HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
4.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐẤT
– Thông tin bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính
+ Quy trình thành lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính chưa được xây dựng thống nhất. Bản đồ địa chính hiện nay ở các địa phương vẫn còn nhiều bất cập như chưa có dữ liệu không gian và thuộc tính trong cùng một hệ thống cơ sở dữ liệu.
Các nguồn dữ liệu đầu vào
Nhập và xây dựng cơ sở
dữ liệu
Quản lý thông tin đất đai
Thông tin đất đai
Quản lý dữ liệu đất đai
CSDL LIS
+ Hiện trạng hệ thống hồ sơ địa chính chủ yếu được lưu trữ trên giấy. Các thông tin lưu trữ trùng lặp, hồ sơ cồng kềnh và quản lý thì phân tán.
+ Hệ thống cập nhật gặp khó khăn do các thông tin không đồng bộ, không thống nhất và không được thực hiện một cách thường xuyên.
– Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Việc xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mới chỉ dừng lại chủ yếu trên bản đồ giấy.
+ Chưa xây dựng được quy trình công nghệ và phương pháp xây dựng thể hiện nội dung quy hoạch và kế hoạch chi tiết trên nền bản đồ địa chính.
– Các thông tin về giá đất và các thông tin khác
+ Các thông tin về giá đất được xác định trên các yếu tố thửa đất như: kích thước, vị trí, mục đích sử dụng, chất lượng đất, các quyền giao dịch về đất, các công trình trên đất, v.v.
các thông tin liên quan đến bản đồ địa chính, bản đồ quy hoạch sử dụng đất, v.v.. Vì thế, công tác quản lý thông tin đất không thể đáp ứng được cho nhu cầu quản lý về giá đất và thu thuế đất, v.v..
Tóm lại:
– Hệ thống thông tin đất đang vận hành trên nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, có thời gian và chất lượng khác nhau, chưa được chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu.
– Chưa xây dựng được một cơ sở dữ liệu đất đai và một hệ thống thông tin đất đai hiện đại đáp ứng được nhu cầu về quản lý đất đai, chưa đáp ứng được nhu cầu đối với các chủ sử dụng đất về tính nhanh chóng, chính xác, tin cậy.
4.5.2. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
– Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai ở các địa phương là rất khác nhau.
+ Trước năm 1994 việc ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý đất đai là rất hạn chế chỉ có một số rất ít các tỉnh đầu tư vào lĩnh vực này. Các tỉnh phía nam có các ứng dụng sớm và đồng bộ hơn so với các tỉnh phía bắc như: Sở Địa chính Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long (cũ) và Đồng Nai. Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản.
+ Từ năm 1994 đến nay do sự bùng nổ của công nghệ thông tin và nhu cầu đặc thù của các địa phương thì công việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý đất đai được quan tâm và bắt đầu được đầu tư. Đến nay vẫn còn một số tỉnh mới đang ở giai đoạn bắt đầu phát triển và triển khai ứng dụng.
– Các phần mềm của hệ thống hiện nay đều ở dạng chắp vá, giải quyết công việc trong lĩnh vực đơn lẻ, chưa có tính hệ thống và tính chuyên nghiệp.
– Hệ thống kỹ thuật như: máy tính, hệ thống mạng, các cơ sở vật chất chưa được đầu tư một cách thỏa đáng làm cho hệ thống hoạt động chưa có hiệu quả.
– Quá trình xây dựng, thu thập, xử lý, lưu trữ, phân phối thông tin không kịp thời và độ tin cậy chưa cao.
4.5.3. Nguồn nhân lực
– Nhân lực công nghệ thông tin trong ngành còn thiếu. Kế hoạch đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ chưa hiệu quả.
– Nhân lực chuyên ngành quản lý đất đai hiện nay chưa có các chuyên gia về công tác này.
– Nhu cầu đào tạo phát triển đội ngũ kỹ thuật viên, đặc biệt là cán bộ quản lý có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định và phát triển của hệ thống thông tin đất đai.
– Nhanh chóng thay đổi công nghệ có thể tạo ra những trở ngại cho các kế hoạch lâu dài.
– Khả năng duy trì các tư vấn về tài chính và tổ chức kinh phí đầu tư cho công nghệ tin học trong quản lý thông tin thường lớn vì gồm các chi phí đầu tư trang thiết bị, phần mềm, chi phí bảo dưỡng, thay thế trang thiết bị mới.
– Sự thay đổi về công nghệ đòi hỏi phải có những thay đổi về hoàn cảnh, cơ cấu và các biện pháp tổ chức cho hợp. Các vấn đề này vẫn còn nhiều tồn tại trong các hệ thống thông tin đất đai.
– Phụ thuộc vào hệ thống phần cứng và phần mềm
Kinh phí để đưa vào sử dụng và phát triển một hệ thống thông tin đất rất cao, trong khi đó khả năng có một đội ngũ kỹ thuật viên có kinh nghiệm và trình độ hiện nay hầu như chưa đáp ứng được yêu cầu. Thậm chí ngay cả các nước đang phát triển hơn cũng rất thiếu các cán bộ được đào tạo và có kinh nghiệm.
4.5.4. Các chính sách của Đảng và Nhà nước
Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng hệ thống thông tin đất đai và tăng cường công tác quản lý thông tin đất tại các địa phương. Nhà nước cần có các chính sách hợp lý
và hiệu quả hơn về công tác quản lý nhà nước về đất đai.
– Sự khác biệt trong vấn đề thiếu các nguồn nhân lực được đào tạo và khả năng về tài chính. Cần phải có một nền giáo dục đào tạo tốt hơn đặc biệt là ở mức quản lý. Các cán bộ cần phải có sự hiểu biết tốt về thực tiễn cũng như lý thuyết về quản lý một hệ thống thông tin đất đai với một kiến thức về đất, thông tin và quản lý. Công nghệ phải được áp dụng phù hợp với con người, chính sách luật pháp, kinh tế và môi trường để phục vụ có
hiệu quả.
– Các chính sách của Đảng và Nhà nước đóng vai trò tư vấn trong việc lựa chọn một hệ thống thông tin đất đai phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Các vấn đề nảy sinh không phải đơn giản là yếu tố kỹ thuật; con người chính là sự quyết định cho sự thành công hay thất bại cho hoạt động của hệ thống. Cuối cùng, những dự kiến phải được thiết kế cho cả
hiện tại và tương lai. Hệ thống phải có khả năng thay đổi với sự phát triển toàn diện, phù hợp của cả phần mềm và phần cứng và nâng cao được trình độ kỹ thuật của người sử dụng chúng. Một khi hệ thống thông tin đất đai được phát triển và hoạt động có hiệu quả trong các nước đang phát triển sẽ đưa đến những quyết định đúng đắn hơn trong vấn đề quản lý
và sử dụng các nguồn tài nguyên đất đai.