ĐẠI CUONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 159
4.3. Phân loại khoa học
Với tư cách là đại biểu xứng danh của văn hóa Hy Lạp, Aristốt đánh giá cao sự thông thái mà ông hiểu là nghệ thuật, kỹ năng, tài nghệ. Quan niệm như vậy làm cho ông giống với các bậc tiền bối triết học cổ đại - “tinh yêu sự thông thái”. Nhưng cũng giống như Xôcráảt và Platôn, Aristốt quan tâm không những tới các loại thông thái riêng biệt, mà còn tới sự thông thái của mọi sự thông thái, sự thông thái nói chung. Mặc dù đánh giá cao sự thông thái, kỹ năng, nghệ thuật cụ thể, song Aristốt cũng cố gắng tìm ra và xác định sự thông thái tự thân nó. Điều này cần phải nhấn mạnh để không bị lẫn lộn quan điểm của các nhà triết học cổ đại với quan niệm hiện đại. Sự lẫn lộn như vậy thường xảy ra khi “tỉnh yêu sự thông thái” của người cổ đại được coi giống như những suy luận khó hiểu của chúng ta mà hiện nay thường bị mạo nhận là triết học, nhưng trên thực tế không là như vậy. Nghệ thuật ngôn ngữ đích thực ở người cổ đại luôn ngang hàng với nghệ thuật của các nghệ nhân trong mọi lĩnh vực lao động của họ. Không phải ngẫu nhiên mà người Hy Lạp đã phát triển lôgíc học và mỹ từ học mà bản thân Aristốt cũng
rất quan tâm. Nhưng ông quan tâm tới một việc chung hơn - đi tới giới hạn tối hậu nhờ khái quát những thành tựu trong
mọi lĩnh vực nhận thức và nghệ thuật. Với mục đích đó trước
hết ông đã phải phân loại tri thức và nghệ thuật.
Aristốt chia khoa học ra hành ba nhóm lớn: các khoa học lý luận ( “tư biện”), các khoa học thực tiền (“tính toán”) và
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 163
các khoa học sáng tạo (có hiệu quả). Ông coi nhóm thứ nhất bao gồm có triết học, toán học và vật lý học, nhóm thứ hai - đạo đức học và chính trị, nhóm thứ ba- nghệ thuật, nghề thủ công và các khoa học ứng dụng. Như chúng ta thấy, nhóm thứ ba hoàn toàn không phải là khoa học theo quan niệm hiện đại: đây là tri thức cần phải làm một cái gì đó như thế nào.
Đối với Aristốt thì nhóm thứ ba là các khoa học cơ sở mà cần phải xuất phát từ đó để đi đến tri thức lý luận và chung hơn. Cần lưu ý rằng ông hiểu các khoa học thực tiễn là đạo đức học và chính trị, tức những gì gắn với sự giao tiếp của con người. Cơ sở của đạo đức và của chính trị là sự chín chắn, còn các khoa học thực tiễn - các khoa học về hành vi và về sự lựa chọn lối ứng xử đúng đắn ở con người. Chính quan niệm như vậy về thực tiễn còn đọng lại một thời gian
dài, chẳng hạn Cantơ đã viết “Phê phán lý tính thực tiễn”
vào thế kỷ XVIII, trong đó xem xét các vấn dé về dao đức.
Đối với Aristốt thì các khoa học thực tiễn là học thuyết về một trong các loại hình thông thái: kỹ năng giao tiếp với con người, nhưng bất kỳ nhà nước nào cũng thể hiện là một kiểu giao tiếp, còn mọi sự giao tiếp đều được tổ chức vì một phúc lợi nào đó lớn hơn mọi phúc lợi khác, quan tróng hơn mọi phúc lợi khác - đó là nhà nước hay là sự giao tiếp chính trị. Như vậy, chính trị nằm trong các khoa học thực tiễn, nghiên cứu lĩnh vực giao tiếp quan trọng nhất. Tuy nhiên, con người không thoả mãn với tri thức về việc cần phải làm ra một cái gì đó như thế nào, về việc cần phải giao tiếp như thé nào, con người cỏn quan tâm vấn để về cấu tạo của thế giới, tâm hồn, nguyên nhân tạo ra cấu tạo như vậy. Thêm vào đó, có thể đặt vấn đề đó ở bên ngoài mối liên hệ với các nhu cầu đạo đức, chính trị và nghề thủ công thực tiễn. Khi đó sẽ xuất hiện các khoa học lý luận.
164 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
Triết học là khoa học chung nhất trong mọi khoa học, do vậy nó là “kỹ năng của mọi kỹ năng”, được biểu thị dưới hình thức tri thức thuần tuý. Do vậy, đối với các khoa học khác thì nó thể hiện là cái hình thành nên các nguyên tắc chung nhất, có tác động trong mọi khoa học. Tuy nhiên, triết học tự thân nó không theo đuổi một mục đích thực tiễn hay kinh nghiệm nào, nó không gắn liền với việc sử dụng tri
thức của nó nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất. Vì các khoa
học khác phục tùng các mục đích và nhu cầu ấy, nên các khoa học này phụ thuộc vào chúng, không có giá trị tự thân.
Tính tư biện và việc khước từ bị sử dụng cho các mục đích nằm ngoài mình không phải là nhược điểm, mà lại là ưu điểm của triết học. Chỉ có nó mới có thể biểu thị và đáp ứng nhụ cầu sâu xa của con người- ý muốn câu trả lời được câu hỏi
“tại sao tối hậu”. Như vậy, theo Aristốt, các khoa học khác là cần thiết hơn nhưng triết học là khoa học tốt nhất °°.
4.4. Siêu hình học. l
Như đã biết, thuật ngữ “siêu hình học” không phải là thuật ngữ của Aristốt. Thực ra thì người xuất bản các tác phẩm của Aristốt là A. Rodosky đã sử dụng nó vào thế kỷ thứ I- TCN. Sau đó, chính thuật ngữ này đã bắt đầu biểu thị tri thức về những. cơ sở căn bản nhất của tồn tại. Nó trở hành cái tương tự như thuật ngữ hiện đại “triết học”. Còn Aristốt đã sử dụng thuật ngữ “triết học thứ nhất” để phân biệt với triết học thứ hai mà ông hiểu là vật lý học. Thêm vào đó, giống như mọi người Hy Lạp, ông hiểu “tình yêu sự thông thái”, tức tỉnh yêu sự khéo léo, là bất kỳ tri thức nào. Thuật ngữ Hy Lạp “thông thái” chỉ ra sự hoàn hảo hay ưu thế về sự sáng
t1 Xem: Aristốt. Siêu hình học. T.2, 983a10.
~ ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 165
suốt - bình tĩnh của sự hoàn hảo đối với sự không hoàn hảo.
Tri thức bao giờ cũng thể hiện là sự rút ra từ kỹ năng. “Tri thức” không chỉ có nghĩa là biết cách làm, mà còn biết cách thành thạo kể lại cần phải làm như thế nào. Biết cách (kỹ năng) kể lại có nghĩa là biết cách hinh thành các nguyên tắc chung, mà điều này là khó hơn so với việc đơn giản làm:
“Do vậy, chúng tôi tôn trọng các thầy giáo trong mỗi công việc hơn vì cho rằng họ biết nhiều hơn về các nguyên nhân của cái được làm ra... Như vậy, các thầy giáo thông thái hơn không phải nhờ kỹ năng hành động, mà vì họ có tri thức trừu tượng và biết các nguyên nhân. Nói chung, dấu hiệu của người thông thái là năng lực dạy...”4),
Xét về mặt lôgíc thì có thể vươn lên ngày một cao hơn nữa - lên các cấp độ tri thức ngày một khái quát hơn. Cấp độ khái quát cao nhất là “triết học thứ nhất”.
Aristốt chỉnh lý rất đáng kể khải niệm ý niệm hay eidos của Platôn. Ông khước tử quan niệm cuồng tín về sự tồn tại riêng biệt của thế giới ý niệm và của mỗi ý niệm tách rời khỏi vật: eidos của vật trước hết nằm ở trong bản thân nó.
Nó là một trong các nguyên nhân của vật và là bản chất của nó, tức là hình ảnh (eidos) của nó. Trong triết học phương Tây sau đó, danh từ “eidos” của tiếng Hy Lạp được phiên sang tiếng La Tỉnh thành danh từ “hỉnh dạng”. Tương ứng thì nguyên nhân thứ nhất được gọi là nguyên nhân hình đạng.
Nhưng, Aristốt đương nhiên đã không sử dụng tiếng La Tỉnh.
Ông không đưa ra một thuật ngữ nào mới so với ý niệm, hay
eidos của Platôn. Ông chỉ bổ sung một nghĩa mới vào thuật ngữ đã phổ biến. Do vậy sẽ là hợp lý hơn nếu gọi nguyên nhân đầu tiên ở Aristốt là nguyên nhân eidos khi đó không
Aristốt Tác phẩm gồm 4 tập, t †, tr. 66.
166 ĐẠI GƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
quên một nghĩa khác của tiếng La Tỉnh là “hình dạng”.
Nguyên nhân tiếp theo được Aristốt nêu ra là nguyên nhân vật chất. Hai nguyên nhân này cùng nhau quy định điều kiện và cơ sở cho sự tồn tại của vật và là đủ để giai thích thực tại ở trạng thái tĩnh, bất động. Thí dụ, một con người là vật chất (thịt, xương, v.v.) và tâm hồn xét tử góc độ hai nguyên nhân ấy. Nhưng, nếu xem xét nó như một cái xuất hiện và phát triển, thì có thể sẽ nảy sinh các vấn đề: ai sinh ra nó và tại sao nó lại phát triển và trưởng thành? Theo Aristốt, trả lời cho các van dé nay có nghĩa là tìm ra hai nguyên nhân nữa.
Thứ nhất, nguyên nhân vận động - trong trưởng hợp con
người là chỉ ra cha mẹ đã đem lại sự sống, và thứ hai, nguyên
nhân mục đích - xác định mục đích mà con người phát triển theo theo hướng đó. Aristốt gắn học thuyết về bốn nguyên nhân với học thuyết về tồn tại.
Nội dung của vấn đề về tồn tại ở Aristốt vẫn giống như ở các bậc tiền bối, trước hết là như ở Platôn. Mà chính là: một vật chỉ tồn tại khi và với điều kiện, khi sự tồn tại của nó là ảo tưởng, tức vật đó chỉ có cảm tưởng là tồn tại. Platôn đã phát hiện ra rằng tồn tại của một vật được quy định bởi, thứ nhất, ranh giới phác hoạ ra vật ấy, thứ hai, một nguyên tắc thống ' nhất gắn kết các bộ phận của nó thành một chỉnh thể, điều
này hàm ý chỉ sự phủ hợp lẫn nhau giữa các bộ phận. Aristốt đi xa hơn Platôn đáng kể khi ông trước hết đã xây dựng học thuyết về các loại hình tồn tại. Do vậy, ông xuất phát từ khả năng không phải của một mà của một số loại hình tồn tại. Có bốn loại hinh như vậy:
1. Tồn tại như phạm trủ
2. Tồn tại như thực tại và tiểm năng . 3. Tồn tại như cái ngẫu nhiên
4. Tồn tại như chân ly.
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 167
Chúng ta bắt đầu từ cái tương đối đơn giản và độc đáo nhất - zồn tại như chân lý. Tính độc đáo của Aristốt ở điểm này thể hiện ở chỗ ông tách biệt và biểu thị rõ cái mới chỉ được phác hoạ ra ở các bậc tièen bối. Trên thực tế, tổn tại chân thực và tồn tại theo nghĩa chung ở Platôn là trùng hợp và có quan hệ như nhau với thế giới ý niệm. Tính chân thực
hay không chân thực của tồn tại ở Aristốt là thuộc về trí tuệ con người. Nếu tư tưởng, ý niệm, suy luận, v.v. là chân thực thi chúng tồn tại. Sự giả dối không có đặc tính của tồn tại, tức nói chính xác hơn, tư tưởng giả dối không tồn tại, mà tạo ra ảo tưởng, vẻ bề ngoài của tồn tại. Tư duy giả dối không có tính toàn vẹn, tính nhất quán, tính chặt chẽ lôgíc, do vậy sẽ tan ra, bị hòa tan khi khảo cứu kỹ, tức sẽ biến thành hư vô, điều này chứng tỏ tính không tồn tại khởi thuỷ của nó. Sự giả dổi xuất hiện khi lý tính hợp nhất cái không hợp nhất được với tính thực tại và phân chia cái không phân chia được.
Nói cách khác, tư duy giả đối không nỗ lực làm sáng tỏ thực thể, tức cái cần phải là cơ sở của mọi sự hợp nhất; tư duy như vậy thật sự tác động một cách tuy tiện, do vậy hợp nhất không theo quy tắc nào, một cách tuỳ tiện. Không biết đến khái niệm thực thể, tư duy như vậy có khả năng phân chia, do,
- vay pha huỷ chỉnh thể một cách vô phép.
Tồn tại ngẫu nhiên: Mục dich của việc tách biệt loại hình tồn tại này, theo Aristốt, là ở chỗ đối tượng tổn tại trong trường hợp chung (ở đây nên sử dụng thuật ngữ “thực tồn”) khi có quy luật tồn tại của nó. Quy luật được hiểu là, thứ nhất, mối liên hệ có trật tự giữa các bộ phận của đối tượng với nhau, tính có điều tiết thể hiện ở quá trình biến đổi của đối tượng; thứ hai; đó là quy luật tương tác với các đối tượng khác, tổng thể của chúng và tối đa là với toàn bộ thế giới.
Nhưng, chỉ có thể xác định được quy luật khi có vô số trường hợp tương tác. Khi một cái gì đó diễn ra không thường xuyên,
168 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
liên tục và không chiếm ưu thế, như một tỉnh tiết ngẫu nhiên, thì mối liên hệ không mang tính bản chất. Thí dụ, tử sự kiện người này ngồi xuống ghế không thể suy ra mối liên hệ bản chất giữa người ấy và chiếc ghế. Tuy nhiên, Aristốt không:
tước mất của tồn tại ngẫu nhiên quyền được gọi là tổn tại.
Đồng thời ông cũng nhận xét rằng nó không thể trở thành
đối tượng của nhận thức khoa học, vì khoa học nghiên cứu
bản chất, - cái có thể trình bày như là quy luật. Nói chung, sự hiện điện của yếu tố ngẫu nhiên được Aristốt thừa nhận ở mọi nơi có nguyên nhân vật chất, tức có sự hiện diện của vật chất. Tồn tại ngẫu nhiên chỉ là biểu hiện cực đoan nhất của tính ngẫu nhiên, khi nó trở nên mang tính quyết định, loại bỏ những biểu hiện của eidos. .
Tổn tại như tiêm năng và hiện thục: Aristốt đưa vào khái niệm eidos, hay hình dạng, tất cả những gì quy định tồn tại của vật (tức đối tượng có thể được tư duy như một cái xác
định), cũng như điều kiện tồn tại của nó tử các phương diện khác nhau. Eidos trước hết hình thành, tức đem lại hình thức, cấu tạo, vật chất. Không có vật chất tuyệt đối xa lạ với hỉnh dang, tuyệt đối không có hình dạng hay vô hình: nếu tước
mất của nó tính cảm nhận được, tính hữu hỉnh là những cái '
cấu thành hình dạng của nó, các đặc điểm cảm tính hay tưởng tượng của nó, thi nó biến thành không tốn tại. Trên thực tế
‘chi có vật chất đã được hình thành, tức có hình dạng, vật chất thuộc một loài hay một loại nào đó. Vật chất tự thân nó chỉ là vật liệu của hình dạng, là khả năng hay tiềm năng của hình thức. Ngược lại, hình ảnh hay hình dạng cấu thành toàn bộ hiện thực hay năng lượng của vật chất. Trên thực tế, có sắt, đồng, đá, thực vật, động vật, v.v.. Nếu cố gắng tư duy
“vật chất nói chung”, thì hóa ra cũng cần phải tư duy nó dưới dang một tính quy định, một chất lượng nào đó. Hình dạng dường như thu hút vật chất vào minh như khả ¡ năng
của minh. :
DAI CUONG LICH SU’ TRIET HOC PHUGNG TAY 169
Thứ hai, tồn tại như tiém năng và hiện thực vạch ra eidos hay hình dạng không những như hình thức bên ngoai - hữu
hình và cảm nhận được, - mà còn như hình thức bên trong của bản chất. Thí dụ, nếu hình dáng bên ngoài là hình thức của pho tượng, thì tâm hồn là hình thức của cơ thể. Nội dung . của khái niệm trong cả hai trưởng hợp đều là một - đây là cái cấu thành tính toàn vẹn, tổ chức nó, quy định mục đích bên trong. Nhưng, tính chất của hình thức - bên ngoài hay bên trong - quy định phương điện bản chất của đối tượng. Sự hiện điện hinh thức bên trong phân biệt cái hữu sinh với cái vô sinh, cơ thể sống đang hoạt động với xác chết. Hình thúc bên trong của bản chất làm sáng tỏ cái mà Aristốt gọi là “cái gì” của vật, nội dung của nó, vật là gì, - “cải gì”. Vật chất là khả năng của “cái gì”, chính xác hơn là một dãy khả năng, nhưng dãy này không phải là vô tận, mà bao giờ cũng là xác định và hữu hạn. Tâm hồn là hỉnh dạng (“cái gì”) của con người và là “entelechia”, tức năng lượng của cơ thể.
Ton tại như phạm trù: Aristốt nêu ra các phạm trù cơ bản sau đây:
1. Thực thể hay bản chất . Chất lượng
. Số lượng . Quan hệ . Tac dong . Chiu tac dong . Vi tri
8. Thoi gian.
- Nội dung của loại hình tồn tại này là khẳng định khả năng
có thể quy toàn bộ tính đa dạng của các eidos về các lớp hay các nhóm chung nhất và xác định. Mỗi một nhóm đều có eidos cua minh va co thể được xem xét tự than no, không
SNA BP W
170 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TAY