LỢI ÍCH CỦA QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐẤT

Một phần của tài liệu Giáo trình Hệ thống thông tin đất đai - TS. Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) (Trang 127 - 130)

HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI

4.7. LỢI ÍCH CỦA QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐẤT

Lợi ích của quản lý thông tin đất còn được thể hiện qua “giá trị kinh tế của thông tin đất”. Giá trị của thông tin đất có thể đo được tính cụ thể của nó. Với nhiệm vụ đặc biệt liên quan đến đất đai những vấn đề cần thiết phải được đề cập tới trong tập hợp thông tin là khoảng thời gian cụ thể; bên cạnh đó tiền và năng lượng là hai vấn đề để thực hiện nhiệm vụ trên. Năng lượng trong thông tin đất đã được định giá; thời gian cũng có thể quy đổi liên quan đến các chi phí, do vậy mà chi phí của việc tạo ra thông tin không nhất thiết đồng nhất với giá trị của nó. Các lãi suất thu được từ một sản phẩm có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn nhiều lần chi phí sản xuất ra nó. Trong trường hợp của thông tin đất kinh nghiệm cho thấy các sử dụng không dự kiến trước dẫn đến sự tăng vọt các chi phí trong hệ thống thông tin đất. Kỹ thuật dùng để xác định một sự đầu tư có giá trị hay không là sự phân tích chi phí và lãi. Vấn đề này được hiểu như sự so sánh bằng số của đầu vào và đầu ra của một hoạt động đầu tư. Nó là công cụ kinh tế tổng quát cho việc tổ chức và trợ giúp việc đánh giá các thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định.

Giá thành của thông tin đất

Thông tin đất tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mang tính chất thị trường hàng hóa.

Muốn biết được giá trị của thông tin cần phải xác định giá trị thị trường của nó. Có ba sách lược cơ bản để xác định giá trị này đó là giá dựa trên chi phí cơ bản; giá thành dựa trên nhu cầu người sử dụng và giá cạnh tranh.

– Giá dựa trên chi phí cơ bản

Giá thành dựa trên chi phí cơ bản đó là khi định giá cho các sản phẩm của hệ thống thông tin đất phần lớn dựa vào chi phí cố định và các chi phí biến động. Với dạng này thì giá của các thông tin đất thường là rất cao, vì để hoàn thiện được các thông tin chúng ta thấy có rất nhiều các chi phí.

– Giá dựa trên nhu cầu

Giá thành dựa trên nhu cầu đó là giá thành được định ra dựa trên cơ sở nhu cầu của người sử dụng thông tin. Có nghĩa là trong hệ thống chỉ cần xác định ai là người sẽ trả tiền cho sản phẩm, nhu cầu của họ như thế nào, v.v..

– Giá cạnh tranh

Giá thành cạnh tranh được xác định khi có nhiều hệ thống thông tin cùng sản xuất, có

cùng các thông tin về đất giống nhau (như là cùng một loại sản phẩm hay dịch vụ). Điều này tất nhiên không thể xảy ra khi chỉ có một tổ chức sản xuất có độc quyền.

Về mặt thương mại, các hàng hóa nhà nước đều được định ra một giá bảo đảm. Bản đồ sản xuất theo tính chất quốc gia và các công việc đo đạc về thực chất có giá thị trường thấp hơn nhiều so với chi phí sản xuất thực sự của chúng, sự đo đạc địa chính có các nguồn tài trợ trực tiếp và không chính thức. Ví dụ khi tiến hành công tác kiểm tra lại về đo đạc địa chính của cơ quan địa chính nhà nước thì số tiền lệ phí phải nộp cho vần đề này thực tế thấp hơn rất nhiều so với toàn bộ chi phí đo đạc. Vì vậy, khi định giá các sản phẩm của hệ thống thông tin đất cần phải có các quan điểm sau:

+ Ai là người đầu tư vào hệ thống thông tin.

+ Ai phải trả tiền cho các sản phẩm của thông tin đất và bao nhiêu.

+ Các chi phí từ đầu đến cuối (ví dụ như chi phí về điều tra đo đạc trắc địa cơ bản) có

nên tính vào lệ phí thu hay không.

+ Những mục nào có trong giá trị của thông tin đất thể tính vào phúc lợi chung và mục nào quy vào thuế đặc biệt.

+ Trong trường hợp nào cần phải có sự phân biệt giá giữa những đối tượng sử dụng và giữa các sản phẩm khác nhau.

Trong quản lý thông tin đất chúng ta thường thấy nguồn lợi do hệ thống mang lại:

– Tiết kiệm thời gian: một trong những nguồn lợi tiềm tàng làm tăng hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đất đai là sự tiết kiệm thời gian trong công việc.

– Tiết kiệm chi phí: các chi phí có thể trình bày trong mục giải trình tài chính rằng bao nhiêu phải chi trả cho mỗi mục hoạt động của dự án (ví dụ như bản đồ). Giá trị của bản đồ phụ thuộc vào sự sử dụng của nó vì bản đồ giúp người sử dụng hoạt động có hiệu quả

hơn. Người sử dụng bản đồ đã tiết kiệm được quá trình đo đạc, một trong các khâu trong một số trường hợp người ta rất khó thực hiện được.

Một vài trường hợp lợi nhuận rất cụ thể như:

– Khi quy hoạch đường.

– Trong một số trường hợp khác lợi nhuận của thông tin đất không xuất hiện rõ ràng ví dụ như bản đồ địa chính đã làm tăng sự an toàn trong việc cho thuê đất.

– Việc sử dụng thông tin trong việc đăng ký đất đai làm tăng khả năng sản xuất và giá trị của đất. (Người nông dân thiếu sự đảm bảo về quyền sử dụng, sở hữu sẽ không mạnh dạn đầu tư trong việc phát triển cải tạo đất và tạo vốn. Đất chiếm giữ không hợp pháp sẽ có khả năng sản xuất kém và có giá trị thường thấp hơn. Người dân có quyền sử dụng, sở hữu đất hợp pháp sẽ tích lũy được nhiều vốn và thực hiện được các kế hoạch cải tạo đất).

Bên cạnh đó còn có lợi nhuận rất khó xác định như:

– Trong thực tiễn một nhiệm vụ rất khó khăn là xác định được giá trị của thông tin đến người sử dụng cuối cùng.

– Rất khó xác định được các kiểu quyết định mà trong đó đã sử dụng thông tin đất và loại thông tin mà vừa ra các quyết định riêng biệt đã xử lý. Bên cạnh đó còn có các lãi mà hệ thống thông tin đất đai mang lại. Thông thường, có các loại lợi nhuận xuất hiện trong quá trình vi tính hóa sự đăng ký đất đai, đó là: Lãi nội nghiệp và ngoại nghiệp, lãi không rõ

rệt nội nghiệp và ngoại nghiệp.

– Lãi nội nghiệp một cách cụ thể bao gồm sự tiết kiệm thời gian tính theo giờ vào việc tìm kiếm, xử lý dữ liệu, giảm bớt các nhu cầu về thiết bị, lưu trữ và tăng hiệu quả toàn diện. Có các nhiệm vụ cần thực hiện một cách thủ công để giảm bớt chi phí.

– Lãi ngoại nghiệp một cách cụ thể sinh ra từ các dịch vụ tốt hơn cho phép giảm bớt các chi phí.

– Lãi không rõ rệt giữa nội nghiệp và ngoại nghiệp, đặc biệt trong các ước tính sự tăng sản phẩm nhờ các yếu tố sau:

+ Giảm bớt thời gian tìm kiếm hồ sơ, sử dụng và thiết lập lại hồ sơ.

+ Tăng sự bảo đảm cho sự đăng ký và ghi chép tổng hợp.

+ Tăng hiệu quả trong quá trình kiểm tra và đăng ký.

+ Loại trừ các sai sót trong việc thanh toán và ghi hóa đơn.

+ Cải cách trong việc kế toán.

+ Cải cách các dịch vụ cho khách hàng.

+ Cung cấp tin tức kịp thời cho các quỹ bảo hiểm.

Những năm gần đây, nhu cầu đối với nguồn tài nguyên đất đai ngày càng tăng do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và đặc biệt đất đai đang chịu ảnh hưởng ngày càng rõ rệt của quá trình biến đổi khí hậu. Thách thức đặt ra đối với ngành quản lý đất đai hiện nay là

vừa phải đáp ứng các nhu cầu sử dụng nguồn tài nguyên đất đai phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, đồng thời, phải đảm bảo quản lý và bảo vệ tài nguyên đất đai một cách hiệu quả và bền vững.

Đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai đã tương đối hoàn thiện, đáp ứng cơ bản yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và phù hợp với xu thế phát triển của công nghệ thông tin hiện nay của đất nước.

Hệ thống thông tin đất và cơ sở dữ liệu đất đai là công cụ quan trọng để thực hiện tốt nhất công tác quản trị đất đai hiện đại: giúp Chính phủ kiểm soát tốt nhất tài nguyên đất;

cung cấp dịch vụ công tốt nhất cho người dân và là yếu tố quan trọng góp phần giảm đói nghèo, giúp tăng GDP theo đầu người và GDP cho cả nước.

Hệ thống thông tin đất và cơ sở dữ liệu đất đai chính là hạ tầng mềm và công cụ để cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ công về đất đai, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Các quốc gia đã thành công trong việc xây dựng và ứng dụng hệ thống thông tin đất quốc gia đa mục tiêu đều giành nguồn đầu tư thích đáng cho việc xây dựng hành lang pháp lý, thiết kế mô hình hệ thống, phát triển phần mềm ứng dụng và quản lý, đầu tư phần cứng, xây dựng và chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đất đai, đào tạo nguồn nhân lực cần thiết cho xây dựng, vận hành và duy trì hệ thống thông tin đất; tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính hữu ích của hệ thống thông tin đất đa mục tiêu; vận hành và bảo trì hệ thống.

Một phần của tài liệu Giáo trình Hệ thống thông tin đất đai - TS. Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) (Trang 127 - 130)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(164 trang)