Tác động đến môi trường do bụi và khí thải

Một phần của tài liệu 1 DTM LOCTEK 12 01 2020 (Trang 73 - 86)

3.2. Đánh giá, dự báo các tác động và đề xuất các biện pháp, công trình bảo vệ môi trường trong giai đoạn dự án đi vào vận hành

3.2.1. Đánh giá, dự báo các tác động

3.2.1.1. Tác động đến môi trường do bụi và khí thải

(1). Tác động của bụi, khí thải phát sinh từ quá trình vận chuyển - Nguồn gây tác động:

Bụi, khí thải phát sinh từ các phương tiện giao thông vận tải như phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm và phương tiện di chuyển của cán bộ, nhân viên trong dự án.

Quá trình hoạt động của các phương tiện vận tải chủ yếu sử dụng xăng và dầu diesel sẽ thải ra môi trường một lượng khói khí thải chứa chất ô nhiễm không khí như COx, NOx, SOx, CxHy... gây ảnh hưởng tác động tiêu cực tới môi trường.

- Tải lượng, nồng độ ô nhiễm:

Tổng khối lượng nguyên liệu và sản phẩm được vận chuyển khoảng 52.218 tấn/năm, số lượng ngày làm việc trong năm là 300 ngày, tải trọng xe sử dụng là xe tải 16 tấn. Như vậy, số chuyến xe dùng để vận chuyển là 11 chuyến/ngày tương đương 22 lượt ra vào nhà máy. Ngoài ra, hàng ngày có khoảng 1000 lượt xe máy của công nhân ra vào nhà máy.

Bảng 3.11. Ước tính số lượng xe tại khu vực dự án

STT Loại xe Số lượt xe

1 Xe máy 1000

2 Xe tải 22

Tốc độ chạy bình quân của xe ra vào dự án là 20 km/h = 5,5.10-3 km/s.

Tải lượng ô nhiễm được xác định theo công thức sau:

L (g/s) = Số lượng xe x 5,5.10-3 x hệ số ô nhiễm

Dựa vào hệ số ô nhiễm của các khí phát thải theo tài liệu “Emission Inventury Manual, 2013” và công thức trên kết quả tính toán tải lượng ô nhiễm được trình bày trong bảng sau:

Bảng 3.12. Hệ số phát thải các chất ô nhiễm

Stt Khí thải Xe gắn máy 4 thì Xe tải (3,5 – 16 tấn) Hệ số ô nhiễm (*) (g/km)

1 SO2 0,37 1,187

2 NOX 0,3 1,28

3 CO 2,2 5,1

4 Bụi 0,05 0,07

5 VOC 0,7 0,14

Nguồn: (*) Emission Inventury Manual, 2013.

Tính toán ước tính các phương tiện chạy trong khu vực dự án là 1km. Có thể dự báo được tải lượng khí thải phát sinh như sau:

Bảng 3.13. Tải lượng các chất ô nhiễm từ các phương tiện giao thông Stt Khí thải Xe gắn máy 4 thì Xe tải (3,5 – 16 tấn)

Tải lượng ô nhiễm (g/s)

1 SO2 2,035 0,143

2 NOX 1,65 0,154

3 CO 12,1 0,617

4 Bụi 0,275 0,008

5 VOC 3,85 0,016

Như vậy, kết quả trên cho thấy tải lượng các chất ô nhiễm trong khí thải từ phương tiện xe tải vận chuyển hàng hóa ra vào dự án là không lớn.

Hàng ngày, các phương tiện giao thông ra vào Công ty, đặc biệt là giờ cao điểm sẽ đưa vào môi trường một khối lượng bụi: SO2, NO2, CO, gây ô nhiễm không khí trong khu vực dự án. Trong giai đoạn hoạt động, các tác động này là thường xuyên, nồng độ các chất gây ô nhiễm tăng cao vào những giờ cao điểm có nhiều phương tiện tập trung về Công ty. Việc kiểm soát và xử lý nguồn ô

nhiễm từ hoạt động này là rất khó thực hiện, cần áp dụng các biện pháp giảm thiểu tại nguồn phát sinh như: nâng cao chất lượng phương tiện, chất lượng đường sá, các phương tiện giao thông không được chở quá trọng tải quy định.

- Tác động của các thông số gây ô nhiễm không khí do phương tiện giao thông:

Tác động của các chất gây ô nhiễm không khí được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.14. Tác động của các chất gây ô nhiễm không khí Chất ô

nhiễm Tác động

SO2 và NO2

Gây ảnh hưởng hệ hô hấp, phân tán vào máu.

SO2 có thể nhiễm độc qua da làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amoniac ra nước tiểu và kiềm ra nước bọt, gây viêm giác mạc, bỏng giác mạc.

Tạo mưa axít ảnh hưởng xấu tới sự phát triển thảm thực vật và cây trồng.

Tăng cường quá trình ăn mòn kim loại, phá hủy vật liệu bê- tông và các công trình xây dựng khác.

Ảnh hưởng xấu đến khí hậu, hệ sinh thái và tầng ozone.

COx

Gây rối loạn hô hấp phổi.

CO hóa hợp thuận nghịch với hemoglobin làm giảm hàm lượng oxy trong máu.

Gây hiệu ứng nhà kính.

Tác hại đến hệ sinh thái.

Hydrocacbo n

Gây nhiễm độc cấp tính: suy nhược, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giác quan có khi gây tử vong.

Khi hít thở các chất hữu cơ bay hơi với nồng độ 40.000 mg/m3 có thể bị nhiễm độc cấp tính với các triệu chứng tức ngực, chóng mặt, rối loạn giác quan, nhức đầu, buồn nôn.

Khi hít thở các chất hữu cơ bay hơi với nồng độ 60.000 mg/m3 sẽ xuất hiện các cơn co giật, rối loạn tim và hô hấp, thậm chí có thể tử vong.

Bụi Kích thích hô hấp, xơ hóa phổi, ung thư phổi.

Bụi mịn sinh ra trong quá trình sản xuất sẽ gây tổn thương mắt và mũi khi tiếp xúc liên tục, kích thích viêm nhiễm niêm mạc mũi, họng… và ngoài ra còn gây kích thích hóa học và sinh học

Chất ô

nhiễm Tác động

như: dị ứng, nhiễm khuẩn…

- Không gian và thời gian phát thải:

+ Không gian phát thải: tuyến đường vận chuyển và khu vực đường nội bộ của dự án.

+ Thời gian phát thải: xe máy tập trung vào đầu và cuối ca sản xuất; xe tải, container phân bổ trong quá trình sản xuất của dự án.

- Đối tượng chịu tác động: người dân dọc tuyến đường, công nhân làm việc khu vực nhập nguyên liệu, xuất sản phẩm.

(2). Tác động do bụi từ công đoạn cắt, mài, đánh bóng kim loại

Hệ số phát thải của bụi phát sinh từ công đoạn mài, đánh bóng là 0,0001 kg/tấn nguyên liệu nguyên liệu. Đối với công đoạn cắt, bụi kim loại phát có tỷ trọng lớn (d = 7 – 8) nên chỉ tồn tại xung quanh khu vực cắt nhanh chóng sa lắng, không phát tán đi xa.

Khối lượng nguyên liệu kim loại sử dụng cầm gia công là 11200 tấn/năm

 1,55 tấn/h (1 năm hoạt động 300 ngày, 1 ngày hoạt động 24 giờ). Như vậy, tải lượng bụi phát sinh hàng ngày tại các khu vực cắt bình khoảng: 1,55 tấn/h x 0,0001kg/tấn = 155 mg/h.

Trong giai đoạn vận hành thử nghiệm của nhà máy nâng công suất lượng nguyên liệu sử dụng chiếm 40% tổng khối nguyên liệu giai đoạn hoạt động thương mại (hoạt động chính thức), thời gian vận hành thử nghiệm từ 03 – 06 tháng. Tương tự tải lượng bụi ước tính khoảng 62 mg/h.

Có thể ước tính nồng độ của bụi ta dựa vào tổng lượng không khí cần dùng trong nhà xưởng, phương pháp tính toán như sau:

Tg = X * V Trong đó:

Tg: Tổng lượng không khí cần dùng trong xưởng sản xuất (m3/h).

X: Số lần thay đổi không khí trong 1 giờ. Đối với nhà xưởng sản xuất có thiết bị , máy móc (may, cơ khí,…) thì X = 4 – 6 lần/giờ; lựa chọn 5 lần/giờ.

V: thể tích = S × H. Trong đó S là tổng diện tích của nhà khu vực mài, đánh bóng (20m2, chỉ tính phần diện tích thực hiện thao tác mài, đánh bóng), vì các nguồn phát sinh bụi phân tán khu vực này. H là chiều cao bụi có thể bay tối đa (2m). Có thể ước tính nồng độ bụi phát sinh tại khu vực mài như sau:

Bảng 3.15. Nồng độ bụi khu vực mài, đánh bóng

Giai đoạn Tải lượng Diện tích - S Tổng lượng khí Nồng độ

(mg/h) (m2) cần dùng – Tg

(m3/h) (mg/m3) Vận hành thử

nghiệm 62 20 200 0,31

Hoạt động

chính thức 155 20 200 0,8

Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT 8

Nguồn: Công ty TNHH Xây dựng và Môi trường Quốc Hưng, 2019 Nhận xét: Kết quả tính toán thấy, nồng độ bụi tại khu vực mài, đánh bóng có giá trị thấp hơn nhiều lần so với Tiêu chuẩn TCVS 3733/2002/QĐ-BYT. Tuy nhiên, bụi phát sinh mịn có khả năng ảnh hưởng đến công nhân nên chủ đầu tư hệ thống thu gom bụi nhằm hạn chế bụi tích tụ trong nhà xưởng.

Tác động của bụi từ công đoạn mài, đánh bóng:

+ Các hạt có kích cỡ trên 100micromet không tồn tại lâu trong không khí thường sẽ rơi xuống xung quanh khu vực gia công ngay sau khi bị phát tán vào không khí.

+ Các hạt có kích cỡ từ 30 micromet đến 100 micromet tồn tại không lâu trong không khí, chúng ta có thể hít phải xong nó sẽ bị lọc bởi màng nhày ở mũi.

+ Các hạt có kích cỡ từ 5 đến 30 micromet dễ dàng thoát qua được hệ thống lọc tại mũi, và vào được khí quản tuy nhiên chúng sẽ bị giữ lại bởi các các hệ thống lọc của cơ thể tại đây.

+ Các hạt có kích cỡ dưới 5 micromet tồn tại lâu trong không khí và khi chúng ta hít phải chúng có thể xâm nhập được đến các túi khí nằm tại phổi. Tại đây chúng ta sẽ khó loại bỏ chúng ra khỏi cơ thể việc loại bỏ bằng các cơ chế sinh học tự nhiên chỉ diễn ra từ từ.

+ Tiếp xúc lâu dài với bụi có thể nhiễm bệnh bụi phổi và các bệnh khác (bệnh silicose, asbestose, siderose, ...). Bệnh ngoài da, bụi có thể dính bám vào da làm viêm da, bịt kín các lỗ chân lông và ảnh hưởng đến bài tiết mô hôi, có thể bịt các lỗ của tuyến nhờn, gây ra mụn, lở loét ở da, viêm mắt, giảm thị lực. Các loại bụi có cạnh sắc nhọn lọt vào dạ dày có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày, gây rối loạn tiêu hoá.

- Không gian và thời gian phát thải:

+ Không gian phát thải: trong xưởng sản xuất của nhà máy.

+ Thời gian phát thải: trong quá trình sản xuất của nhà máy.

- Đối tượng chịu tác động: công nhân khu vực mài, đánh bóng và khu vực lân cận.

(3). Tác động của bụi, khí thải từ công đoạn hàn

- Nguồn phát sinh: Từ khu vực hàn bằng robot tự động, tuy nhiên khu vực này công ty bố trí riêng biệt, công nhân điều khiển robot hàn từ xa nên tác động từ hoạt động này được giảm thiểu.

- Tải lượng và nồng độ chất ô nhiễm:

Công ty sử dụng các robot hàn trong công đoạn hàn các chi tiết thép với trục kim loại, tấm kim loại. Ưu điểm của việc sử dụng các robot hàn trong đoạn này chính là khi hoạt động, người công nhân không được đứng trong vùng hoạt động làm việc của robot hàn và quanh robot hàn được quây kín, có chụp hút và hệ thống xử lý. Khi hệ thống hàn hoạt động, các cánh cửa buồng hàn sẽ đóng kín, công nhân thao tác ngoài buồng hàn. Chính vì vậy sẽ hạn chế cho công nhân không bị ảnh hưởng trực tiếp khí độc từ khí hàn, hồ quang và vẩy hàn nóng chảy.

Theo Báo cáo "Ảnh hưởng sức khỏe của hàn" của NIOSH, 2003. Quá trình hàn sẽ sản sinh ra khói và các loại khí khá độc hại. khói hàn là một hỗn hợp của các hạt rất nhỏ (hơi) và các khí. Do công nghệ hàn Mig nên thành phần khói hàn gồm Ar, CO2, Al và Zn.

Hình 3.1. Khu vực hàn tự động

Lượng khí sử dụng hàn gồm CO2 và Argon khoảng 1 tấn/năm  3,3 kg/ngày. Lượng khói hàn phát sinh khoảng 80% nguyên liệu, tải lượng khói hàn phát sinh khoảng 3,3 x 80% = 2,64 kg/ngày  110.000 mg/h.

Tổng thể tích của các buồng hàn là 300m3, mỗi buồng hàn có bố trí quạt lấy gió, tần suất thu gió liên tục, tổng lượng khí cần cho các buồng hàn khoảng 300.000 m3/h.

Tính nồng độ các khí ô nhiễm do hoạt động hàn tạo ra trong không khí trong 1 ngày có sử dụng hàn:

Bảng 3.16. Nồng độ bụi khu vực hàn

Giai đoạn Tải lượng (mg/h)

Tổng lượng khí cần dùng – Tg (m3/h)

Nồng độ (mg/m3) Vận hành thử nghiệm

(40% công suất tối đa) 44.000 300.000 0,15

Hoạt động chính thức 110.000 300.000 0,36

Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT 5

Nguồn: Công ty TNHH Xây dựng và Môi trường Quốc Hưng, 2019 Kết quả tính toán cho thấy, nồng độ khói hàn từ công đoạn hàn bằng robot có nồng độ thấp hơn quy định Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT. Ngoài ra, để khắc phục các mối hàn chưa đạt yêu cầu khi hàn bằng robot công nhân sẽ hàn bổ sung bằng thủ công, tuy nhiên công đoạn này chiếm khoảng 1% tổng lượng hàn bằng robot, dó đó tải lượng phát sinh không đáng kể.

Tác động tới sức khoẻ người lao động khi hít phải khí hàn:

+ Tiếp xúc với khói, hơi và khí hàn gây các triệu chứng cấp tính như kích ứng mắt, mũi họng, chóng mặt, buồn nôn.

+ Tiếp xúc kéo dài với khói hàn có thể gây ra tổn thương đường hô hấp và các bệnh khác bệnh về phổi, bệnh thanh quản và các bệnh đường tiết niệu khác.

+ Đặc biệt là khi xưởng hàn bị giới hạn trong không gian kín, khí Carbon monoxit hình thành có thể gây tử vong cho người lao động.

- Không gian và thời gian phát thải:

+ Không gian phát thải: trong xưởng sản xuất của nhà máy.

+ Thời gian phát thải: trong quá trình sản xuất của nhà máy.

- Đối tượng chịu tác động: công nhân khu vực hàn và khu vực lân cận.

(4). Bụi phát sinh từ quá trình sơn tĩnh điện

Hoạt động sơn tĩnh điện của dự án là hoạt động phủ một lớp chất dẻo (bột nhựa) lên bề mặt các chi tiết kim loại cần che phủ. Lớp phủ được tạo ra bằng cách phun bột được tích điện nhờ phương pháp tĩnh điện lên bề mặt của chi tiết, khi đó bột phủ sẽ chảy ra tạo thành lớp bề mặt có liên kết tốt. Sơn tĩnh điện thường được áp dụng khi sơn 1 lớp. Ưu thế chính của phương pháp sơn tĩnh điện là không dùng các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) và vì thế không cần đến các thiết bị phân huỷ VOCs tốn kém như lò thiêu Dự án sử dụng loại nhựa nhiệt rắn được mua về dạng bột, công dụng phủ bề mặt tương tự như sơn nước.

Hiệu quả của hệ thống phun bột theo đánh giá, cao hơn nhiều sơ với phun dung môi hoặc nước. Sau khi phun, lượng bột không bám vào chi tiết có thể được thu hồi và tái sử dụng. So với kỹ thuật phun ướt, phun tĩnh điện đạt được

độ bao phủ lớn hơn vì bột có thể phủ lên tất cả các góc cạnh và bề mặt của chi tiết không trực diện với súng phun.

Như vậy, hoạt động sơn tĩnh điện của dự án là giải pháp cải thiện công nghệ giúp giảm thiểu khí phát sinh. Chất ô nhiễm phát sinh chủ yếu là bụi từ quá trình phun. Tuy nhiên, hoạt động hiện hữu của nhà máy đã vây kín khu vực sơn tĩnh điện và đã lắp hệ thống lọc bụi.

Quá trình phun sơn được thực hiện hoàn toàn tự động, bán thành phẩm kim loại được di duyển qua buồng phun sơn bằng hệ thống băng chuyền tự động, tại buồng sơn các súng sơn cũng tự động phun sơn. Bụi sơn được thu gom bằng hệ thống thông gió cưỡng bức qua hệ thống lọc bụi được tích hợp theo hệ thống sơn tĩnh điện nên bụi hầu như không phát tán ra xưởng sản xuất.

Để đánh nồng độ bụi phát sinh từ công đoạn phun sơn tĩnh điện, báo cáo sử dụng kết quả quan trắc môi trường của nhà máy đối với ống thải sau xử lý bụi sơn và quan trắc bổ sung chất lượng môi trường sản xuất tại khu vực sơn tĩnh điện, kết quả như sau:

Bảng 3.17. Nồng độ bụi công đoạn phun sơn tĩnh điện

STT Vị trí Nồng độ Nồng độ cho phép

1 Ống thải sau xử lý bụi sơn

60,7 (mg/Nm3)

QCVN 19:2009/BTNMT cột B (200 mg/Nm3)

2 Khu vực phun sơn

tĩnh điện 0,4 (mg/m3) Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT (8 mg/m3)

Kết quả quan trắc cho thấy nồng độ bụi tại khu vực phun sơn không đáng kể, nồng độ bụi sau hệ thống xử lý đạt QCVN 19:2009/BTNMT (cột B). Điều này chứng tỏ, hệ thống phun sơn tự động có tích hợp hệ thống xử lý hoạt động hiệu quả, bụi phát sinh không đáng kể.

Trong giai đoạn nâng công suất, nhà máy sẽ tăng thời gian hoạt động của chuyền phun sơn hiện hữu và lắp đặt thêm chuyền sơn mới có công nghệ sản xuất và xử lý tương tự như giai đoạn hiện hữu.

Tác động của bụi bột sơn tĩnh điện:

Bột sơn tĩnh điện tuy không có thành phần dung môi nhưng được có thành phần chính gồm hạt nhựa, bột màu và các chất phụ gia. Chúng được nghiền nhỏ thành những hạt bụi siờu mịn cú kớch thước dưới 120àm. Chớnh vỡ vậy, những thợ sơn tĩnh điện trong quá trình làm việc lâu dài, nếu hít phải những hạt bụi này vào trong cơ thể sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Nếu hít thở nhiều bụi sơn có thể gây dị ứng ở phổi, gây hen suyễn, viêm thùy phổi.

- Không gian và thời gian phát thải:

+ Không gian phát thải: trong xưởng sản xuất của nhà máy.

+ Thời gian phát thải: trong quá trình sản xuất của nhà máy.

- Đối tượng chịu tác động: công nhân khu vực sơn và khu vực lân cận.

(5). Hơi nhựa từ quá trình quá trình ép nhựa

Công ty sử dụng nguyên liệu để sản xuất là hạt nhựa nguyên sinh ABS (Acryloninitrile Butadien Styrence) nguyên chất có các màu sắc khác nhau.

Nguyên liệu đầu vào là những loại hạt nhựa nguyên chất rất phổ biến trong ngành nhựa và trên thị trường nhựa hiện nay, là những hạt không gây ô nhiễm môi trường. Tại máy ép nhựa, nhiệt độ gia công ở mức từ 150 -180 oC.

Trong thí nghiệm, thử nghiệm phát thải khí của nhựa ABS được phân tích bằng sắc ký khí. Quang phổ các sản phẩm dễ bay hơi được tạo ra từ mẫu ABS ở nhiệt độ 210oC tạo ra khí Styrene (C6H5CH-CH2) có tải lượng khoảng 0,01% khối lượng ABS.

Khối lượng nhựa sử dụng trong giai đoạn nâng công suất là 60 tấn/năm.

Nếu tính trung bình cho 300 ngày thì lượng hạt nhựa sử dụng chỉ 200 kg/ngày, thực tế các máy hoạt động khi có đơn hàng không sản xuất liên tục. Báo cáo dự báo khi nhà máy hoạt động cùng lúc 5 máy ép nhựa, khi đó lượng nhựa sử dụng khoàng 1000 kg/ngày.

Như vậy, tải lượng Styrene phát sinh hàng ngày trung bình là 1000 kg/ngày x 0,01% = 0,1 kg/ngày = 4.167 mg/giờ (24 giờ/ngày).

Đối với giai đoạn vận hành thử nhà máy hoạt động khoảng 40% công suất tối đa, như vậy tải lượng trong giai đoạn này 1.667 mg/giờ.

Có thể ước tính nồng độ của Styrene ta dựa vào tổng lượng không khí cần dùng trong nhà xưởng, phương pháp tính toán như sau:

Tg = X * V Trong đó:

Tg: Tổng lượng không khí cần dùng trong xưởng sản xuất (m3/h).

X: Số lần thay đổi không khí trong 1 giờ. Đối với nhà xưởng sản xuất có thiết bị , máy móc (may, cơ khí,…) thì X = 4 – 6 lần/giờ; lựa chọn 5 lần/giờ.

V: thể tích = S × H. Trong đó S là tổng diện tích của nhà khu vực ép nhựa (100m2), vì các nguồn phát sinh bụi phân tán khu vực này. H là chiều cao hơi nhựa có thể bay tối đa (2m). Có thể ước tính nồng độ bụi phát sinh tại khu vực mài như sau:

Bảng 3.18. Nồng độ bụi khu vực mài, đánh bóng Giai đoạn Tải lượng

(mg/h)

Diện tích - S (m2)

Tổng lượng khí cần dùng – Tg

(m3/h)

Nồng độ (mg/m3)

Một phần của tài liệu 1 DTM LOCTEK 12 01 2020 (Trang 73 - 86)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(147 trang)
w