MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI VỚI 14 NỘI DUNG CÒN LẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐAI VỚI 14 NỘI DUNG CÒN LẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Một phần của tài liệu Giáo trình Hệ thống thông tin đất đai - TS. Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) (Trang 107 - 112)

HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI

Chương 3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI

3.7. MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI VỚI 14 NỘI DUNG CÒN LẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐAI VỚI 14 NỘI DUNG CÒN LẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Theo Điều 22, Luật Đất đai năm 2013 quy định nội dung quản lý nhà nước về đất đai gồm:

1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.

2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.

3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.

4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

6. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.

7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

8. Thống kê, kiểm kê đất đai.

9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.

10. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.

11. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

13. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.

14. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.

15. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.

Xây dựng hệ thống thông tin đất đai là một nhiệm vụ riêng biệt nhưng có tương tác chặt chẽ với 14 nhiệm vụ còn lại của công tác quản lý nhà nước về đất đai.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó là nội dung quan trọng nhất, quyết định các nội dung khác trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Pháp luật quy định, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản thi hành luật về quản lý và sử dụng đất đai. Trên cơ sở đó để thu thập, cập nhật, lưu trữ, xử lý các thông tin liên quan đến đất đai, quy định các quy trình, quy phạm, thủ tục để xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Ngược lại, các thông tin trong hệ thống thông tin đất đai cũng có tác động trực tiếp giúp cho việc hoạch định, áp dụng và thi hành các chính sách đất đai được nhanh chóng, hiệu quả và phù hợp với từng địa phương.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính: Việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính là nguồn cơ sở dữ liệu nền địa lý đầu vào cho hệ thống thông tin đất đai. Ngược lại hệ thống thông tin đất đai giúp lưu trữ, quản lý thống nhất dữ liệu hồ sơ địa giới hành chính ở các cấp, giúp người sử dụng có thể dễ dàng khai thác thông tin hồ sơ địa giới hành chính một cách nhanh chóng và tiện lợi.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất: Theo quy định tại khoản 1, Điều 1, Thông tư 75/2015/TT-BTNMT ngày 28/12/2015 quy định kỹ thuật về cơ sở dữ liệu đất đai trong hệ thống thông tin đất đai gồm: cơ sở dữ liệu địa chính; cơ sở dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cơ sở dữ liệu giá đất; cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai. Do đó việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất là nguồn cơ sở dữ liệu đầu vào rất quan trọng cho việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Ngược lại, hệ thống thông tin đất đai có vai trò là công cụ để lưu trữ, khai thác và quản lý thống nhất dữ liệu bản đồ địa chính, bản đồ quy hoạch sử dụng đất, các thông tin về tài nguyên đất; thông tin về giá đất, quản lý thông tin chi tiết đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất, v.v. phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai ở các cấp, cung cấp các thông tin cho nhà quản lý

cũng như người sử dụng một cách nhanh chóng và chính xác.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là nội dung trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, là căn cứ để thực hiện việc giao đất, thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, v.v.. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thống nhất, phù hợp, ổn định

là căn cứ, là nguồn dữ liệu đầu vào để xây dựng hệ thống thông tin đất đai đầy đủ, chính xác. Hệ thống thông tin đất đai là công cụ trực tiếp phục vụ cho việc lưu trữ, quản lý, khai thác các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương, của quốc gia đồng thời cung cấp các thông tin chi tiết về đất đai giúp các nhà quản lý hoạch định các chính sách đất đai, đưa ra các quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng hợp lý và hiệu quả đất đai cho các mục tiêu quy hoạch và phát triển kinh tế. Ngoài ra, hệ thống thông tin đất đai còn cung cấp các lớp dữ liệu nền địa lý cơ bản cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất: Hệ thống thông tin đất đai là hệ thống được xây dựng nhằm quản lý, giám sát quá trình sử dụng đất đai chi tiết đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất. Do đó, đây là công cụ quan trọng cung cấp các thông tin đất đai như diện tích, loại đất, chủ sử dụng đất, tính pháp lý của đất đai, giá đất, v.v. để từ đó thực hiện quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất của Nhà nước được kịp thời và chính xác. Ngược lại, quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất được thực hiện tốt thì sẽ cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin về đất đai phục vụ cho công tác xây dựng, cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai trong hệ thống thông tin.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Công tác đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là cơ sở để thiết lập các thông tin liên quan đến đất đai và tài sản gắn liền với đất, v.v. là căn cứ để thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu cho hệ thống thông tin đất đai. Hệ thống thông tin đất đai cung cấp đầy đủ các thông tin về tự nhiên, kinh tế, pháp lý của từng thửa đất cùng với bất động sản gắn liền với đất. Đây là những thông tin hết sức quan trọng trong quá trình quản lý hồ sơ địa chính phục vụ công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc thống kê, kiểm kê đất đai: Cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai là một trong những thành phần của cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Do vậy, việc thống kê, kiểm kê đất đai theo định kỳ là nguồn dữ liệu đầu vào cho việc thực hiện xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Ngược lại, hệ thống thông tin đất đai trong quá trình vận hành sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về đất đai như diện tích các loại đất theo đối tượng sử dụng, theo mục đích sử dụng, theo đơn vị hành chính, các thông tin về biến động sử dụng đất như biến động theo mục đích sử dụng, đối tượng sử dụng, diện tích các loại đất được giao, cho thuê, v.v., từ đó làm cơ sở cho công tác thống kê, kiểm kê

đất đai theo định kỳ giúp các cơ quan quản lý nhà nước nắm chắc, quản chặt quỹ đất hiện có nhằm đưa ra những chính sách, định hướng sử dụng đất hiệu quả và hợp lý.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc quản lý tài chính về đất đai và giá đất: Hệ thống thông tin đất đai được xây dựng nhằm thiết lập nên một nền tảng hiệu quả và công bằng cho việc xác định và thu các loại thuế liên quan đến đất đai – là một trong những nguồn thu quan trọng và chủ yếu cho ngân sách nhà nước (thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, v.v.); tiền thuê đất; tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai; tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai; phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai. Nhà nước khó có thể thu thuế và các loại phí sử dụng đất nếu không xác định được giá trị của đất đai, hay cụ thể hơn là nếu không xác định rõ chủ sở hữu/sử dụng đất (đối tượng nộp thuế) và mục đích sử dụng đất để tính toán khả năng sinh lợi mà đất đai mang lại. Hệ thống thông tin đất đai cung cấp các thông tin để làm căn cứ quy định khung giá các loại đất phù hợp với từng thửa đất, từng địa phương; cung cấp thông tin cho thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Trong công tác quản lý

nhà nước về đất đai nếu giải quyết ổn định vấn đề tài chính đất đai, bất động sản và nền kinh tế thị trường là chỗ dựa vững chắc để thực hiện việc xây dựng và vận hành một hệ thống thông tin đất đai minh bạch và hiệu quả.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai: Hệ thống thông tin đất đai cung cấp các thông tin về đất đai một cách cụ thể, rõ ràng như ranh giới sử dụng, diện tích, mục đích sử dụng, chủ sử dụng đất, v.v. đây là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền công nhận các quyền và nghĩa vụ phù hợp với từng đối tượng sử dụng đất (hộ gia đình, cá nhân; cộng đồng dân cư; tổ chức trong nước; cơ sở tôn giáo; tổ chức và cá nhân người nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài) đồng thời quản lý, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai từ đó làm cơ sở

để tiến hành xử lý những vi phạm về đất đai. Ngược lại việc quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai được thực hiện góp một phần không nhỏ trong việc xây dựng và vận hành hệ thống thông tin đất đai ngày càng ổn định và có tính pháp lý cao.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai: Hệ thống thông tin đất đai được xây dựng nhằm: nâng cao khả năng trao đổi và tích hợp thông tin trong nội bộ ngành, liên ngành; nâng cao khả năng cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời và chính xác; đáp ứng nhu cầu thông tin về đất đai của người dân và doanh nghiệp, nâng cao trình độ và sự hiểu biết của người dân đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước về đất đai. Ngược lại, việc phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai đối với

người dân và doanh nghiệp giúp cho việc xây dựng, vận hành, khai thác hệ thống thông tin đất đai một cách hoàn chỉnh, thống nhất và hiệu quả nhất có thể.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai: Hệ thống thông tin đất đai với những thông tin đã được xác lập và lưu trữ chính xác vị trí, ranh giới và các thông tin liên quan sẽ cung cấp cơ sở pháp lý tin cậy để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu nại phát sinh trong quá trình sử dụng đất. Mặt khác, góp phần ngăn chặn ngay từ đầu những tranh chấp hay tư tưởng tranh chấp có thể nảy sinh vì thông qua hệ thống thông tin đất đai, các chủ thể đều nhận thức được chủ quyền của mình, phạm vi và giới hạn của nó và khai thác, sử dụng đất đai trong sự tôn trọng chủ quyền của người khác, từ đó, đảm bảo sự ổn định của xã hội. Ngược lại, việc giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai được thực hiện triệt để thì việc quản lý và sử dụng đất đai của con người sẽ bình đẳng, thống nhất kéo theo một hệ thống thông tin đất đai được xây dựng ổn định và minh bạch.

– Xây dựng hệ thống thông tin đất đai với việc quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai:

Hệ thống thông tin đất đai cung cấp các thông tin về vị trí, về đặc điểm hình học của đất đai, về các đặc điểm, tính chất đất đai, về quyền sử dụng đất, v.v.. Do vậy, có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện và quản lý các hoạt động dịch vụ về đất đai như: dịch vụ tư vấn về giá đất; dịch vụ tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; dịch vụ về đo đạc bản đồ; dịch vụ về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, v.v.. Quản lý tốt các hoạt động dịch vụ và các tổ chức thực hiện dịch vụ về đất đai thì việc sử dụng và quản lý đất đai sẽ bình ổn, thống nhất và phát triển một cách tốt nhất. Từ đó xây dựng được một hệ thống thông tin đất đai vững chắc.

Tóm lại: mối quan hệ giữa nội dung xây dựng hệ thống thông tin đất đai và 14 nội dung còn lại trong nội dung quản lý nhà nước là mối quan hệ hai chiều, có sự tương tác, hỗ trợ, liên hệ với nhau. Đặc biệt, ta nhận thấy rằng sự tương tác, ảnh hưởng của nội dung xây dựng hệ thống thông tin đất đai đến các nội dung còn lại khá rõ ràng.

Chương 4

Một phần của tài liệu Giáo trình Hệ thống thông tin đất đai - TS. Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) (Trang 107 - 112)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(164 trang)