HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
4.6. HÌNH THỨC QUẢN LÝ, KHAI THÁC THÔNG TIN ĐẤT
Quản lý và khai thác hệ thống thông tin đất đai quy định tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác dữ liệu đất đai nộp phiếu yêu cầu hoặc gửi văn bản yêu cầu cho các cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai theo các phương thức sau:
– Nộp trực tiếp tại cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai.
– Gửi qua đường công văn, fax, bưu điện.
– Gửi qua thư điện tử hoặc qua cổng thông tin đất.
Khi nhận được phiếu yêu cầu, văn bản yêu cầu hợp lệ của tổ chức, cá nhân, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện tiếp nhận, xử lý và thông báo nghĩa vụ tài chính (trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính) cho tổ chức, cá nhân. Trường hợp từ chối cung cấp dữ liệu thì phải nêu rõ lý do và trả lời cho tổ chức, cá nhân biết. Những trường hợp không cung cấp dữ liệu được quy định gồm:
– Văn bản, phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu mà nội dung không rõ ràng, cụ thể; yêu cầu cung cấp dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước không đúng quy định.
– Văn bản yêu cầu không có chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu xác nhận đối với tổ chức; phiếu yêu cầu không có chữ ký, tên và địa chỉ cụ thể của cá nhân yêu cầu cung cấp dữ liệu.
– Mục đích sử dụng dữ liệu không phù hợp theo quy định của pháp luật.
– Không thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Sau khi tổ chức, cá nhân thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện cung cấp dữ liệu đất đai theo yêu cầu. Thời hạn cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện theo quy định sau:
– Trường hợp nhận được yêu cầu trước 15 giờ thì phải cung cấp ngay trong ngày; trường hợp nhận được yêu cầu sau 15 giờ thì cung cấp dữ liệu đất đai được thực hiện vào ngày làm việc tiếp theo;
– Trường hợp yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai dưới hình thức tổng hợp thông tin thì thời hạn cung cấp dữ liệu đất đai được xác định theo thỏa thuận giữa cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai và người có yêu cầu bằng hình thức hợp đồng.
4.6.2. Theo phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin
Xây dựng, quản lý và khai thác hệ thống thông tin đất đai quy định tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác dữ liệu đất đai trên mạng Internet, cổng thông tin đất đai hoặc dịch vụ tin nhắn SMS phải đăng ký và được cấp quyền truy cập, khai thác dữ liệu từ hệ thống thông tin đất.
Tổ chức, cá nhân được cấp quyền truy cập có trách nhiệm truy cập đúng địa chỉ, mã
khóa; không được làm lộ địa chỉ, mã khóa truy cập đã được cấp; khai thác dữ liệu trong phạm vi được cấp, sử dụng dữ liệu đúng mục đích, không xâm nhập trái phép cơ sở dữ liệu đất đai; quản lý nội dung các dữ liệu đã khai thác, không được cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác trừ trường hợp đã được thỏa thuận, cho phép bằng văn bản của cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai; không được thay đổi, xóa, hủy, sao chép, tiết lộ, hiển thị, di chuyển trái phép một phần hoặc toàn bộ dữ liệu; không được tạo ra hoặc phát tán chương trình phần mềm làm rối loạn, thay đổi, phá hoại hệ thống thông tin đất đai; thông báo kịp thời cho cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai về những sai sót của dữ liệu đã cung cấp.
Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai có trách nhiệm bảo đảm cho tổ chức, cá nhân truy cập thuận tiện; có công cụ tìm kiếm dữ liệu dễ sử dụng và cho kết quả đúng nội dung cần tìm kiếm; bảo đảm khuôn dạng dữ liệu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định để dễ dàng tải xuống, hiển thị nhanh chóng và in ấn bằng các phương tiện điện tử phổ biến; hỗ trợ tổ chức, cá nhân truy cập hệ thống thông tin; bảo đảm tính chính xác, thống nhất về nội dung, cập nhật thường xuyên và kịp thời của dữ liệu trong hệ thống thông tin đất; quy định rõ thời hạn tồn tại trực tuyến của từng loại thông tin; thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Trường hợp tạm ngừng cung cấp dữ liệu, dịch vụ có liên quan trên môi trường mạng, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai có trách nhiệm thông báo công khai chậm nhất là 07 ngày làm việc trước khi chủ động tạm ngừng cung cấp dữ liệu, dịch vụ có
liên quan trên mạng để sửa chữa, khắc phục các sự cố hoặc nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ
tầng thông tin; nội dung thông báo phải nêu rõ khoảng thời gian dự kiến phục hồi các hoạt động cung cấp dữ liệu, dịch vụ có liên quan trên môi trường mạng, trừ trường hợp bất khả
kháng; tiến hành các biện pháp khắc phục sự cố ngay sau khi hệ thống thông tin đất bị lỗi trong quá trình hoạt động làm ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc gây ngừng cung cấp dữ liệu, dịch vụ có liên quan trên môi trường mạng.
Quản lý thông tin đất đai thời 4.0: Ngành Tài nguyên và Môi trường đang triển khai kết nối liên thông cơ sở dữ liệu đất đai với cơ quan thuế và các điều kiện cần thiết để vận hành cổng dịch vụ công quốc gia liên quan đến giao dịch đất đai. Xây dựng hệ thống thông tin đất đa mục tiêu và kết nối liên thông cơ sở dữ liệu đất đai với các ngành khác nằm trong
chủ trương của Đảng: “Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về đất đai và tài sản gắn liền với đất theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, phục vụ đa mục tiêu;
từng bước chuyển sang giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai”.
Để hoàn thành mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin đất tạo nền tảng cho việc xây dựng “Chính phủ điện tử” và tích hợp “Cổng dịch vụ công quốc gia”, trong những năm qua ngành quản lý đất đai đã và đang nỗ lực thực hiện xây dựng hệ thống thông tin đất và cơ sở
dữ liệu đất đai. Đồng thời, đang triển khai kết nối liên thông cơ sở dữ liệu đất đai với cơ quan thuế và các điều kiện cần thiết để vận hành cổng dịch vụ công quốc gia liên quan đến giao dịch đất đai.
Đến nay, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên 43 triệu thửa đất và hơn 22 triệu hồ sơ quét, đồng thời đã
ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu đất đai cho công tác quản lý và các giao dịch liên quan đến đất đai.
Hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai tập trung, thống nhất đã cung cấp một nền tảng mà dữ liệu sẽ được chia sẻ rộng rãi với các Bộ, ban, ngành khác, thúc đẩy tính minh bạch và sự tiếp cận của cộng đồng để cập nhật và khai thác thông tin đất đáng tin cậy. Việc khai thác, chia sẻ các thông tin đất giữa các cơ quan và các bên liên quan như cơ quan thuế, công chứng, ngân hàng, cơ quan thanh tra, điều tra, tư pháp, v.v. để thực hiện các nhiệm vụ chuyên ngành, đặc biệt là những thông tin liên quan đến nguồn gốc sử dụng đất, giá đất và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo tính bền vững và quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai. Việc xây dựng hệ thống thông tin đất và cơ sở dữ liệu đất đai gắn liền với kiện toàn hệ thống văn phòng đăng ký đất đai (là đơn vị vận hành, khai thác hệ cơ sở dữ liệu đất đai) cho thấy hiệu quả rõ rệt về trước mắt và lâu dài. Đặc biệt, cải cách thủ tục hành chính về đất đai và tài sản gắn liền với đất đã giảm bớt đáng kể, từ 61 thủ tục xuống còn 42 thủ tục; thời gian giải quyết thủ tục đã được rút ngắn đáng kể từ 15% – 45% so với trước đây; số ngày giải quyết hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất là cá nhân, hộ gia đình từ 05 ngày xuống còn 03 ngày làm việc; quy trình cung cấp dịch vụ được minh bạch và trách nhiệm hơn, qua đó cải thiện sự tham gia và phản hồi tích cực từ các bên liên quan.
Hệ thống thông tin đất hoàn chỉnh là công cụ đắc lực để Nhà nước kiểm soát được các giao dịch “ngầm” về đất đai, kịp thời ngăn chặn các giao dịch phi pháp, cung cấp thông tin hữu ích để cảnh báo và bảo vệ người dân. Đồng thời, thay đổi tư duy và phương pháp làm việc của bộ máy các cấp, từ chỗ bị động sang chủ động hơn trong việc việc cung cấp dịch vụ đất đai cho các bên liên quan. Nguồn thu dịch vụ thu được từ các giao dịch đã đảm bảo chi trả cho bộ máy quản lý và vận hành mà không cần sự đầu tư kinh phí của Nhà nước như trước đây. Từ những hiệu quả của cơ sở dữ liệu đất đai mang lại, việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai là rất cần thiết trong giai đoạn
hiện nay nhằm tạo nền tảng cơ bản cho công tác quản trị đất đai tập trung, thống nhất trong phạm vi cả nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, chia sẻ với các bộ ngành; hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; cải thiện vị trí của Việt Nam về chỉ số dịch vụ công trực tuyến trong chỉ số phát triển Chính phủ điện tử theo xếp hạng của Liên hợp quốc.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thông tin đất – Có khả năng lưu trữ một khối lượng lớn dữ liệu.
– Phụ thuộc vào hệ thống phần cứng và phần mềm.
– Nhanh chóng thay đổi công nghệ có thể tạo ra những trở ngại cho các kế hoạch lâu dài.
– Khả năng duy trì các tư vấn về tài chính và tổ chức kinh phí đầu tư cho công nghệ tin học trong quản lý thông tin thường lớn vì gồm các chi phí đầu tư trang thiết bị, phần mềm, chi phí bảo dưỡng, thay thế trang thiết bị mới.
– Sự thay đổi về công nghệ đòi hỏi phải có những thay đổi về hoàn cảnh, cơ cấu và các biện pháp tổ chức cho phù hợp. Các vấn đề này vẫn còn nhiều tồn tại trong các hệ thống thông tin đất.
– Nhu cầu đào tạo phát triển đội ngũ kỹ thuật viên, đặc biệt là cán bộ quản lý có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định và phát triển của hệ thống.
Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện thử nghiệm hệ thống kết nối, chia sẻ dữ liệu đất đai tại một số địa phương tích hợp hệ thống kết nối, chia sẻ thông tin đất đai quốc gia. Cục Công nghệ thông tin và dữ liệu tài nguyên môi trường và Tổng cục Quản lý đất đai được giao nhiệm vụ thực hiện việc thiết kế, cập nhật thông tin, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia.
4.6.3. So sánh hình thức quản lý, khai thác thông tin đất bằng phương pháp truyền thống và phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin
– Thời gian: Quản lý thông tin đất bằng phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin sẽ tồn tại lâu hơn, chính xác hơn vì ít bị hỏng hóc dưới điều kiện môi trường, tránh được những hậu quả không đáng có mang lại.
– Khối lượng lưu trữ: Đối với phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin khối lượng lưu trữ được nhiều hơn, tốn ít không gian hơn, gọn nhẹ dễ di chuyển, dễ trao đổi.
Đối với phương pháp truyền thống thì cồng kềnh, tốn nhiều diện tích, khó di chuyển.
– Tìm kiếm dữ liệu: Đối với phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin thì nhanh hơn, ít gặp sai sót hơn và có thể đáp ứng được nhiều yêu cầu hơn, tiết kiệm được rất nhiều thời gian.
Đối với phương pháp truyền thống thì hoàn toàn ngược lại. Quá trình tìm kiếm chậm hơn, hay gặp sai sót, tốn nhiều thời gian hơn dẫn đến chi phí cho công lao động cũng nhiều hơn.
Việc liên kết các loại dữ liệu với nhau cũng như việc liên kết các kiểu dữ liệu khác nhau ở phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhanh hơn và dễ dàng hơn phương pháp truyền thống.
– Việc tính toán thống kê: Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin có khả năng xử lý dữ liệu rất tốt vì vậy các thống kê đất đai phục vụ cho việc quản lý đất đai nhanh chóng hơn còn đối với phương pháp truyền thống thì ngược lại.
Tuy nhiên phương pháp truyền thống cho đến nay vẫn chưa thể bỏ, lực lượng lao động làm theo phương pháp này vẫn còn đông và trên thực tế cho dù hệ thống công nghệ có phát triển đến mấy chúng ta vẫn phải lưu trữ và gìn giữ theo phương pháp truyền thống nhưng nó đảm nhận chức năng nhẹ nhàng hơn.
Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin cần có một nguồn vốn để liên tục bảo trì, bảo dưỡng và nâng cấp. Một thực tế đáng phải quan tâm đến là sự tấn công của virus máy tính và các sự cố.