HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI

Một phần của tài liệu Giáo trình Hệ thống thông tin đất đai - TS. Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) (Trang 31 - 35)

HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI

2.1. HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI

2.1.1. Khái niệm về hệ thống thông tin đất đai

Theo khoản 22, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định: Hệ thống thông tin đất đai là hệ thống tổng hợp các yếu tố hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm, dữ liệu và quy trình, thủ tục được xây dựng để thu thập, lưu trữ, cập nhật, xử lý, phân tích, tổng hợp và truy xuất thông tin đất đai.

Ngoài ra, tùy theo mục đích nghiên cứu và mục đích tiếp cận mà có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về hệ thống thông tin đất đai:

– Hệ thống thông tin đất đai (LIS) là tập hợp các phần tử có mối dàng buộc lẫn nhau để cùng hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định trong quá trình quản lý đất đai.

– Hệ thống thông tin đất đai (LIS) được hiểu chung là sự bao gồm hai khối thông tin bản đồ và hồ sơ địa chính quản lý thống nhất tại các cấp.

– Hệ thống thông tin đất đai (LIS) là hệ thống thông tin cung cấp các thông tin về đất đai. Nó là cơ sở cho việc ra quyết định liên quan đến việc đầu tư, phát triển, quản lý và sử dụng đất.

– Một hệ thống thông tin đất đai được định nghĩa như là sự kết hợp giữa con người và nguồn kỹ thuật với một cơ sở dữ liệu đủ lớn và một tập hợp các biện pháp tổ chức để tạo ra thông tin giúp cho các yêu cầu về quản trị nguồn tài nguyên đất.

– Hệ thống thông tin đất đai có thể cung cấp thông tin dưới hình thức như là một sản phẩm (bản đồ, hồ sơ liên quan) hoặc dưới dạng dịch vụ (như dịch vụ tư vấn chuyên ngành). Nó có thể cung cấp dữ liệu dưới dạng chữ hoặc số, dữ liệu không gian mà nó có

thể được trình diễn trên bản đồ và những dữ liệu về thời gian mà nó có thể chỉ ra tính hiện hành của dữ liệu.

– Bên cạnh đó, hệ thống thông tin đất đai còn là một thành phần của hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường, được xây dựng, kết nối, đồng bộ, chia sẻ dữ liệu, quản lý và vận hành tại cấp Trung ương và cấp tỉnh theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

2.1.2. Mục đích, yêu cầu của hệ thống thông tin đất đai 2.1.2.1. Mục đích

– Mục đích của hệ thống thông tin đất đai là quá trình biến đổi các dữ liệu đầu vào về đất đai trở thành các thông tin đầu ra nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, cũng như sử dụng đất đai, v.v..

– Hệ thống thông tin đất đai cung cấp các thông tin có liên quan đến đất đai nhằm giúp cho các cá nhân sử dụng đất, các cơ quan nhà nước quản lý, khai thác một cách hiệu quả nhất đối với đất đai. Như vậy, hệ thống thông tin đất đai là hệ thống hỗ trợ và là công cụ đa mục tiêu trợ giúp hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước về đất đai.

– Hệ thống thông tin đất đai có khả năng kết nối với các hệ thống thông tin khác để phục vụ một cách toàn diện về công tác quản lý nhà nước về đất đai và sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân như: nông nghiệp, giao thông, xây dựng, quy hoạch đô thị, v.v.

thông qua việc cung cấp các thông tin về hiện trạng sử dụng đất, về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các thông tin về giá trị đất đai và các thông tin pháp lý liên quan đến đất đai, v.v..

Ngoài ra, hệ thống thông tin đất đai được xây dựng để phục vụ cho các ngành có nhiệm vụ đặc biệt như: an ninh, quốc phòng, v.v..

– Bên cạnh đó, hệ thống thông tin đất đai phục vụ đắc lực, hiệu quả cho việc hình thành, phát triển thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản thông qua việc cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin về đất đai.

Như vậy, hệ thống thông tin đất đai được xây dựng nhằm giúp các cơ quan quản lý

nhà nước nắm chắc và quản chặt quỹ đất của quốc gia; sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả mang lại lợi ích lớn nhất cho quốc gia đó.

2.1.2.2. Yêu cầu

Khả năng đáp ứng: Hệ thống thông tin đất đai được xây dựng phải đảm bảo cung cấp thông tin cho người quản lý và người sử dụng. Các đối tượng sử dụng thông tin có thể là các cơ quan trong nội bộ ngành, các cơ quan liên quan đến ngành, các cá nhân và tổ chức có yêu cầu. Hệ thống phải có khả năng tích hợp, thống nhất nhiều dạng dữ liệu khác nhau, với dung lượng rất lớn. Hệ thống thông tin đất đai phải được xây dựng trên cơ sở công nghệ tiên tiến, có độ tin cậy cao, có tính mở và phù hợp với địa phương và nguồn nhân lực hiện có.

Tính tập trung: Toàn bộ hệ thống phải hoạt động trên một cơ sở dữ liệu thống nhất, phù hợp với các chức năng và nhiện vụ của từng đơn vị tham gia vào công tác quản lý đất đai; Hệ thống thông tin đất đai phải có tính phân cấp với các quyền hạn xác định cho từng cấp tuân theo luật và các văn bản quy phạm pháp luật; Hệ thống thông tin đất đai phải tuân theo các chuẩn do nhà nước đã quy định như: chuẩn ngôn ngữ, chuẩn phân lớp thông tin, chuẩn về khuôn dạng, định dạng dữ liệu, chuẩn về trình bày dữ liệu, v.v. và có tính thống

Tính tin cậy: Hệ thống dữ liệu phải đảm bảo độ tin cậy với người dùng, dữ liệu được phát hành phải chính xác, thường xuyên được cập nhập, đảm bảo không thể tự ý sửa đổi hay thay thế.

Tính sẵn sàng: Hệ thống thông tin đất đai phải đơn giản, dễ sử dụng. Đảm bảo có thể khai thác trao đổi thông tin trong mọi thời điểm, mọi vị trí cần thiết.

Tính an toàn: Hệ thống thông tin đất đai phải có cơ chế bảo mật và an toàn dữ liệu, tránh sự tấn công của các tác nhân như ngoại cảnh. Không bị hỏng, mất thông tin trong bất kỳ lý do nào.

2.1.3. Vai trò và nhiệm vụ của hệ thống thông tin đất đai 2.1.3.1. Vai trò

– Hệ thống thông tin đất đai là công cụ trực tiếp phục vụ cho việc hoạch định các chính sách đất đai: đó là các thông tin phục vụ cho các quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, định giá đất, thu thuế đất, v.v..

– Hệ thống thông tin đất đai là công cụ để quản lý thống nhất hệ thống các dữ liệu về bản đồ, về hồ sơ địa chính, các thông tin về tài nguyên đất và cung cấp các thông tin đất đai cho các hoạt động kinh tế của các ngành, các địa phương và các đối tượng sử dụng đất.

– Hệ thống thông tin đất đai là công cụ quản lý chi tiết tới từng thửa đất, từng chủ sử dụng, quản lý cả các quá trình chuyển đổi đất đai, kiểm tra đất đai, theo dõi quá tình quản lý và sử dụng đất.

– Hệ thống thông tin đất đai là công cụ đặc biệt và hiệu quả cho việc cung cấp các thông tin đất đai cho thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản.

2.1.3.2. Nhiệm vụ

– Nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trên cơ sở luật đất đai, việc quản lý bằng phương pháp thủ công đã bộc lộ rõ những nhược điểm và thực sự không đáp ứng kịp với xu thế phát triển hiện nay.

– Thông qua các công tác đo đạc để xây dựng hệ thống bản đồ và hồ sơ địa chính thống nhất trên phạm vi cả nước trong đó thể hiện đầy đủ các thông tin ranh giới hành chính, ranh giới thửa đất, hệ thống giao thông, thủy hệ, địa giới hành chính các cấp, các tài sản gắn liền trên đất và các thông tin pháp lý có liên quan, v.v..

– Phục vụ cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, đánh giá đất, định giá đất và thu thuế đất, v.v..

– Cung cấp thông tin không chỉ đối với ngành quản lý đất đai, không chỉ một nhóm người trong xã hội mà nó sẽ cung cấp cho đa ngành và các đối tượng, tầng lớp khác nhau trong xã hội.

2.1.4. Đặc điểm và chức năng của hệ thống thông tin đất đai 2.1.4.1. Đặc điểm

– Hệ thống thông tin đất đai là hệ thống có đầy đủ các tính chất, đặc điểm của một hệ thống thông tin.

– Hệ thống thông tin đất đai được xây dựng trên cơ sở, nền tảng của hệ thống thông tin địa lý (GIS) và quản trị cơ sở dữ liệu nên nó mang tính chất và đặc điểm của hệ thống thông tin địa lý và hệ quản trị cơ sở dữ liệu.

– Hệ thống thông tin đất đai về bản chất có cấu trúc và tính chất của một hệ thống thông tin địa lý (GIS) mang những nội dung thông tin về sử dụng và quản lý đất đai.

– Hệ thống thông tin đất đai là một hệ thống thông tin có một cơ sở dữ liệu chuẩn thống nhất, có công cụ và phương pháp để xử lý các thông tin phục vụ cho các hoạt động của hệ thống, cũng như các hệ thông tin khác liên quan đến đất và các hoạt động hoạch định chính sách cho việc quản lý và phát triển các nguồn tài nguyên đất.

2.1.4.2. Chức năng

Hệ thống thông tin đất đai là hệ thống được thiết kế tổng thể và xây dựng thống nhất trên phạm vi cả nước, phục vụ đa mục tiêu chính vì vậy nó phải đảm bảo các chức năng sau:

– Chức năng thu thập, nhập và lưu trữ dữ liệu: Hệ thống thông tin đất đai cho phép thu thập, nhập và lưu trữ các thông tin đất đai ban đầu như: thông tin về thửa đất, thông tin về chủ sử dụng đất, địa chỉ thửa đất, thông tin về loại đất, đối tượng sử dụng đất, giá đất, và các tài sản trên đất, v.v..

– Chức năng cập nhật và truy xuất dữ liệu: Chức năng cập nhật cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin đất đai bao gồm cập nhật các biến động đất đai theo từng thời kỳ và tại từng thời điểm. Các thông tin được cập nhật bao gồm cả thông tin không gian và thông tin thuộc tính trên từng thửa đất có biến động. Hệ thống thông tin đất đai có khả năng truy xuất dữ liệu như lập báo cáo thống kê theo từng loại đất, theo đối tượng sử dụng, theo thời gian, theo đơn vị hành chính, v.v.. Các thông tin truy xuất đảm bảo độ tin cậy và chính xác.

– Chức năng tìm kiếm thông tin: Hệ thống thông tin đất đai có khả năng tìm kiếm thông tin theo các yêu cầu của người sử dụng. Thông tin tìm kiếm bao gồm thông tin về đồ họa như hình dạng, kích thước, diện tích của thửa đất, các thông tin thuộc tính về chủ sử dụng đất, địa chỉ, loại đất, giá đất, các thông tin pháp lý và nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai, v.v.. Các thông tin thường để tra cứu trong hệ thống là: mã đơn vị hành chính, số tờ, số thửa, số thửa phụ, v.v..

– Chức năng trao đổi thông tin: Hệ thống thông tin đất đai có chức năng trao đổi thông tin với các hệ thống thông tin khác như hệ thống thông tin địa lý, hệ thống thông tin môi trường, hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin về nông lâm nghiệp, v.v..

Chức năng trao đổi thông tin trong hệ thống thông tin đất đai đảm bảo tính hòa hợp và tương thích về dữ liệu.

– Chức năng phát triển các ứng dụng theo xu thế phát triển ngành: Ở mỗi giai đoạn khác nhau, công tác quản lý nhà nước về đất đai có những sự thay đổi khác nhau, căn cứ vào đó hệ thống thông tin đất đai xây dựng những ứng dụng tương ứng để phù hợp với những sự thay đổi đó. Chức năng này làm cho hệ thống thống tin đất mềm dẻo hơn và phục vụ tốt hơn cho công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại các địa phương.

Một phần của tài liệu Giáo trình Hệ thống thông tin đất đai - TS. Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) (Trang 31 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(164 trang)