3.2. Đánh giá, dự báo các tác động và đề xuất các biện pháp, công trình bảo vệ môi trường trong giai đoạn dự án đi vào vận hành
3.2.1. Đánh giá, dự báo các tác động
3.2.1.2. Tác động đến môi trường do nước thải
+ Từ các nhà vệ sinh khu vực văn phòng, xưởng sản xuất và nhà bảo vệ của Công ty.
+ Từ hoạt động nấu ăn cho công nhân viên lao động tại nhà máy.
- Khối lượng phát sinh:
Bảng 3.21. Khối lượng nước thải sinh hoạt Nguồn phát sinh Giai đoạn
hiện hữu
Giai đoạn vận hành thử nghiệm
Giai đoạn vận hành thương mại Nước thải từ các nhà vệ
sinh (m3/ngày) 30 40 50
Nước thải từ nhà ăn
(m3/ngày) 7 10 12,5
Tổng cộng (m3/ngày) 37 50 62,5
Ghi chú: Giai đoạn vận hành thử nghiệm số lượng công nhân viên khoảng 400 người.
Thành phần đặc trưng và nồng độ ô nhiễm
- Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh. Chất hữu cơ chứa trong nước thải sinh hoạt bao gồm: protein (40 ÷ 50%), hydratcacbon (40 ÷ 50%) và các chất béo (5 ÷ 10%), nồng độ chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động khoảng 150 ÷ 450 mg/l.
- Nước thải sinh hoạt là một loại nước thải có hàm lượng vi sinh vật rất cao và có đặc tính gây nhiễm lớn. Tổng số vi khuẩn kể cả các nhóm tương đối không có hại khoảng 1.000 loại. Vi sinh vật hiện có trong nước thải một phần là ở dạng virus và vi khuẩn,… loại vi khuẩn Salmonela tạo nên bệnh sốt, một phần ở trong trứng của động vật ký sinh như giun,…
- Ngoài các sinh vật có vấn đề về sinh lý học ra, nước thải sinh hoạt còn chứa các vi khuẩn vô hại, chúng có khả năng phân hủy các chất thải qua sự thủy phân, sự khử và sự oxy hóa. Các chất gây men và các enzim cũng tham gia vào sự phân hủy này.
Bảng 3.22. Tính chất đặc trưng của nước thải sinh hoạt STT Thông số ô nhiễm Nồng độ trung bình
(mg/l)
Quy định của KCN Long Giang (mức
3)
1 Chất rắn lơ lửng 220 300
2 BOD5 220 400
3 Tổng Nitơ (theo N) 40 60
4 Tổng Phốtpho (theo
P) 8 6
5 Sunfat 30 -
6 Coliform 107÷108 5.000
(Nguồn: Xử lý nước thải đô thị và công nghiệp – Tính toán thiết kế công trình, Lâm Minh Triết – Nguyễn Thanh Hùng - Nguyễn Phước Dân, NXB Đại học Quốc gia TPHCM, 2004) Từ bảng trên ta có thể thấy tính chất nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý có thống số Phospho tổng hơn quy định đấu nối của KCN Long Giang (mức 3). Do đó, nước thải sinh hoạt cần xử lý trước khi đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN Long Giang.
- Nước thải từ nhà ăn chứa nồng độ chất hữu cơ và có lẫn dầu mỡ nếu không có biện pháp xử lý lượng dầu mỡ này sẽ gây ô nhiễm môi trường nước, ngăn cản quá trình khuếch tán oxy vào trong nước làm ảnh hưởng đến thủy sinh vật.
Bảng 3.23. Kết quả phân tích mẫu nước thải từ nhà ăn
TT Chỉ tiêu Đơn vị Giá trị Quy định của KCN Long Giang (mức 3)
1 pH - 6-7 5 – 9
2 TSS mg/l 200 - 240 300
3 BOD5 mg/l 320-350 400
4 Amoni mg/l 6-7 10
5 Dầu mỡ ĐTV mg/l 50-60 20
Nguồn: Công ty TNHH Xây dựng và Môi trường Quốc Hưng tổng hợp Nhận xét: Qua tham khảo kết quả phân tích nước thải từ các dự án có tổ chức nhà ăn cho công nhân tương từ cho thấy thông số dầu mỡ động thực vật vướt giới hạn tiếp nhận nước thải của KCN Long Giang mức 3. Do đó, chủ dự án phải có biện pháp xử lý trước khi thải vào hệ thống thoát nước bẩn của KCN.
b. Đối với nước thải sản xuất
- Nguồn phát sinh và khối lượng phát sinh:
Căn cứ vào nhu cầu cấp nước tại chương 1 và thực tế tại nhà máy hiện hữu, nước thải sản xuất của Nhà máy phát sinh từ các nguồn sau đây:
Bảng 3.24. Khối lượng nước thải sản xuất Nguồn phát sinh Giai đoạn
hiện hữu
Giai đoạn vận hành thử nghiệm
Giai đoạn vận hành thương mại Nước thải từ công đoạn
tẩy gỉ (m3/ngày) 10 12,5 31,2
Nước thải từ hệ thống xử
lý khí thải (m3/ngày) 1 2 2
Nước thải từ công đoạn
đúc (m3/ngày) 1 1 1
Tổng cộng (m3/ngày) 12 15,5 34,2
Ghi chú:
+ Nước thải từ công đoạn tẩy gỉ giai đoạn vận hành thử nghiệm chiếm 40% nước cấp tối đa.
+ Nước thải ước tính bằng 100% lượng nước cấp.
- Thành phần và nồng độ ô nhiễm:
Nước thải sản xuất có các tính chất ô nhiễm đặc trưng nhưu sau:
+ Nước thải có thành phần đa dạng về nồng độ và pH biến đổi rộng từ rất axit 2 ÷ 3, đến rất kiềm 10 ÷ 11.
+ Chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và kim loại nặng. Thành phần kim loại trong nước thải của dự án chủ yếu Cr, Ni, Mn …
+ Chất rắn lơ lửng cao: nước thải chứa nhiều cặn lơ lửng nguồn gốc từ quá trình gia công cơ khí.
Kết quả phân tích nồng độ nước thải sản xuất trước hệ thống xử lý nhà máy hiện hữu như sau:
Bảng 3.25. Nồng độ nước thải sản xuất trước hệ thống xử lý
STT Thông số Đơn vị Kết quả Quy định của KCN Long Giang (mức 3)
1 pH - 5,36 5 - 9
2 BOD5 mg/l 593 400
3 COD mg/l 952 600
4 TSS mg/l 678 300
5 Cr mg/l 1,52 0,5
6 Ni mg/l 0,095 0,5
7 Mn mg/l 0,68 1
8 Dầu mỡ khoáng mg/l 9,15 4
(Nguồn: Trích Báo cáo giám sát môi trường công ty TNHH Công Thái Học Loctek, quý 2/2017)
Nhận xét: Kết quả phân tích cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm có trong nước thải sản xuất của Công ty trước xử lý đa phần giới hạn cho phép tiếp nhận nước thải của KCN Long Giang mức 3..
- Đánh giá tác động của các thông số ô nhiễm đặc trưng có trong nước thải đến môi trường:
+ Tác động của pH: pH của nước thải có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý. Các công trình xử lý nước thải áp dụng các quá trình sinh học làm việc tốt khi pH nằm trong giới hạn từ 7-7,6. Như chúng ta đã biết môi trường thuận lợi nhất để vi khuẩn phát triển là môi trường có pH từ 7-8. Các nhóm vi khuẩn khác nhau có giới hạn pH hoạt động khác nhau. Ví dụ vi khuẩn nitrit phát triển thuận lợi nhất với pH từ 4,8-8,8, còn vi khuẩn nitrat với pH từ 6,5-9,3. Vi khuẩn lưu huỳnh có thể tồn tại trong môi trường có pH từ 1-4. Ngoài ra pH còn ảnh hưởng đến quá trình tạo bông cặn của các bể lắng bằng cách tạo bông cặn bằng phèn nhôm.
+ Tác động của kim loại nặng: Hầu hết các kim loại nặng tồn tại trong nước ở dạng ion. Các chất này gồm asen, đồng, chì, bạc, kẽm, sắt,…Do chúng không phân hủy nên các kim loại nặng tích tụ trong các chuỗi thức ăn của hệ sinh thái. Quá trình này bắt đầu với nồng độ thấp của các kim loại nặng tồn tại trong nước hoặc cặn lắng, sau đó tích tụ nhanh trong các thực vật và động vật sống dưới nước. Tiếp đến các sinh vật khác sử dụng các thực vật, động vật này làm thức ăn trong chuỗi thức ăn dẫn đến nồng độ các kim loại nặng được tích tụ trong cơ thể sinh vật trở nên cao hơn. Cuối cùng đến sinh vật bậc cao nhất trong chuỗi thức ăn, nồng độ kim loại nặng đủ lớn để gây ra độc hại.
+ Tác động do ô nhiễm của các chất hữu cơ (COD, BOD5):
Ô nhiễm hữu cơ là ô nhiễm khá phổ biến ở các thủy vực hiện nay, chúng là chất dễ phân hủy sinh học nên tiêu thụ oxy hòa tan nhanh, các thông số đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ là DO, BOD, COD.
Các chất hữu cơ có trong nước thải chủ yếu là các loại carbonhydrate, protein, lipid. Khi phân hủy các thành phần này thì vi sinh vật cần lấy oxy hòa tan trong nước để chuyển hóa các chất hữu cơ nói trên thành CO2, N2, H2O, CH4
v.v… Chỉ thị cho lượng chất hữu cơ có trong nước thải có khả năng bị phân hủy hiếu khí bởi vi sinh vật chính là chỉ số BOD5, biểu diễn bằng lượng oxy cần thiết mà vi sinh vật phải tiêu thụ để phân hủy lượng chất hữu cơ có trong nước thải.
Như vậy, chỉ số BOD5 càng cao có nghĩa là lượng chất hữu cơ có trong nước thải càng lớn.
Các chất hữu cơ khi bị vi sinh vật phân hủy làm giảm nồng độ oxy hòa tan của nước sông. Khi nồng độ oxy hòa tan trong nước thải giảm xuống dưới 4 – 5 mg/l, các loài thủy sinh bắt đầu giảm xuống. Quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ làm xuất hiện axít humic hòa tan và nước có màu vàng bẩn. Khi các sản phẩm phân hủy của các chất hữu cơ trong nước (thực vật nổi - plankton đã chết, xác vi sinh vật khác), tùy thuộc vào các khí sản sinh trong quá trình phân hủy, sẽ tạo cho nước các mùi khó chịu khác nhau.
+ Tác động của các vi sinh vật gây bệnh:
Nước là một phương tiện lan truyền các nguồn bệnh và trong thực tế các bệnh lây lan qua môi trường nước là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở các nước này, bệnh tật đã làm tổn
thất tới 35 % tiềm năng sức lao động. Các tác nhân gây bệnh thường được bài tiết trong phân của người bệnh, bao gồm các nhóm: vi khuẩn, vi rút, động vật đơn bào, giun ký sinh. Bệnh do các vi khuẩn thường gặp nhất là sốt thương hàn, bệnh tả và lỵ khuẩn que. Quá trình lan truyền bệnh có thể trực tiếp từ người bệnh, hay gián tiếp qua côn trùng trung gian hoặc qua nguồn nước bị nhiễm bẩn.
Chất lượng về mặt vi sinh của nước thường được biểu thị bằng nồng độ của vi khuẩn chỉ thị – đó là những vi khuẩn không gây bệnh và về nguyên tắc đó là nhóm trực khuẩn (coliform). Thông số được sử dụng rộng rãi nhất là chỉ số coli.
Như vậy, trong nước chỉ số coliform càng lớn thì nồng độ các vi sinh vật gây bệnh càng cao. Khi nồng độ ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh cao, con người tiếp xúc nguồn nước ô nhiễm sẽ có nguy cơ mắc các bệnh sốt thương hàn, bệnh tả và lỵ khuẩn que.
+ Tác động của chất rắn lơ lửng:
Màu sắc của nước cũng là biểu hiện sự ô nhiễm. Nước tự nhiên sạch không màu và nếu nhìn sâu vào bề dày nước cho ta cảm giác màu xanh nhẹ đó là do sự hấp thụ có chọn lọc bước sóng nhất định của ánh sáng mặt trời. Ngoài ra, màu xanh còn gây nên bởi sự hiện diện của tảo trong trạng thái lơ lửng. Màu xanh đậm hoặc xuất hiện váng bọt màu trắng đó là biểu hiện trạng thái thừa dinh dưỡng hoặc phát triển quá mức của thực vật nổi. Ngoài ra, màu sắc còn gây nên do hóa chất có trong nước. Nên biểu hiện của màu trong nước cũng một phần biểu hiện sự ô nhiễm.
Tăng độ đục của nước, làm giảm hiệu suất quang hợp và giảm độ oxy hòa tan trong nước nên một số loài động thực vật thủy sinh sống trong khu vực sẽ bị suy giảm.
Khi không có khả năng tự làm sạch thì tình trạng ô nhiễm do chất hữu cơ, chất dinh dưỡng,… có thể xảy ra và sẽ tác động lớn đến đời sống sinh vật dưới nước, làm giảm đa dạng sinh học (giảm thành phần loài) và mật độ loài, làm bùng nổ sinh vật nổi, sinh vật đáy.
+ Tác động của chất dinh dưỡng (N,P)
Trong thủy vực 2 yếu tố chể yếu tác động đến thủy sinh vật là các muối dinh dưỡng của Nitơ và photpho. Khi hàm lượng NO3 và PO4 trong thủy vực cao sẽ làm tảo phát triển trong đó một số loại tảo tiết chất độc gây hại cho thủy sinh vật, sau khi tảo chết phân hủy thành chất hữu cơ làm giảm nguồn oxy hòa tan gây thiếu oxy và tạo khí độc H2S và CH4 làm chết thủy sinh vật (hiện tượng phú dưỡng hóa).
c. Tác động do nước mưa chảy tràn
Lượng nước mưa chảy tràn có lưu lượng phụ thuộc chế độ khí hậu của khu vực. Nếu không được quản lý tốt, nước mưa có thể bị nhiễm dầu do chảy qua những vùng chứa nhiên liệu, khu vực đậu xe, khu vực chứa rác thải, khu vực
sinh hoạt của công nhân, … Nước mưa chảy tràn sẽ cuốn theo các tạp chất đất đá, cặn bẩn, chất hữu cơ, một phần thấm thấu xuống đất, phần còn lại sẽ chảy vào hệ thống thoát nước của khu vực.
Lưu lượng nước mưa được xác định theo phương pháp cường độ giới hạn và tính toán theo công thức sau (nguồn TCXDVN 51:2008): Q = q.F..
Trong đó:
- Q: Lưu lượng tính toán (m³/s).
- q: cường độ mưa Theo Niên giám thống kê năm 2018 – Cục thống kê Tiền Giang thì lượng mưa lớn nhất trong năm là tháng 9 (402,7 mm/tháng). Do đó, lượng mưa trung bình mỗi ngày là: 13,42 mm/ngày.
- : Hệ số dòng chảy (Theo TCVN 7957:2008 – Thoát nước – mạng lưới và công trình bên ngoài – Tiêu chuẩn thiết kế, đối với diện tích là mặt nhám chọn = 0,34).
- F: Diện tích dự án (48.002,64 m2).
Như vậy, tổng lượng mưa phát sinh từ khu vực dự án là:
Q = (13,42 x 0,34 x 48.002,64)/1.000 ≈ 219 m3/ngày.
Toàn bộ lượng nước mưa trong khu vực sẽ được thoát theo các hố ga thoát nước xung quanh dự án và thải ra hệ thống thoát nước mưa của KCN Long Giang.
Bản thân nước mưa được đánh giá là không ô nhiễm, tuy nhiên nước mưa chảy tràn qua các khu vực trên mặt đất sẽ cuốn trôi đất cát và các chất rơi vãi trên dòng chảy có khả năng gây ứ đọng, làm mất mỹ quan của nhà máy và cản trở quá trình thoát nước của nhà máy.
Ngoài ra, Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế Giới - WHO (1993) thì nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mưa chảy tràn thông thường khoảng 0,5 – 1,5mg Nitơ/lít, 0,004 – 0,03 mg Phospho/lít, 10 – 20 mg COD/lít, 10 – 20 mg TSS/lít. Nếu lượng nước này không được kiểm soát sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường nguồn nước mặt xung quanh khu vực dự án.