Tinh da dang cia triét hoc

Một phần của tài liệu Đại cương lịch sử triết học phương tây (Trang 58 - 67)

50 BẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TAY

9. Tinh da dang cia triét hoc

Giống như trong nhiều lĩnh vực văn hóa và khoa học,

trong triết học cũng có vô số khuynh hướng và trưởng phái.

Song, khác với khoa học, mỗi nhà tư tưởng lớn trong triết học thường mang tính độc đảo tới mức học thuyết của ông ta có thể được coi như một khuynh hướng độc lập. Mặc dù

vậy các nhà nghiên cửu lịch sử triết học vẫn thường hợp nhất các học thuyết gần gũi nhau thành các nhóm xác định.

Điều này lại càng có cơ sở vì bản thân các nhà triết học thưởng tự mình ý thức được tính gần gũi hay tính kế thừa của các tư tưởng của mình với các quan điểm đã từng tồn tại.

Tính đa dạng của triết học trước hết thể hiện ở phương:

thức đặt ra các vấn đề. Không nên nghĩ rằng có một vấn dé định trước rồi nhiều thế hệ các nhà triết học chỉ giải quyết theo các cách khác nhau. Không hoàn toàn là như vậy vỉ trong nhiều trường hợp, các nhà triết học đặt ra các vấn đề theo các cách khác nhau. Những sự khác biệt về quan điểm thường xuất hiện ngay ở giai đoạn đặt vấn đề, do vậy cả những lời giải đáp là không so sánh được với nhau. Về thực

chất, đó là những giải đáp cho những vấn để khác nhau.

Chẳng hạn, khi suy ngẫm về thế giới nói chung, có thể đặt ra vấn để thực thể nào cấu thành cơ sở của nó. Khi đó nổi lên một vấn đề rất hợp ly là: thực thể ấy mang tính vật chất hay

ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 59

tỉnh thân? Song cũng có thể đặt ra vấn đề theo cách khác:

các lực nào cấu thành cơ sở của thế giới? Đương nhiên là vấn đề về tính vật chất hay tính phi vật chất (tinh thần) không có ý nghĩa đối với lực. Những biểu hiện của lực chỉ có thể cảm nhận được bằng cảm tính nhưng không phải là bản thân lực được cảm nhận như vậy, chúng ta không có kha nang nhìn thấy, sở thấy nó.

-_ Có các con đường khác nhau nhất trong việc tìm kiếm bức tranh triết học về thế giới. Khi đó nhưng vấn đề khác nhau có thể đóng vai trò những vấn để chủ yếu. Có thể đặt vấn để là có các quy luật phổ biến trong thể giới hay không.

Nếu có thi tính chất của chúng là gì? Chúng có phải là các quy luật động lực học hoàn toàn hay trong thể giới còn có các quy luật xác suất - thống kê? Các quy luật động lực học

được hiểu là các quy luật đòi hỏi mối liên hệ phụ thuộc đơn nghĩa giữ các tham số về khách thể. Các quy luật động lực học cho phép tính toán chính xác sự biến đối của khách thể chứ không phải là gần đúng. Các quy luật xác suất - thống kê chỉ cho phép tiên đoản sự biến đổi đó với một độ chính xác nhất định nào đó.

Có thể đặt ra vấn đề về tính hợp ly hay không hợp lý của, vũ trụ. Thửa nhận tính hợp lý của nó, chúng ta củng cố niềm tin của mình vào khả năng nhận thức được thể giới của lý tính con người. Không thừa nhận tỉnh hợp lý của thể giới, chung ta hoài nghỉ triển vọng nhận thức được thể giới hay hạn chế triển vọng này. Trong trường hợp khắc, nhà triết học có quyền giả định rằng một cái gì đó giống như ý chí con người có tác động và thể hiện trong thế giới. Y chí này định trước cuộc đấu tranh giữa các bộ phận cấu thành thế giới, quy định sự khái hoàn trong cuộc sống của những người có ý chi và tước mất sức sống cuả những người thiếu y chí..

Có thể đặt ra vấn đẻ về sự tác động của bản nguyên đạo đức 60 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

trong thế giới và trong xã hội và giả định rằng yếu tố đồng cảm có ở nhiều sinh vật chứ không phải là chỉ có ở con người.

Cũng có thể đặt ra vấn dé trên một phương diện hoàn toàn khác: phải chăng vạn vật đều có một thuộc tính phổ biến.

chẳng hạn như lưu giữ. truyền đạt và xử lý thông tin?

Trong lịch sử tư tướng triết học, đã từng có nhiều cách tiếp cận đa dạng nhất vẻ những đề tài căn bản của triết học.

Các đề tài chúng ta nêu ở trèn và vô số đề tài khác phần nào thể hiện những quan điểm khác nhau. Đương nhiên là khi đánh giá chúng, chúng ta không nên quy chúng về một phe nào đó thuần tủy theo tiêu chí tỉnh cảm (bạn - thù). Trong mọi trưởng hop, can lưu ý trước hết đến độ xác đáng và có cơ sở của chúng.

Đại đa số các nhà tư tướng, đặc biệt là các nhà tư tưởng lớn và có uy tín, đều là những người có tư duy tỉnh táo, có những suy luận và kết luận nhất quán và có cơ sở chặt chẽ.

Họ xa lạ với những ảo tưởng vỏ căn cứ, cũng như với chủ nghĩa duy thực ngây thơ là thứ chủ nghĩa không nhìn xa hơn những mục đích thiển cận nhất. Đặc điểm nổi bật của các nhà triết học lỗi lạc là họ có khả năng cảm nhận và thể nghiệm thấy rõ sự không hoàn hảo của thế giới, của con người và của xã hội. Cảm nhận thấy rõ những mâu thuẫn trong thế giới hiện thực, họ tìm kiểm con đường dẫn tới sự hoàn hảo và sự công băng. Lịch sử triết học biết đến tên tuổi của các nhà triết học kiên định tiến trỉnh tự nhiên của vạn vật là cái:

mà, rốt cuộc, sẽ dẫn tới sự hài hoà phổ biến, và tên tuổi của các nhà triết học dé cao lương tâm và lý tính của con ngudi.

Cuối cùng, số các nhà triết học thứ ba cố gắng hợp nhất hai

quan điểm nêu trên. Sự khác nhau trong việc lựa chọn con đường tất nhiên không thể được đem làm cơ sở để đặt đối lập tuyệt đối một số quan điểm này với một số quan điểm khác, một số nhà triết học này với một số nhà triết học khác.

DAI CUONG LICH SU TRIET HOC PHUONG TAY 61

Triết học cố gắng đạt tới tồn tại đích thực, khắc phục những khiếm khuyết và không hoàn hảo, ngăn chặn mọi mối nguy hiểm có thể xuất hiện, vạch ra con đường dẫn tới sự hài hoà và sự hoàn hảo. Song, có thể giải quyết nhiệm vụ này theo các cách khác nhau. Những sự khác nhau giữa các học thuyết triết học có thể thể hiện không những ở cách đặt vấn đề mà còn cả ở hệ đề tài.

Hệ đề tài chiếm ưu thế của một học thuyết nào đó thường do các đặc điểm của cách dat van dé định trước. Nhưng nó cũng có thể do các nhân tố khác quy định. Các nhân tố này bao gồm tính cấp bách đặc biệt của dé tài nào đó trong bối cảnh của thời đại và xã hội tương ứng, là các nhu cầu của sự phát triển xã hội, là các đặc điểm của nên văn hóa, là các thiên hướng và sở thích của bản thân nhà triết học. Các nhà ' triết học khác nhau đặt lên hàng đầu các đề tài khác nhau.

Đó có thể là các vấn đề của triết học xã hội hay của nhân học triết học, của siêu hình học, v.v.. Nhà triết học lớn thường khám phá ra một hệ đề tài hoàn toàn mới, chưa từng tồn tại trong bất kỳ hệ thống tri thức triết học truyền thống nào.

Cuối cùng, tính đa dạng của triết học thể hiện ở sự khác nhau về những tư tưởng căn bản và các kết luận tương ứng ' được rút ra từ học thuyết. Mỗi một quan điểm triết học sâu

sắc đều có hàng loạt tư tưởng căn bản, cấu thành hạt nhân,

cơ sở của nó: Xuất phát tử chúng, nhà triết học phát triển hàng loạt tư tưởng phái sinh và đưa ra các kết luận xác định.

- 10. Triét hoc va ca nhân

Mục đích nghiên cứu triết học tại các trường đại học trước hết nhằm nâng cao văn hóa chung cho người học. Cũng có thé dé cập tới việc hình thành nhân cách trong quá trỉnh xây _ dựng văn hóa triết học. Văn hóa triết học của cá nhân được - hiểu là việc nắm bắt được một lượng tri thức triết học nhất

62 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIET HOC PHUONG TAY

định và khả năng áp dụng những tri thức ấy trong hoạt động hàng ngày, nghề nghiệp và trong hoạt động xã hội.

Việc nghiên cứu triết học góp phần nâng cao văn hóa chung và hình thành văn hóa triết học của cá nhân như thế nào? Điều này được thực hiện thông qua giải quyết hàng loạt nhiệm vụ. Chúng tôi xin lưu ý tới những nhiệm vụ cơ bản trong số đó là:

- Nhiệm vụ làm cho ý thức trở nên quảng bác hơn;

- Nhiệm vụ hình thành thói quen tư duy có phê phán;

- Nhiệm vụ hỉnh thành nhân cách độc đáo.

Nhiệm vụ làm cho ý thức trở nên quảng bác hơn xuất hiện do có tác động của hàng loạt nhân tố tạo ra nguy cơ làm cho ý thức trở nên thiển cận hơn. Việc làm cho ý thức trở nên thiển cận hơn là việc thường xuyên chỉ tập trung vào một đối tượng hay một để tài và chỉ xem xét mọi vấn đề khác từ giác độ ý nghĩa của chúng đối với đối tượng hay đề tài ấy. Ý thức thiển cận có nghĩa là sự thiếu vắng tính độc lập tương đối của các lĩnh vực đời sống tinh thần. Con người không đơn giản bị “giam cảm” ở một vấn để mà còn xem xét mọi vấn để khác như là những vấn đề lệ thuộc vào một mình vấn , để ấy. Con người nhận thấy mọi thứ chỉ là những biểu hiện khác nhau của cùng một thứ. Việc làm cho ý thức trở nên thiển cận có thể dựa trên bất kỳ một tư tưởng hay một đề tài nào. Song, nó thường găắn liển với sự chuyên môn hóa nghề nghiệp của con người.

Tính đặc thù nghề nghiệp thường in dấu ấn sâu đậm ở bộ mặt tinh thần của con người. Sự chuyên môn hóa là không thể

thiếu một số đặc điểm tiếp cận của con người với những hiện

tượng bao quanh. Chẳng hạn, do có sự đặc thù của công việc, cán bộ của các cơ quan bảo vệ luật pháp bắt đầu vô tình hoài nghi mọi người là phạm nhân, còn bác sĩ thường nhận tấy biểu hiện của bệnh tật trong hành vi và bộ mặt của con

ĐẠI GƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 63

người, các nhà kinh tế học tính toán hiệu quả kinh tế ở khắp

mọi nơi, v.v.. Việc lầm cho ý thức trở nên thiển cận cho phép con người đạt được thành công trong hoạt động nghề nghiệp của mình. nhưng nó cũng làm cho thế. giới nội tâm của con người trở nên nghèo nàn, phiến diện và méo mó. Để vô hiệu hóa những hậu quả tiêu cực của quá trình làm cho ý thúc trở nên thiển cận thi cần phải có một nhãn quan quảng bác, vượt ra khỏi khuôn khổ của những gì có liên hệ trực tiếp với nghề nghiệp và với những sự quan tâm đời thường.

Con người không thể sống thiếu sự giao tiếp với người khác. Và, nếu tính thiển cận của ý thức là chính đáng để làm chủ những thói quen nghề nghiệp, thì ngược lại, tính quảng bác của nó lại cần cho sự giao tiếp. Trong giao tiếp, con người thể hiện không những là một chuyên gia mà còn là mot nhan cách toàn vẹn. Thậm chỉ tại nơi làm việc, con người

cũng cần phải tiếp xúc không những với các đồng nghiệp mà còn với những người khác về nghề nghiệp, về địa vị xã hội. về thành phần dân tộc, v.v.. Để có được sự giao tiếp có day đủ giá trị thi cần phải biết cách thấu hiểu người khác, cần phải có thói quen tự đặt mỉnh vào địa vị của người khác và biết cách nhìn nhận minh từ bên ngoài. Chính các thói quen tư duy triết học giúp đỡ chúng ta trong việc giải quyết van dé nay.

Tính đa dạng của các tư tưởng và quan điểm triết học là trạng thái bình thường của tiến trình triết học. Cải phông đa đạng ấy cho phép chúng ta tự do lựa chọn chứ không phải tự khép mình lại trong một lược đồ định trước. Triết học cần phải khước tử mong muốn trở nên mang tính giáo huấn, - chính Hêghen cũng đã từng có nhận xét như vậy. Cuộc sống của các tư tưởng triết học là thường biến và không hoàn hảo như cuộc sống mà Chung ta nếm trải, trong nó bao giờ cũng còn có một cái gì đó còn cần phải được khám phá ra. Chính vì vậy mà chúng ta có thể “hội ngộ” với cuộc sống lịch sử của triết 64 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

học. Khi đó ý nghĩ của các nhà tư tưởng quả khứ hiện ra với chúng ta không phải như là chân lý tuyệt đối, mà như là các quan điểm có thể có của những người khác.

Không nên quy tất cả những học thuyết đa dạng trong quá khử về một khuôn mẫu nào đó và sắp xếp chúng theo cấp bậc cao thấp. Với cách tiếp cận như vậy thì vô tình thời đại chúng ta sẽ được nâng lên cấp “thời đại mới”, so với nó thì toàn bộ quá khứ chỉ là những điều không đáng kể. Song, chúng ta không có quyền cho rằng lịch sử đích thực chỉ bất đầu từ chúng ta. Để vượt lên trên quá khứ, không được đánh mất mối liên hệ của mình với nó. Chúng ta cần phải biến quá khứ thành tài sản của hiện tại và tương lai. Không cố gắng bắt đầu “một thời đại mới chưa từng thấy” từ bản thân mình, chúng ta có thể thực sự đạt được một cái gì đó vì chúng ta dé ra những yêu cầu đối với bản thân mình chứ không phải đối với các bậc tiền bối. Việc thừa nhận tiền để như vậy cho phép chúng ta hiểu được tại sao trong triết học có cái gọi là những vấn đề vĩnh cửu mà nhiều thế hệ các nhà tư tưởng đều suy ngẫm về chúng. Các cách đặt ra và giải quyết vấn đề trong quá khứ không phải là chân lý tối cao song cũng

không thể không được quan tâm đến. Việc nghiên cứu triết _

học cùng với việc có tính đến tính đa dạng của các trường ' phái và các trào lưu củng tồn tại và cạnh tranh sẽ là nguồn gốc của kinh nghiệm tinh thần. Việc nghiên cứu như vậy .góp phần làm cho ý thức trở nên quảng bác hơn. . Việc hình thành thói quen tư duy có phê phán bắt nguồn từ đăng lực hoài nghi của con người. Dựa vào câu cách ngôn cổ “Hãy hoai nghi tat ca”, hay X6crat da nhấn mạnh tính

phê phán như một đặc điểm không tach roi được của mọi tư duy độc lập. Triết học hiện đại thừa nhận vai trò tích cực của hoài nghi trong nhận thức. Tất nhiên là bất kỳ một câu nói nghiêm túc nào cũng không thể thiếu việc nghiên cứu xem các hình thức tổn tại mà chúng ta biết rõ, có căn cử ở chừng

ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC.PHƯƠNG TÂY. 65

mực nào. Việc hoài nghi đối với những gi chúng ta đã biết và có cảm tưởng là hiển nhiên, sẽ làm chúng ta nghiên cứu sâu sắc hơn. Hoài nghỉ cần phải thức tỉnh “lý tính luận chiến”

trong chúng ta. Song, không nên dừng mãi ở giai đoạn hoai nghi, cần phải đi xa hơn nữa trong việc tìm kiếm giải pháp tích cực. Những hoài nghi và dao động liên tục lại là sự bế tắc vô bổ. Con đường dẫn tới chân lý sẽ bị chặn đứng do có sự hoài nghỉ và sự tự đày vò tỉnh thần không dứt. Theo Berdiaep, những dao động liên tục là nguyên nhân cản trở ra quyết định kịp thời, làm chậm chê việc rút ra kết luận xác định.

Việc hình thành nhân cách độc đáo có liên hệ trực tiếp với các đặc điểm của tri thức triết học, cụ thể là với sự định hướng của nó vào bề sâu tâm hồn con người và những cơ sở tinh than cua tồn tại người.

Người nào quyết định nghiêm túc nghiên cứu triết học và độc lập suy ngầm, thì cũng nên nhớ rang minh sé vap phai những trở ngại và phản bác của một số người. “Thế giới không đồng cảm với bất kỳ một điều gi sâu sắc”. Đa số mọi người có thái độ dè chừng với mọi cái độc đáo, sâu sắc, nhất quán về mặt phương pháp, song cũng không t Š sống thiếu chúng. Mọi thành tựu của loài người đều dựa trên cá tính kiên định của cá nhân, trên những nỗ lực độc lập của cá nhân, điều này không những không loại trừ mà, ngược lại, còn đòi hỏi sự hợp tác và tỉnh đoàn kết của mọi người.

Sự cảm nhận chính xác và tư duy có tập trung, không lệ thuộc vào ý kiến thường biến của người khác, cần phải đi

liền với việc nghiên cứu triết học một cách nghiêm túc và co căn cứ. Việc nghiên cứu như vậy có nghĩa là vận động theo con đường lựa chọn có ý thức và độc lập, con đường thể nghiệm tinh than mà nếu thiểu thì không thể có được nhân cách. Tiến

trình triết học hiện thực diễn ra trong sự im lặng của tâm hồn, trong sâu thắm tâm hồn cô độc. Việc nghiên cứu triết học cũng nhằm giúp hình thành nghệ thuật sống trong một thế

66 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

Một phần của tài liệu Đại cương lịch sử triết học phương tây (Trang 58 - 67)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(720 trang)