Chương 1 KHÁI LƯỢC KÍ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA VŨ BẰNG
1.2. Hành trình sáng tác của Vũ Bằng
1.2.3. Cuộc sống và hoạt động văn học đô thị miền Nam (1954 - 1975)
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève được kí kết, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Cũng trong thời gian này, do chiến dịch tuyên truyền của Pháp và Mỹ, nhiều người dân miền Bắc đã lên tàu di cư vào miền Nam. Vũ Bằng cũng nằm trong số đó. Một ngày đầu tháng 10 -1954, ông quyết định xa Hà Nội, xuống Hải Phòng để vào Nam. Nhiều bạn bè thân thiết khuyên ông đừng đi. Tô Hoài, Phùng Bảo Thạch viết thư dài khuyên ông ở lại, “có anh giận quá, dùng những lời lẽ không nhẹ nhàng, nhưng hầu hết đều tỏ ra chí tình”
[29;196], nhưng không một ai ngăn được ông. Vũ Bằng bước vào cuộc hành trình đã định với mục đích, lí do riêng. Từ đó cho đến mãi sau này, nhiều người nghĩ ông là kẻ phản bội. Và cũng vì điều này mà vợ con nhà văn ở miền Bắc đã phải chịu bao thiệt thòi cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Nhà giáo Vũ Hoàng Tuấn kể: “Chúng tôi sống trong sự nghi ngờ suốt hai mươi năm trời đằng đẳng” vì mang tiếng có người cha “phản bội tổ quốc”. Bà Nguyễn Thị Qùy âm thầm chịu nỗi đau riêng của người phụ nữ còn xuân sắc mà phải sống xa chồng suốt mười ba năm, biết việc chồng làm nhưng không được phép nói ra sự thật. Ôm nỗi niềm riêng tư, lại bị bệnh lao, bà mất 1967 trong cảnh vợ Bắc chồng Nam. Số phận lại đặt Vũ Bằng trước những thách thức mới, oan nghiệt mới mà chỉ ông mới thấu hiểu được.
Vào Nam, năm 1960, Vũ Bằng lấy người vợ thứ hai là bà Lương Thị Phấn, nhỏ hơn ông hai mươi hai tuổi. Bà Phấn là người Tân Phú, xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Vĩnh Long. Tuy là con gái vùng ruộng đồng, sông nước nhưng bà có vẻ đẹp dịu dàng, thanh thoát, nhẹ nhàng như gái thị thành. Bà Phấn lên Sài Gòn học may và lo luôn cả việc cơm nước cho Vũ Bằng. Từ lòng thông cảm, họ đã đến với nhau, rồi thành vợ chồng. Bên Vũ Bằng, mạnh mẽ, từng trải, già dặn, bà Phấn hồn nhiên, trong trẻo và có phần yếu đuối. Bà Phấn đã một lần gẫy gánh, về làm vợ Vũ Bằng, bà dắt theo đứa con riêng tên Lê Văn Long lúc này vừa bốn tuổi. Và cũng như trước kia đã từng nuôi nấng con riêng của người vợ đầu, giờ Vũ Bằng đã chăm sóc dạy dỗ Long như chính con ruột mình. Người con gái đầu lòng của họ ra đời 1961 và sau đó lần lượt thêm năm người con nữa - tổng cộng ba gái, ba trai. Cả Vũ Bằng và vợ đã cũng gồng mình để gánh cả gia đình, lo cho đàn con có được cái ăn, cái mặc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Vũ
Bằng viết để chạy bài và viết về những sách về hôn nhân gia đình là vì lý do gia cảnh này.
Từ 1954 - 1975, hơn hai mươi năm sống ở Sài Gòn, Vũ Bằng được công chúng biết đến trong vai trò là một nhà văn, nhà báo tự do, công khai giao du với nhiều thành phần trong xã hội, cộng tác với nhiều cơ quan báo chí, trong đó có Việt tấn xã - cơ quan thông tấn của chính quyền Ngô Đình Diệm. Năm 1969, trong Bốn mươi năm nói láo, ông nói về chuyến vào Nam của mình với cách lý giải rất chung và cũng rất riêng. “… Nhưng Nam, Bắc cũng là đất nước, sao cứ phải coi chuyến đi này là một cuộc di cư mà không là một vụ đi chơi bậy bạ để tiêu sầu khiển ứng?” [29;196]. Có nhà nghiên cứu cho rằng: “Ông luôn công khai tự đấm vào ngực mình, tự sỉ vả, buộc tội mình. Rõ ràng đây không chỉ là một cách đơn thuần bồi dầy thêm cho cái vỏ bọc ngày càng chắc chắn để che mắt kẻ thù, mà chắc chắn còn là một tâm lý tự vệ có thật của Vũ Bằng trước mọi lời đồn đại” [63;21]. Nhưng chúng tôi không nghĩ như thế. Nếu nói rằng về mặt tâm lý, ông vẫn có khuynh hướng muốn thanh minh, muốn khẳng định phẩm chất chân chính của minh thì hóa ra trong quá trình hoạt động cách mạng, tâm lý ông không yên ổn, tinh thần ông không vững vàng trước thử thách. Nếu thế thì hành động dấn thân của ông là không trọn vẹn. Vũ Bằng đã chủ động dấn thân vào một hoạt động đầy khó khăn, khắc nghiệt, tự nguyện hy sinh cả vật chất lẫn tinh thần. Không có lẽ sau hai mươi năm, ông lại sợ bị hiểu nhầm! Tác phẩm Thư cho người mất tích (1950) đã được viết trong lập trường nhà văn ở thành vẫn ủng hộ kháng chiến, tin vào phong trào giải phóng dân tộc. TheoTạ Tỵ, Vũ Bằng thường nói với ông là “ước mong viết một quyển truyện dài Trường giang nói về chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ lúc ta đánh Pháp đề là “Xóm Mả Đỏ”, câu chuyện lồng trong một gia đình di cư giữa bối cảnh lịch sử đấu tranh mấy chục năm trời của toàn dân Việt Nam” [115;119].
Vì vậy, theo chúng tôi, đã bao nhiêu năm qua, Vũ Bằng im lặng, không thanh minh thì giờ không có lý do gì lại sỉ vả mình, vì như thế cũng là một cách gián tiếp phủ nhận nhiệm vụ mình đang làm. Và nếu cho rằng đó cũng là cách tạo vỏ bọc thì điều này không cần thiết, bởi Vũ Bằng đã có mối quan hệ với chính khách làm bằng. Theo người bạn thân thiết của Vũ Bằng là Hồ Nam, những ngày cuối đời, Vũ Bằng đã giải thích cho ông và Tam Lang nghe lý do vì sao Vũ Bằng giao du với Mai Đen (đại tá Thanh Tùng) - người một thời làm giám đốc Trung ương tình báo của tướng Nguyễn Cao Kỳ. Vũ Bằng thổ lộ “cái
thứ tình báo tôi làm là thứ tình báo chiến lược nên phải tiếp cận cỡ Mai Đen mới “moi” được tin tức. Những ngày chưa móc nối với Mai Đen thì tôi làm báo với ông Trần Nguyên Anh, chú của Bộ Trưởng thông tin Trần Tuấn Thành. Ở đó có một kho tin mật, bởi vì ông anh chơi thân với anh em Ngô Đình Diệm”
[83;32]. Việc tổng cục II thuộc Bộ Quốc Phòng chính thức công nhận Vũ Bằng là chiến sĩ tình báo cách mạng là bằng chứng về ý nghĩa hy sinh thầm lặng của Vũ Bằng. Việc ông là thành viên trong mạng lưới hoạt động tình báo cách mạng trong thời gian ấy cho thấy ông luôn ở trong tình thế đặc biệt – vừa phải tạo vỏ bọc để hoàn thành công tác được giao, vừa phải làm thế nào để không bị biến chất.
Vào Sài Gòn từ 1954, đến1969, Vũ Bằng mới nói về chuyến vào Nam của mình trong cuốn hồi kí Bốn mươi năm nói láo. Với cách nói “Hà Nội là đất nước mình” mới đúng là cách nói của Vũ Bằng – một người dân yêu quê hương đất nước, một nhà văn viết về quê hương đất nước. Hơn nữa, nó cũng phù hợp với vai trò của người chiến sĩ tình báo. Lý do ấy thật đơn giản nhưng thuyết phục. Nó vừa thể hiện tâm hồn, vừa thể hiện phẩm chất và bản lĩnh của nhà văn – chiến sĩ. Mặt khác, những lời giải thích lại được viết trong hồi kí – một thể loại được xem là nói thật, viết thật. Hai tập kí dày dặn Miếng ngon Hà Nội, Thương nhớ mười hai viết trong hoàn cảnh Bắc Nam đôi ngã đã gửi trọn niềm thương nỗi nhớ của ông về đất Bắc, với ước mong Nam Bắc một nhà là bằng chứng thiết thực về lòng yêu nước của ông. Tự ngôn trong tập truyện kí Bát Cơm đúng là những lời của chính nhà văn nhưng thiết nghĩ, đó là một cách nói để giới thiệu những truyện kí theo tác giả là được viết từ những năm 1948, bị mất trong thời gian dài và giờ đã lần lần tìm lại được. Tất nhiên, chúng ta không tuyệt đối hóa con người Vũ Bằng và cũng hiểu rằng, trong cuộc đời mình về mặt tâm lí, con người có những lúc do dự, lo âu…
Trong hai cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhiều nhà văn, nhà thơ đã thành liệt sĩ như Nam Cao, Trần Đăng, Hồng Nguyên, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Lê Vĩnh Hòa… được tổ chức ghi công và nhân dân ca ngợi. Vũ Bằng không để xương máu ở chiến trường mà hy sinh trong thầm lặng hoạt động tình báo, chịu những phán xét nặng nề, những đau đớn về mặt tinh thần, tình cảm. Trong số các nhà văn từ miềm Bắc đi vào miền Nam, có nhà văn chuyên tâm với nghề dạy học và nghề viết, không tham gia
gia quân đội Sài Gòn. Riêng Vũ Bằng vẫn tiếp tục con đường hoạt động tình báo cách mạng trong vỏ bọc của một nhà văn di cư với bao oan ức mà gia đình ông phải gánh chịu. Hoạt động thầm lặng này không chỉ khẳng định lòng yêu nước, tinh thần hy sinh, bản lĩnh của Vũ Bằng mà còn cho thấy sự nhất quán trong con đường cách mạng mà ông đã chọn lựa để dấn thân. Sự hy sinh của Vũ Bằng vì vậy càng có ý nghĩa lớn lao.
1.3.1.2. Về hoạt động văn học
Vũ Bằng cũng thuộc lớp nhà văn di cư. Suốt hai thập kỉ di cư, lĩnh vực hoạt động chính của ông vẫn là báo chí và văn học. Đến giai đoạn 1945 - 1975, văn và báo vẫn gắn bó khăng khít như giai đoạn 1930 - 1945. Những tác phẩm kí thời kì này: Miếng ngon Hà Nội (1960), Bốn mươi năm nói láo (1969), Món lạ miền Nam (1970), Thương nhớ mười hai (1971).
Trong giai đoạn này, tác giả dựng chân dung văn học về Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Tản Đà, Nguyễn Nhược Pháp, Tú Mỡ, Thạch Lam, Nguyễn Văn Tố… ngoài ra, nhà văn cũng viết nhiều trên tạp văn đăng trên các tạp chí, tuần san… về văn học, văn hóa nghệ thuật và các hiện tượng xã hội… và điều đáng quý ở Vũ Bằng là dù trong hoàn cảnh nào ông cũng say mê sáng tác. Do hoàn cảnh hoạt động không công khai nên tiếng nói, cách thể hiện của Vũ Bằng khác với các nhà văn khác. Những biến động xã hội cùng với sự phát triển của khuynh hướng văn học yêu nước và nhu cầu phản ánh, giãi bày là những nguyên cớ khiến Vũ Bằng gắn với thể loại kí. Sáng tác của Vũ Bằng ở giai đoạn này thể hiện sự khát khao tìm về dân tộc, cội nguồn; phê phán thực trạng xã hội – chính trị của miền Nam và phản ứng nền văn minh đô thị. Những sáng tác mang sắc thái riêng ấy của nhà văn cũng nằm trong mạch nguồn chung của chủ đề yêu nước trong dòng văn học yêu nước, cách mạng.
Nhất quán trong cách nhìn, cách đánh giá hiện thực khi quan tâm đến đời sống và số phận của con người. Nhà văn nghe ra được “Tiếng nguyền rũa não nề” của dân chúng vì chế độ tự do bị nhà Ngô bóp chẹt; chú ý đến chính sách độc tài, những hành động tàn ác của chế độ Ngô Đình Diệm đối với phong trào biểu tình, tự thiêu của Tăng ni, Phật tử, Học sinh, Sinh viên. Vũ Bằng bày tỏ tâm trạng của mình: “Trên tất cả, tôi cảm thấy sỉ nhục vì quốc gia bị hết quân này, nước kia đến xâm chiếm, lại thêm một bọn người đắc thế vì được ngoại quốc tin dùng cưỡi lên đầu lên cổ mà khống chế” [29;281].
Từ 1954 - 1975, Vũ Bằng ở trong hoàn cảnh đặc biệt: tên tuổi không còn trẻ, lại phải xa quê hương, xa gia đình mà ông vô cùng yêu thương và gắn bó.
Bao điều cần nói, muốn nói ông đều đem gửi gắm trong các sáng tác của mình.
Và hơn hết, những tác phẩm kí là tiếng lòng của ông.
Hoạt động công khai trong lòng Hà Nội tạm chiếm, rồi sau này trong lòng đô thị Sài Gòn thời kì Mỹ và chế độ Việt Nam cộng hòa, Vũ Bằng đã nắm bắt được hiện thực xã hội ở hai vùng đô thị này. Đó là cái đời thường của cuộc sống con người trong thời buổi nhiễu nhương, nhưng qua nó người ta biết và hiểu hơn về hậu quả của chiến tranh, hình dung đầy đủ hơn về đời sống xã hội và con người trong những giai đoạn lịch sử hào hùng và bi thương của đất nước.
Hầu hết những sáng tác của Vũ Bằng ở hai chặng đường 1945 - 1954 và 1954 - 1975 đều thể hiện đề tài này. Tác phẩm gây tiếng vang được Vũ Bằng hoàn thành vào cuối năm 1969 là cuốn hồi kí Bốn mươi năm nói láo. Những ai muốn hiểu cuộc sống của lớp người cầm bút trước 1945, có thể tìm thấy ở đây những chi tiết thú vị. Kể lại những trò ngang ngược mà đám viết văn viết báo như mình đã làm thời còn trai trẻ, Vũ Bằng dùng lối nói đùa bỡn, nghịch ngợm, song đằng sau những chuyện có vẻ như đùa đó, người đọc vẫn bắt gặp ở tác giả một tình yêu nghề nghiệp sâu nặng. Đó chính là lí do khiến cho người đọc cảm động.
Tóm lại, Sáng tác của Vũ Bằng, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều bày tỏ một thái độ phê phán, bất mãn trước một thực trạng xã hội hỗn loạn, đảo lộn hết thảy những giá trị nhân sinh đích thực. Và con người yêu nước của Vũ Bằng ở giai đoạn này hiện sự hy sinh hạnh phúc riêng tư, nhận lấy trách nhiệm nặng nề:
hoạt động tình báo vùng nội thành Sài Gòn. Con người nghệ sĩ Vũ Bằng hoài niệm về văn hóa truyền thống dân tộc với cảm xúc mãnh liệt, làm nên những tác phẩm kí neo đậu trong lòng người đọc.