là thứ ngôn ngữ của cuộc sống đời thường nhưng rất giàu chất thơ.
Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh rất mới và đa dạng. Trên con đường “truy tìm”
hạnh phúc, trái tim chị luôn sâu nặng, đau đáu, thuỷ chung. Lý lẽ của con tim không có gì thuyết phục hơn là sự giản dị. Cội nguồn và sự tìm tòi của thơ ca là sự biểu đạt cái lớn lao nhất bằng những từ ngữ giản dị nhất, hồn nhiên nhất. Khác với nhiều nhà thơ đương thời cùng thế hệ, Xuân Quỳnh không nhìn cuộc đời dưới lăng kính màu hồng, chị không tố điểm cho những gì hào nhoáng, giả dôi. Từ một góc nhìn của cảm xúc, chị nhìn thế giới vạn vận theo cách riêng, phản ánh nó bằng ngôn ngữ của riêng Xuân Quỳnh.
3.2.1.1. Ngôn ngữ giàu chất dân gian:
Những câu chuyên cổ tích, những bài ca của quê hương, đất nước đã đến với Xuân Quỳnh qua lời ru, lời kể của bà và in dấu trên những trang thơ của chị. Dấu ấn của ca dao, dân ca trong thơ chị được biểu hiện dưới nhiều hình thức. Khi là những câu ca dao được sử dụng nguyên vẹn như:
“Chàng ơi đưa gói thiếp mang
Đưa gươm thiếp vác cho chàng đi không...”
(Gửi mẹ) Và có khi là sự trích dẫn đẩy sáng tạo:
“Tháp mười ta có hoa sen đẹp nhất Đất nước mình tên Bác cũng như hoa...”
Chất liệu dân gian khiến cho người đọc dễ nhớ, dễ thuộc, nó mang lại cái dáng vẻ mềm mại, uyển chuyển cho câu thơ. Nói thơ Xuân Quỳnh có yếu tố truyền thống cũng một phần chị đã tiếp thu vãn học dân gian để đưa vào ngôn ngữ thơ mình.
Ngôn ngữ dân gian đã được chị vận dung hết sức sáng tạo:
“ Biết ơn hạt muối mặn mòi Với gừng cay để cho người nhớ nhau”
(Tình ca trong lòng Vịnh)
Tính chấl ngôn ngữ dân gian đã khiến cho nỗi nhớ vì thế mà cũng được thể hiện hấp dần và siết chặt.
Phong cách th ơ Xuân Quỳnh
100 Nguyễn Thị Kim Định
Phong cách thơ Xuân Quỳnh
Đặc biệt là những trang thơ viết về trẻ em và viết cho trẻ em thì yếu tô' dân gian thấm đẫm trong thơ chị. Chị đã đưa đến cho các em thế giới cổ tích diệu kỳ.
Chị đã lý giải thế giới qua con mắt trẻ thơ, hợp với tư duy con trẻ bằng ngôn ngữ giàu chất dân gian mang âm hưởng đồng dao, bằng lối nói ngược...:
Màu xanh bắt đầu cỏ Màu xanh bắt đầu cây
(|Chuyện cổ tích về loài người)
Miêu tả những sự vật trong thế giới hiện đại nhưng lý giải nó bằng hình thức dân gian: thế thơ lục bát, những câu vè, những bài đồng dao là điểm đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh.
“Quả tim như cái đổng hồ
Nằm trong lồng ngực giục giờ hành quân Dế con cũng biết đào hầm
Con cua chẳng ngủ canh phòng đạn bom Trong trăng chú cuội tắt đèn
Để che mắt giặc mây đen kéo về...”
(Tuổi thơ của con)
Qua ngôn ngữ thơ của mình, Xuân Quỳnh đã giải thích cho con trẻ cả những điều vô cùng lớn lao. Đó là chiến tranh: đạn bom, quân giặc - những ngôn từ hiện đại nhưng lại được giải thích bằng lối ví von nhân hóa, bằng thể thơ lục bát - đặc trưng của chất dân gian thật ngộ nghĩnh, thật dẻ hiểu, gần gũi với thế giới trẻ thơ, với tư duy của con trẻ.
Dân gian mà hiện đại. Ở chị hai yếu tố này song song, bổ trợ cho nhau - tạo nên hiệu quả thẩm mỹ lớn, mang dấu ấn của phong cách thơ Xuân Quỳnh
Tính hiện đại trong ngôn ngữ Xuân Quỳnh còn được thể hiện ở sự giản dị, tự nhiên, dân giã. Những từ ngữ vốn chỉ được dùng trong cuộc sống hàng ngày đã được chị đưa vào thơ hết sức linh hoạt. Và cũng tạo hiệu quả thẩm mỹ, tạo nên dấu ấn riêng của Xuân Quỳnh
3.2.1.2. Ngôn ngữ giản dị, dán giã của cuộc sống tình yêu, lao động và chiên đấu
Gắn bó sâu sắc với đời thường và lấy đời thường làm đề tài chính, vì thế lớp ngôn ngữ đời thường xuất hiện khá phổ biến trong thơ các nhà thơ nữ. Không cần đến ẩn dụ, tượng trưng, lớp ngôn ngữ này mang đến một vẻ đẹp tự nhiên và giản dị cho thơ của các chị. Mẹ tôi đi chợ xa- Bóng dài rồi lại ngắn - Trong bóng mát thời
Phong cách tho'Xuân Quỳnh
gian đi qua Trong bóng mát thời gian trở lại (Lâm Thị Mỹ Dạ); Tôi lớn dán trong vạt áo tứ thân ~ Câu hát cũ mẹ ru ấm áp - C ủ đu gai đen thui lấm láp - Lại ngọt bùi trong trắng khó nhìn rư (Phan Thị Thanh Nhàn); Xóm đê ngày trước ngại nhau - Mu còng bới rác - Mẹ con nhà lông gà giẻ rách - Gã tư say - Thằng bé đánh giày...(Phan Thị Thanh Nhàn)... Cuộc sống hiện lên với tất cả vẻ tự nhiên, chân thật và sinh động. Dường như các nhà thơ quan sát như thế nào thì phản ánh nó như vậy không cần cân nhắc đến câu chừ.
Song điều đặc biệt ở Xuân Quỳnh là ngôn ngữ đời thường giản dị, mộc mạc được sử dụng với lần sô' cao. Tâm hồn rất dễ rung cảm trước những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt, vặt vãnh, những chuyên như là không đâu cũng được chị góp nhặt đưa vào thơ. Cái mà ở người khác chỉ là chuyện thoáng qua, thì ở chị nó lắng sâu và dường như dừng lại, trở thành một ám ảnh không nguôi. Tất cả những điểu này đã ảnh hướng ràt lớn đến cách lựa chọn, sử dụng từ ngữ trong thơ chị.
Thơ kháng chiến chống Mỹ đánh dấu sự phát triển dày đặc của những từ ngữ sinh hoạt, chiên đâu. Các tác giả đều giữ lại cho thơ chất thú vị riêng của ngôn ngữ đời sông. Xuân Quỳnh cũng vậy, song có những hình ảnh mà Xuân Quỳnh đưa vào thơ thời chiến thật hiếm gặp :
“Khi con sinh cái tã đã nhuộm xanh Cái nôi mắc trước cửa hầm trú ẩn”
(Khi con ra đời)
Đây là hình ảnh mà người ta tránh nói trong thơ trong những năm tháng chiến tranh, vậy mà Xuân Quỳnh lại nhắc đến nó thật đẹp đẽ, thật tự nhiốn. Nó gợi nên sự sinh sôi, gợi nên sức sống dai dẳng mãnh liệt. Nó cho ta thấy giá trị hạnh phúc đời thường trong chiến tranh.
Khi viết về tổ ấm gia đình, Xuân Quỳnh lại trở đi, trở lại với những từ ngữ bình thường, quen thuộc, thậm chí rất mộc mạc, khó có chất thơ: châu, nồi, lửa, bức tranh, bếp dầu, ngọn đèn, cãn gác cũ... - những cái gắn với thiên chức làm vợ, làm mẹ của người phụ I1Ữ trong gia đình. Song điều đáng nói, chị không dùng những từ đó như là sự liệt kê các hình ảnh, điểm tên sự có mặt của chúng mà là sự cân nhắc, lựa chọn để nói lên những điều sâu xa hơn: sự hiện thân của những gì gắn bó. thân thiết - đó là chất liệu tạo nên tổ ấm gia đình - nơi mà người phụ nữ nào cũng khát khao.
Ngôn ngữ thơ Xuăn Quỳnh tự nhiên, gắn với sinh hoạt hàng ngày vì ớ đó ta thấy có rất nhiều từ ngữ, hình ảnh của thiên nhiên, của cuộc sống đời thường. Xem
102 Nguyễn Thị Kim Định
xét hai tập thơ “Gió Lào cát trắng” và “Hoa cỏ may” thấy thật nhiều những từ ngữ mưa nắng, mây, nước, đê, cát, bàn tay, bàn chân, khoai lang, bạch đàn... rồi những chậu, nồi, tách nước, bức tranh, cây bút... Chị đã lựa chọn những từ ngữ mang hình ảnh dễ gặp, dễ thấy của thiên nhiên, đời sống hàng ngày để làm chất liệu cho mình.
Tuy nhiên, đó chỉ là cái cớ để chị diễn tả tâm trạng mình:
“Mỗi sáng tôi chào mặt đất Những đàn ong kiếm mật buổi mai Cỏ ven sông và bãi sa bổi
Phù sa ướt còn nồng mùi cá
Cành đước mận, cây ngô trong kẽ đá Những con đường khuất sau lá rừng xanh”
thì điều chị muốn đem lại qua những từ ngữ đời thường ấy là cái nhìn trẻ trung, tươi mới, lòng tha thiết với đời của một tâm hổn bao giờ cũng nhìn cuộc sông trong “cá/ thuở bơn đầu” đầy nhiệt thành.
Ngay cả ở một địa hạt khá trang trọng: thơ tình yêu, Xuân Quỳnh vẫn viết thật tự nhiên, mộc mạc bằng những từ ngữ tự nhiên như những lời nói thường:
“Tóc anh thì ướt đẫm Lòng anh thì cô đơn Anh cần chi nơi em Sao mà anh chẳng nói”
(Anh)
Đưa vào thơ chất liệu ngôn từ giản dị, mộc mạc tự nhiên nhưng vẫn giàu chất thơ, vẫn không làm giảm sức hấp dẫn của thơ là điều mà Xuân Quỳnh đã thành công khi lựa chọn ngôn ngữ thơ cho riêng mình.