HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
2.4. MỘT SỐ HỆ THỐNG THÔNG TIN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI TIN ĐẤT ĐAI
Hệ thống thông tin được chia thành hai dạng hệ thống thông tin cơ bản đó là: Các hệ thống thông tin không gian và các hệ thống thông tin phi không gian (phi hình học). Hệ thống thông tin không gian thì được chia thành hệ thống thông tin địa lý (GIS) và hệ thống thông tin đồ họa (các hệ thống thông tin không gian khác CAD/CAM). Hệ thống thông tin địa lý (GIS) được xây dựng dựa trên nền tảng của hệ thống thông tin địa lý khác (kinh tế, xã hội, môi trường, v.v.) và hệ thống thông tin đất đai (LIS). Trong hệ thống thông tin đất đai có rất nhiều hệ thống thông tin có liên quan, trong đó phải kể đến hệ thống thông tin địa chính và hệ thống thông tin đất đai đa mục đích (hệ thống thông tin đất đai sử dụng).
Hệ thống thông tin đất đai và hệ thống thông tin đất đai đa mục đích cũng là nền tảng của hệ thống thông tin địa lý khác như: Hệ thống thông tin môi trường, hệ thống thông tin cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin kinh tế, xã hội, v.v..
Hình 2.11. Các loại hình hệ thống thông tin.
2.4.1. Hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một nhánh của công nghệ thông tin được hình thành vào những năm 1960 và phát triển rất rộng rãi trong 15 năm trở lại đây. Hệ thống thông tin địa lý (GIS) ngày nay là công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều hoạt động kinh tế,
HỆ THỐNG THÔNG TIN
Hệ thông tin phi không gian (kế toán, quản lý nhân sự, v.v.)
Hệ thông tin không gian
Hệ thông tin địa lý (GIS)
Hệ thống thông tin đất đai (LIS) Các hệ thống GIS khác
(kinh tế, xã hội, dân số, v.v.)
Các hệ thông tin không gian khác (CAD/CAM, v.v.)
Hệ thông tin địa chính Hệ thống thông tin quản lý đất sử dụng (rừng, lúa, v.v.)
xã hội, anh ninh, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới. Hệ thống thông tin địa lý
(GIS) có khả năng trợ giúp các cơ quan Chính phủ, các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các cá nhân, v.v. đánh giá được hiện trạng của các quá trình, các thực thể tự nhiên, kinh tế, xã
hội thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ sở dữ liệu đầu vào.
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một công cụ máy tính để lập bản đồ và phân tích các sự vật, hiện tượng thực trên Trái Đất. Công nghệ GIS kết hợp các thao tác cơ sở dữ liệu thông thường (như cấu trúc hỏi đáp) và các phép phân tích thống kê, phân tích địa lý, trong đó phép phân tích địa lý và hình ảnh được cung cấp duy nhất từ bản đồ. Những khả năng này phân biệt GIS với các hệ thống thông tin khác khiến cho GIS có phạm vi ứng dụng rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (phân tích các sự kiện, dự đoán tác động và hoạch định chiến lược).
Giữa hệ thống thông tin địa lý (GIS) và hệ thống thông tin đất đai (LIS) có một mối quan hệ khăng khít không thể tách rời bởi chúng hỗ trợ cho nhau một cách hiệu quả trong hoạt động của hệ thống. Mặt khác, hệ thống thông tin đất đai (LIS) được xây dựng trên cơ sở sự thừa kế thành tựu của hệ thống thông tin địa lý (GIS), do vậy quan hệ của LIS với GIS là cần thiết nó thể hiện ở các điểm sau:
– Sự ra đời và phát triển của hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã tạo ra nguồn nhân sự và kỹ thuật cũng như dữ liệu dồi dào cho hệ thống thông tin đất đai (LIS) có thể thực hiện tốt hơn các mục đích của mình.
– Hệ thống thông tin địa lý (GIS) cung cấp một khối lượng lớn thông tin đầu vào cho hệ thống thông tin đất đai (LIS) thể hiện rõ nhất ở hệ quy chiếu, lưới khống chế, v.v. để từ đó hệ thống thông tin đất đai (LIS) phát triển xuống các cấp thấp hơn phục vụ cho việc xây dựng bản đồ tỷ lệ lớn.
– Thông tin trong hệ thống thông tin đất đai (LIS) rất phong phú và chi tiết hơn, thông tin trong hệ thống thông tin địa lý (GIS) thì bao quát quản lý ở tầm vĩ mô. Do vậy dữ liệu của hai hệ thống này có thể giúp cho việc bổ sung những thiếu sót trong dữ liệu.
Ngoài ra còn nhiều mối quan hệ khác, nhưng trên đây là ba mối quan hệ cơ bản rõ
nét nhất giữa hai hệ thống. Xét về dạng dữ liệu có thể nói giữa hệ thống thông tin địa lý
(GIS) và hệ thống thông tin đất đai (LIS) có nhiều điểm tương đồng. Tuy nhiên về quy mô mục đích phục vụ khác nhau. Qua đó ta thấy hệ thống thông tin đất đai (LIS) là hệ thống có quy mô nhỏ hơn hệ thống thông tin địa lý (GIS) và nó đảm nhiệm việc quản lý các thông tin chi tiết hơn.
2.4.2. Hệ thống thông tin về môi trường
Hệ thống thông tin môi trường tập trung chủ yếu các thông tin về hiện trạng môi trường, hiện trạng quản lý môi trường, các chính sách quản lý môi trường, các nguồn gây
ô nhiễm môi trường. Trên cơ sở đó, đánh giá hiện trạng, chỉ ra sự xuống cấp môi trường, cảnh báo các ô nhiễm môi trường như: môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, v.v.. Cảnh báo sự phân bố và gây ô nhiễm của các chất thải rắn công nghiệp và khai thác mỏ, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Từ các thông tin đó kết hợp với một số hiện tượng như vật lý học, sinh học, hóa học, v.v. phục vụ công tác đánh giá và quy hoạch môi trường.
Các ứng dụng của hệ thống thông tin địa lý (GIS) được liên tục phát triển trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường. Từ chương trình kiểm kê nguồn tài nguyên thiên nhiên của Canada trong những năm 1960, đến các chương trình GIS cấp bang của Mỹ bắt đầu vào cuối những năm 1970, đến mô hình hóa quản lý các sự cố môi trường hiện đang được phát triển, công nghệ GIS đã cung cấp các phương tiện để quản lý và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường ngày càng hữu hiệu hơn. Xu hướng hiện nay trong quản lý môi trường là sử dụng tối đa khả năng cho phép của GIS. Sự phát triển của phần cứng làm cho máy tính có nhiều khả năng hơn, mạnh hơn và các ứng dụng GIS cũng trở nên thân thiện hơn với người sử dụng bởi các khả năng hiển thị dữ liệu ba chiều, các công cụ phân tích không gian và giao diện tùy biến, v.v..
2.4.3. Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng
Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng được chia thành bốn nhóm thông tin chính đó là:
hệ thống về cơ sở hạ tầng kinh tế, hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng môi trường và hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác an ninh, quốc phòng.
– Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng kinh tế: đây là những cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế của các địa phương trong nền kinh tế quốc dân. Nhóm cơ sở hạ tầng kinh tế bao gồm:
+ Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải: đường bộ, đường sắt, nhà ga, cầu cống, v.v..
+ Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng cung ứng vật tư kỹ thuật, nguyên liệu phục vụ sản xuất và đời sống như: dầu, chất đốt, phân bón, v.v..
+ Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng mạng lưới vận tải và phân phối năng lượng:
các trạm biến áp, đường dây, các thiết bị vận hành, v.v..
+ Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng các công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông, v.v..
+ Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng các công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu trồng trọt, chăn nuôi, nước sinh hoạt, v.v..
– Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng xã hội: là hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ các hoạt động văn hóa, xã hội, đảm bảo cho việc thỏa mãn nhu cầu văn hóa, tinh thần và nâng cao trình độ dân trí, nâng cao trình độ sản xuất và lao động xã hội như: học
– Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng môi trường: đó là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo vệ, cải tạo môi trường sinh thái của đất, nước, không khí và môi trường sống của con người.
– Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác an ninh, quốc phòng.
2.4.4. Hệ thống thông tin về kinh tế – xã hội
– Bao gồm các thông tin phát triển kinh tế của các ngành: nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, du lịch, các dịch vụ, v.v.. Với các thông tin như: hiện trạng ngành, vị trí trong ngành kinh tế, cơ cấu ngành, cơ cấu thu nhập, nhịp điệu phát triển, đóng góp GDP, v.v..
– Bên cạnh đó tình hình phát triển của các ngành khác như: văn hóa, bưu điện, y tế, giáo dục, v.v..
– Tình hình dân cư, dân tộc, tôn giáo: hiện trạng dân số, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ tăng dân số cơ học, thành phần dân tộc, v.v..
– Tình hình lao động, việc làm: lao động trong tuổi, cơ cấu lao động, trình độ lao động, tỷ lệ thất nghiệp, v.v..
– Mức sống, các điều kiện phát triển khác: các đối tượng trợ cấp xã hội, tệ nạn xã
hội, v.v..
2.4.5. Hệ thống thông tin địa chính
Hệ thống thông tin địa chính là hệ thống thông tin mà trong đó các thông tin chủ yếu phục vụ cho công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thống kê đất đai các cấp. Thông tin trong hệ thống thông tin địa chính chi tiết đến từng thửa đất.
– Các thông tin về thửa đất
Thửa đất là đơn vị cơ sở của thông tin địa chính, là nguồn thông tin chính về quan hệ sử dụng đất và sở hữu các tài sản trên đất. Thửa đất là đối tượng phản ánh chủ yếu của bản đồ địa chính, nó là một khoanh đất khép kín không phân chia, được đánh số duy nhất, có
ranh giới pháp lý, v.v..
– Mô tả thửa đất
+ Thể hiện trên bản đồ địa chính như: Số thửa, hình dạng, kích thước, diện tích, loại đất theo mục đích sử dụng. Thửa đất phải có các đường ranh giới rõ ràng.
+ Mô tả bằng phương pháp số: Các phương pháp đo đạc sử dụng các thiết bị và kỹ thuật đo hiện đại cung cấp các dữ liệu số. Các thông tin bằng bản đồ được biến đổi về dạng số. Sự mô tả dữ liệu được thể hiện bằng hệ tọa độ và được duy trì trong máy tính.
– Hệ thống tra cứu của thửa đất
+ Các mẩu tin về thửa đất phải bao gồm các chỉ số thống nhất để chỉ rõ mỗi thửa đất có các thông tin kèm theo trong phạm vi của hệ thống đăng ký đất đai và các hệ thống hồ sơ có liên quan khác. Mỗi thửa đất phải được đánh số và có thể kèm theo mọi chi tiết mô tả
các thông tin thuộc tính và không gian.
+ Tên của người sử dụng đất.
+ Sổ đăng ký: số thứ tự, số mã, vùng (chính hoặc phụ).
+ Số tập và trang trong hồ sơ đăng ký.
+ Số thửa và khu ruộng (xứ đồng).
+ Địa chỉ dùng cho các thửa đất thuộc các khu vực hành chính và đường sá nằm trong hệ thống đăng ký. Trong hệ thống máy tính có thể dùng các ký tự chữ để đánh dấu.
+ Hệ tọa độ hoặc mã số địa lý: dựa trên hệ thống kinh độ và vĩ độ hoặc các quy ước trong hệ thống bản đồ lưới quốc gia. Sự sử dụng hệ thống này yêu cầu phải có sự thống nhất về phép chiếu bản đồ trong đó có sự quy đổi toán học các số đo từ các vị trí trên mặt đất về một hệ tọa độ chung.
– Tiêu chuẩn các thông tin về thửa đất
Trong hệ thống thông tin dựa trên thửa đất phải đảm bảo một số nội dung sau:
+ Dễ sử dụng và tránh nhầm lẫn.
+ Sử dụng được trong cả hai lĩnh vực quần chúng và cơ quan hành chính.
+ Dễ xử lý trên máy tính.
+ Có khả năng cập nhập (có thể điều chỉnh và bổ sung thông tin về thửa đất).
+ Các chỉ số có tính duy nhất, không có sự trùng lặp về thông tin giữa hai thửa đất hoặc về chủ sở hữu, sử dụng trong hệ thống đã đăng ký.
+ Linh hoạt, có khả năng sử dụng vào mục đích khác nhau từ sự đăng ký quyền sử dụng, sở hữu đến tất cả các dạng của quản lý địa chính.
Mục đích sử dụng:
+ Tra cứu các bản ghi thông tin cho từng thửa đất.
+ Xác định vị trí không gian cho mỗi thửa đất.
+ Liên kết dữ liệu giữa các thửa đất.
– Các thông tin thửa đất trong hệ thống thông tin địa chính
+ Bản đồ được sử dụng là bản đồ Địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất các cấp.
+ Thông tin thuộc tính của thửa đất bao gồm các thông tin từ: sổ mục kê, sổ địa chính, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đơn xin giao đất, thuê đất, v.v..
2.4.6. Một số công nghệ có liên quan đến hệ thống thông tin đất đai
Hệ thống thông tin đất đai liên quan mật thiết đến các hệ thống thông tin khác, những khả năng thao tác và phân tích các dữ liệu đất đai chỉ có công nghệ GIS và LIS là thực hiện được. Mặc dù không có quy tắc chính về cách phân loại các hệ thống thông tin, nhưng những giới thiệu dưới đây sẽ biết cách phân biệt LIS với các công nghệ Desktop Mapping, trợ giúp thiết kế nhờ máy tính (Computer Aided Design – CAD), viễn thám (Remote Sensing), hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS), hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System – GPS).
Desktop Mapping (thành lập bản đồ): Là hệ thống được sử dụng để thành lập bản đồ: bản đồ là cơ sở dữ liệu. Phần lớn các hệ thống Desktop Mapping hoạt động trên máy tính để bàn như PC, Macintosh và các máy trạm UNIX nhỏ.
CAD (trợ giúp thiết kế nhờ máy tính): Hệ thống CAD trợ giúp cho việc tạo ra các bản thiết kế xây dựng nhà và các cơ sở hạ tầng. Tính năng này đòi hỏi các thành phần của những đặc trưng cố định được tập hợp để tạo nên toàn bộ cấu trúc. CAD yêu cầu một số quy tắc về việc tập hợp các thành phần và các khả năng phân tích rất giới hạn. Hệ thống CAD có thể được mở rộng để hỗ trợ bản đồ nhưng thông thường bị giới hạn trong quản lý
và phân tích các cơ sở dữ liệu địa lý lớn.
Viễn thám và GPS (hệ thống định vị toàn cầu): Viễn thám và hệ thống định vị toàn cầu (GPS) là khoa học nghiên cứu bề mặt Trái Đất sử dụng kỹ thuật cảm biến như chụp ảnh từ các thiết bị chuyên dụng đặt trên máy bay, vệ tinh và các trạm thu GPS hoặc các thiết bị khác. Các thiết bị cảm biến này thu thập dữ liệu dạng ảnh và cung cấp các khả năng thao tác, phân tích và mô phỏng các ảnh này. Do thiếu các tính năng phân tích và quản lý
dữ liệu địa lý nên không thể gọi là hệ thống thông tin địa lý (GIS) thực sự.
DBMS (hệ quản trị cơ sở dữ liệu): Hệ quản trị cơ sở dữ liệu chuyên về quản lý tất cả
các dạng dữ liệu bao gồm cả dữ liệu địa lý. Nhiều hệ thống thông tin đất đai (LIS) đã sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) với mục đích lưu trữ dữ liệu. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) không có các dụng cụ phân tích và mô phỏng như hệ thống thông tin địa lý
(GIS) và hệ thống thông tin đất đai (LIS).
Chương 3